Chọn cây bút thay vì gươm đao truyền thống

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 101 - 109)

Chương 3. Đào Nguyên Phổ trong dòng chảy văn chương những thập niên cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

3.2. Sự lựa chọn của Đào Nguyên Phổ

3.2.2. Chọn cây bút thay vì gươm đao truyền thống

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự phân hóa trong đội ngũ nhà nho nước ta diễn ra mãnh liệt hơn bao giờ hết. Có thể dẫn ra cuộc đời, hành trạng của các nhà khoa bảng tiêu biểu để thấy được những khó khăn trong lựa chọn các hành xử: Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh, Phan Châu Trinh

Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền đều là hai người cùng thế hệ với Đào Nguyên Phổ, đều là những người thông minh, có tài, đỗ đạt cao, được nhiều người vị nể. Và điều quan trọn nhất là cả hai vị này đều yêu nước một cách nồng nàn nhưng có phần nóng vội. Phan Bội Châu- có lẽ do ảnh hưởng bởi yếu tố quê hương- nên có “bầu máu nóng không vừa”. Ông đã mang bầu máu nóng đó của mình đi khắp nơi và tụ hợp được một lực lượng khá đông đảo các dư đảng Cần vương và cả các tay “lục lâm thảo khấu”, thành lập một tổ chức cứu nước mới. Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu

kỹ tình hình, Phan Bội Châu quyết định sang Nhật để xin viện trợ, giúp đỡ.

Ông đã tổ chức nên phong trào Đông du, đây “là sự toan tính của những người yêu nước tiếp tục theo đuổi việc giành lại độc lập dân tộc bằng phương pháp bạo lực, bằng đấu tranh vũ trang”[78; tr. 135]. Nhóm này gặp rất nhiều khó khăn vì bị chính quyền thực dân truy lùng gắt gao, cấm mọi hoạt động liên lạc, viện trợ cần thiết. Thậm chí người thân, họ hàng của họ còn bị liên lụy. Lúc đầu, nhóm này còn được các tổ chức “phi chính phủ” của Nhật giúp đỡ nhiệt tình nhưng sau đế quốc Nhật cấu kết với thực dân Pháp tiến hành triệt để việc trục xuất những người Việt Nam trên đất Nhật. Thân phận của những người Đông du lưu vong trên đất Nhật hết sức khốn đốn. Bản thân Phan Bội Châu cũng nhiều lần đi đi về về giữa các địa điểm như Nhật, Trung Quốc, Việt Nam nhưng sau cùng cũng bị thực dân Pháp bắt cóc đưa về nước vào ngày 30/6/1925. Bao nhiêu năm bôn ba, tung hoành đây đó, làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị Việt Nam vậy mà mười lăm năm cuối đời phải sống trong cảnh “cá chậu, chi lồng”, làm một “ông già Bến Ngự” già nua, đói nghèo, bệnh tật, với những thị phi eo xèo của cuộc sống hàng ngày.

Nguyễn Thượng Hiền- người “tiều phu trẻ núi Nưa”, người bạn tâm giao đồng thời là người có vai trò quan trọng trong cuộc đời Hoàng Giáp Đào Nguyên Phổ cũng có những lựa chọn tương tự con đường Phan Bội Châu đã chọn. Với vị trí quan trọng, được coi là một kim chỉ nam cho các sĩ phu đương thời noi theo, Nguyễn Thượng Hiền đã đi theo con đường xuất dương sang Nhật của Phan Bội Châu để rồi sống những tháng năm cuối cùng của cuộc đời trong một ngôi chùa nơi đất khách với tâm trạng vô vọng, với niềm nhớ thương đất nước vô bờ bến

Phan Châu Trinh ra đời sau mười ba năm khi ba tỉnh miền Đông rồi miền Tây Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp. Mười tám tuổi đã theo chân cha, sống cuộc sống của một nghĩa quân trong cuộc nổi dậy của Nguyễn

Duy Hiệu. Những tháng ngày rèn luyện võ nghệ không khiến Phan Châu Trinh đi theo con đường vũ trang bạo lực, đặc biệt là sau cái chết oan của cha.

