Chương 1. Tiểu sử và những bước chuẩn bị cho sự nghiệp
1.3. Đến một nhà nho có tư tưởng canh tân
1.3.1. Tiếp thu tân thư.
Xã hội Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước đến thế kỷ XIX luôn luôn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Cái bóng của người hàng xóm to lớn ảnh hưởng đến nước ta, chi phối xã hội ta về tất cả các mặt. Điều đó không có gì lạ bởi Trung Quốc là cái nôi văn hoá lớn của vùng Đông Á, không chỉ Việt Nam mà cả các nước khác như Nhật Bản, Triều Tiên đều chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng mọi thiết chế của bộ máy xã hội đều có thể trở nên cũ kỹ, han gỉ, mốc meo nếu không được thay đổi. Ý thức hệ Nho giáo đã đi hết một chu trình của nó, làm hết những vai trò mà lịch sử giao phó cho nó. Khi xã hội có những biến thiên quá lớn mà Nho giáo lại quá lỗi thời không thể đứng ra giải quyết được, trở thành vô dụng thì chính những người trong cuộc, những người từ trước tới nay vẫn dùi mài kinh sử nơi cửa Khổng, sân Trình đã đọc điếu văn từ biệt Nho giáo. Giờ đây yêu nước không phải là trung với vua như Khổng Tử dạy nữa, mà yêu nước phải theo tư tưởng mới: duy tân. Duy tân, học theo các nước văn minh Âu Mỹ để đưa đất nước tiến tới độc lập, tự do.
Để tiến tới mục đích đó có nhiều con đường song hầu hết đều được bắt nguồn từ việc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với văn minh phương Tây. Sự tiếp xúc trực tiếp chỉ một số ít người được trải nghiệm, còn lại đa số là tiếp xúc gián tiếp qua sách báo từ nước ngoài, những sách báo mang nội dung mới mẻ.
“Tân thư là danh từ để chỉ chung những tài liệu, thư tịch sách vở được các học giả Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên biên sạon hay dịch thuật bằng chữ Hán, giới thiệu những tri thức và cung cấp những thông tin về những gì trước hết thuộc Châu Âu hay thuộc về thế giới nói chung, vượt ra ngoài giới hạn mà những gì cổ tịch- những tài liệu sách vở được trước tác trong khuôn khổ truyền thống khu vực, trong đó chủ yếu là những gì mà Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đề cập. Cũng trong phạm vi tân thư là những trước tác của các tác
giả Việt Nam như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ…đề cập đến những vấn đề của quốc tế, những chuyện thời sự cấp thiết của quốc gia…nghĩa là vượt ra ngoài, vượt lên trên những giới hạn tri thức, kinh nghiệm và giải pháp mà nhà nho cựu học truyền thống đã hay có thể biết tới”[78; tr. 73,74]. Đây có thể coi là một cách nói khái quát nhất để chỉ về phạm vi của những thứ được gọi chung là tân thư.
Một trong những người Việt Nam biết đến những thư tịch có nội dung
“tân thư” sớm nhất là Lê Quý Đôn. Nhận thấy những giá trị to lớn của những thư tịch này nên ông đã mang về nước một số tân thư trong những năm 1767- 1768 khi đi sứ Trung Quốc, nhưng khi đi qua biên giới Trung Quốc đã bị tịch thu hết. Ở Việt Nam các vua Nguyễn từ Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức đều quyết liệt cự tuyệt văn hoá cũng như những tri thức, thông tin về phương Tây. Nhưng trải qua một thời gian dài của lịch sử, trước những thất bại to lớn, đau đớn của triều đình cũng như các phong trào đấu tranh chống Pháp, Tân thư mới được “quan tâm nhìn nhận và tuyên truyền sôi sục” tất nhiên là nằm ngoài sự cho phép của chính quyền bảo hộ.
Nguyễn Lộ Trạch chính là người đi đầu trong truyền bá Tân thư và đồng thời đề nghị tiến hành cứu nước theo một đường lối khác bởi ông nhận thức rất sáng suốt, đúng đắn rằng: “không thể coi thường mạng dân, không thể nhắm mắt đui mù trước tương quan lực lượng hai bên, đối phương đang chiếm được những điểm chiến lược trọng yếu, lập đồn luỹ kiên cố, còn ta toàn bộ lực lượng tê liệt, tiêu điều sau lần vươn dậy cuối cùng của phong trào Cần Vương. Những lãnh tụ chết, những đạo quân tinh nhuệ tan rã, những chiến khu bí mật bị phá vỡ, những đồn điền kho lương bị thiêu rụi, lòng người hãi hùng trước vũ khí Tây phương. Trong tình trạng không còn hậu phương, một căn cứ tạm gọi là an toàn, một biên giới bạn để ẩn náu, thì dù có giỏi đến mức
độ nào cũng chỉ như Đề Thám, Phan Đình Phùng là cùng”(Chuyển dẫn theo Trần Ngọc Vương)[78; tr. 81,82].
Sau Nguyễn Lộ Trạch, ở kinh đô Huế, các nhà khoa bảng trẻ tuổi tài cao, ưu thời mẫn thế như Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Phú Đường, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Đào Nguyên Phổ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp… lần lượt chuyền tay nhau những cuốn Tân thư để mưu đồ sự nghiệp cứu nước cứu nhà vào những năm đầu thế kỷ XX (1901-1902). Trong số những người vừa được xướng tên đây thì Đào Nguyên Phổ chính là người được tiếp xúc với Tân thư sớm nhất.
Sau khi ký hai hiếp ước đầu hàng giặc là Hacmăng và Patơnôt, triều đình Huế lại tiếp tục mở các khoa thi và tiến hành đều đặn các khoa thi ấy.
Rất nhiều những ông cử lại ồ ạt kéo về kinh để ôn luyện kinh sử chờ thi Hội ở Quốc Tử Giám. Trong số đó có những người đơn thuần theo tư tưởng Nho gia cổ truyền: đi học, đi thi rồi ra làm quan để vinh thân phì gia, rạng danh dòng tộc. Trong số đó cũng có không ít người mang theo những tâm trạng kích động vì phong trào duy tân, mong muốn có danh vọng, uy tín để hoạt động cứu nước. Một trong những người có uy tín lớn nhất ở kinh đô Huế lúc bấy giờ là Nguyễn Thượng Hiền bởi cả tài năng, phẩm chất và những mối quan hệ mà ông có, vị trí trong xã hội ông đã tạo dựng được