Theo nghiệp đèn sách muộn màng, năm 1901, sau khi đỗ Phó bảng kỳ thi Hội, Phan Châu Trinh vào triều làm thừa biện bộ Lễ. Trong thời gian dùi mài đèn sách và cả khi làm quan, Phan luôn tìm cách kết giao với những bạn tâm giao, những đồng chí như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, và cùng tìm đọc tân thư. Sau hai năm làm quan, ông từ chức và chính thức dấn thân vào công cuộc tìm đường cứu vong cho dân tộc. Sau nhiều lần vào Nam ra Bắc, xuất dương, tìm hiểu và phân tích kỹ tình hình, Phan Châu Trinh quyết tâm theo chủ trương “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, thực hiện bằng con đường bất bạo động. Phan Châu Trinh được xếp vào hàng ngũ những người đề xướng tư tưởng dân chủ đầu tiên và kiên trì ở Việt Nam. Chính vì vậy mà trong tang lễ của ông, Phó bảng Nguyễn Sinh Huy đã có đôi câu đối viếng:

Nam quốc dân quyền tiên tổ chức Nam phương tịnh độ hậu siêu sinh

(Ở nước Nam ông là người tổ chức phong trào dân quyền trước tiên, Về phương Nam ông là người đi sau siêu thoát)[78; tr. 213]

Phan Bội Châu, người được đánh giá là “cặp đôi hoàn hảo” với Phan Châu Trinh, cũng có bài văn tế có những câu thơ rất chính xác về Phan Tây Hồ:

“Cậy tân học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa

Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân len lỏi đường mới

Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói”[78; tr. 214]

Chu Mạnh Trinh, người sinh sau Đào Nguyên Phổ một năm, cũng là người sống trọn trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta. Được dạy dỗ chu đáo nền Hán học ngay từ nhỏ, thuận lợi trên con đường khoa cử và hoạn lộ, nhưng khi đang ở trên đỉnh của danh vọng thì đất nước rơi vào nghịch cảnh éo le. Làm quan nhưng Chu Mạnh trinh lại quan tâm nhiều đến xướng ca, đến thơ từ, xướng họa và vãn cảnh chùa, bị đánh giá là vị quan bất tài ham vui, bỏ bê việc nước. Sau hơn mười năm làm quan, sống cuộc đời của vị quan Án sát tẻ nhạt và đầy tai tiếng, Chu Mạnh Trinh cáo quan dưỡng bệnh. Hai năm sau ông mất, hưởng thọ 43 tuổi, trước đó không lâu, ông tham gia và đoạt giải nhất thơ Nôm cuộc thi Vịnh Kiều tháng 3 năm 1905 do Lê Hoan tổ chức.

Tóm lại, đã có nhiều sự lựa chọn trong cách hành xử của các nhà nho khi cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta diến ra quyết liệt mà vẫn nhận nhiều thất bại đau đớn. Hy vọng vào sự viện trợ của người anh em đồng chủng đồng văn, quyết tâm theo con đường truyền thống vũ trang bạo động để nhanh chóng đánh đuổi “rợ Tây dương”. Theo con đường hoàn toàn mới, thực hiện cải cách xã hội, cải thiện dân trí, dân sinh nhằm nâng cao đời sống và thực hiện cuộc cách mạng dân quyền. Hay bỏ bê tất cả, “ngoảnh mặt làm ngơ” trước tất cả cuộc đời xô bồ để chạ trốn vào thiên nhiên, để ca ngợi phong cảnh thiên nhiên đất nước….Tất cả đều kết thúc mà chưa tìm ra đáp án cuối cùng. Tất cả đều bị cuốn xoay trong cơn bão táp mà càng cố sức vùng vẫy lại càng bị cuốn đi mạnh hơn. Các nhà nho đi tìm đáp án của lịch sử đều bế tắc trong vô vọng

Cần nhận thức sâu sắc, toàn diện và đánh giá đúng sự lựa chọn của những “người đương thời” trước tình thế xã hội Việt Nam lúc đó, một tình thế

“tiến thoái lưỡng nan” “chiến không nổi, thủ không xong, hòa không được, hàng thì mất hết”. Những ngưới sáng suốt tâm huyết tiến gần tới một lựa chọn có tầm “viễn kiến chính trị”: kêu gọi duy tân để tự cường.

Căn cứ vào sức khỏe bản thân, vào gia đình, vào tình hình thời cuộc, Đào Nguyên Phổ đã lựa chọn văn học, văn hóa làm địa hạt để đấu tranh cho dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội. Đây là một hình thức đấu tranh hợp pháp, được chính quyền bảo hộ cho phép nhằm từng bước thoát khỏi sự ràng buộc của văn hóa, văn học Trung Quốc. Lợi dụng sự cho phép đó, Đào Nguyên Phổ cũng như các nhà nho chí sĩ khác cùng chí hướng đã làm được nhiều việc có ích cho công cuộc canh tân của đất nước.

Là một nhà văn, nhà báo, nhà giáo, lựa chọn con đường đấu tranh công khai hợp pháp, hẳn Đào Nguyên Phổ đã có rất nhiều nghĩ suy, tính toán, cân nhắc. Sinh ra và lớn lên khi đất nước hoàn toàn bị rơi vào tay giặc, ngay sau khi thi đỗ tú tài, Đào Nguyên Phổ đã bôn ba nhiều nơi, được tiếp xúc và nghe nhiều về những con người anh hùng nghĩa khí, về những phong trào yêu nước nên trong lòng không khỏi dậy lên những trăn trở về tình hình đất nước, quê hương. Những tấm gương anh hùng hi sinh vì cuộc kháng chiến gian khổ liên tiếp xuất hiện. Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng…Họ là những anh hùng nhưng là những anh ùng thất bại, sự hi sinh của họ không phải là hoàn toàn vô ích nhưng sự bế tắc về đường lối thì ngày càng rõ rệt. Khi phong trào Cần Vương kết thúc là lúc Đào Nguyên Phổ đang ở Huế- kinh đô văn hóa của đất nước và cũng là lúc Tân thư như một làn gió mới tràn vào nước ta, gợi mở ra nhiều lựa chọn cho con đường cứu nước.

Những người có “bầu máu nóng không vừa” thì kiên quyết đi theo con đường bạo động theo kiểu học thức (đông du) như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành… và nhiều du học sinh khác. Thân phận của những người Đông du lưu vong trên đất Nhật hết sức khốn đốn. Những người có trái tim nóng nhưng có khối óc lạnh, tỉnh táo thì nhận ra rằng “Bất bạo động, bạo động tắc tử; chớ vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”(Chớ bạo động, bạo động thì chết; chớ vọng ngoại, vọng ngoại là ngu)(Phan Châu

Trinh). Họ giữ một lập trường nhất quán, kiên quyết phản đối những hoạt động của “ám xã”, lập ra phe “minh xã”, tiến hành đấu tranh cho dân chủ, cải cách văn hóa, canh tân đất nước. Nhóm này cũng đã làm được một số việc như buộc thực dân Pháp phải tiến hành một số nhượng bộ, cải cách về kinh tế, văn hóa. Nhưng càng ngày, “minh xã” càng có những dấu hiệu của đường lối cải lương, thỏa hiệp nên không giúp cho việc thực hiện quyền tự do dân chủ được triệt để. Giữ thái độ trung lập, dung hòa cả hai phe là Đông Kinh Nghĩa Thục, một tổ chức cách mạng văn hóa đã đề cập đến ở chương hai. Tuy là trung lập nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn có những tiêu chí hoạt động gần về phía “minh xã”. Đào Nguyên Phổ hoạt động trong Đông Kinh Nghĩa Thục, viết văn, viết báo để cổ động cho chữ quốc ngữ, cổ vũ cho phong trào duy tân, chống cựu học cổ súy tân học. Văn học, văn hóa là những phương tiện lợi hại - không phải hi sinh xương máu, không phải đầu tư nhiều về cơ sở vật chất kỹ thuật - mà chúng ta có để chống Pháp. Các nhà lãnh đạo các phong trào, các sĩ phu văn thân yêu nước đã lợi dụng những đại hạt hợp pháo này để kích động quần chúng yêu ước, ghét giặc, tố cáo mọi âm mưu của chúng về kinh tế, xã hội, giáo dục, châm biếm nhứng cái lố lăng của thời đại hay công khai hô hào vận động canh tân trong sinh hoạt.

Xét tới hoàn cảnh và vị trí của Đào Nguyên Phổ lúc đó, có lẽ đây là một nhận thức sáng suốt và một quyết định hành xử, đúng đắn, không thể đúng hơn. Chọn con đường vận động duy tân, cổ động cho ý thức nỗ lực tự cường, vì tiến bộ xã hội và dân chủ hóa đã phát huy hết khả năng của Đào Nguyên Phổ trong công cuộc canh tân đất nước.

* * *

Tiểu kết chương 3

Xã hội Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một xã hội giao thời trên rất nhiều bình diện. Sự va chạm, tiếp xúc văn hóa Đông Tây đã làm xuất hiện nhiều cái mới và tác động sâu sắc đến đời sống nhân dân. Sự đa dạng, phức tạp của xã hội đã khiến cho văn học và chính trị phân chia thành nhiều xu hướng, nhiều đường lối khác nhau. Với văn học, bốn dòng văn học chính được chú ý trong thời gian này là dòng văn học yêu nước, dòng văn học trào phúng, hiện thực phê phán, văn học nô dịch và dòng văn học lãng mạn thoát ly, khoái lạc chủ nghĩa. Cả bốn dòng văn học này đều là sự tiếp tục của những dòng văn học những giai đoạn trước và làm nền tảng cho sự phát triển của những gia đoạn sau. Tuy nhiên, do những điều kiện đặc thù của xã hội mà cả ba dòng văn học này đều có những yếu tố giống và khác với những giai đoạn trước và sau nó. Trong bốn dòng văn học đó thì văn học yêu nước là dòng văn học chính, chiếm số lượng đông đảo về tác giả, tác phẩm, độc giả và cũng khẳng định được những giá trị cao về chất lượng. Tình hình chính trị cũng được phân chia thành ba khuynh hướng là phe “minh xã”

của Phan Châu Trinh, “ám xã” của Phan Bội Châu và tổ chức trung lập là Đông Kinh Nghĩa Thục.

Trước sự khủng hoảng cả về ý thức hệ, tư tưởng và đặc biệt là đường lối, việc lựa chọn được một hướng đi đúng đắn để vừa “ích nước” vừa “lợi nhà” của mỗi người dân Việt Nam không phải là dễ, đặc biệt là đối với các sĩ phu- những đối tượng được coi là trí thức, được coi là những người tiên tri tiên giác của nhân dân. Khi cả xã hội đều được ví như một phòng thí nghiệm khổng lồ thì mỗi cá nhân đều được coi như một nhà khao học, sáng chế, nghiên cứu tìm tòi ra những đường hướng ứng xử riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, tình hình và năng lực bản thân. Đào Nguyên Phổ đã lựa chọn con đường cải cách văn hóa, canh tân sinh hoạt, cổ vũ yêu nước… và phần

nào đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong giai đoạn giao thời phức tạp đó. Vừa là nhà văn, nhà văn hóa, nhà giáo dục, Đào Nguyên Phổ đã luôn luôn nỗ lực hết mình, tìm tòi, đổi mới để đóng góp được nhiều nhất vào cuộc cách mạng văn hóa, văn học, tư tưởng những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX của đất nước ta.

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 101 - 109)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(118 trang)
w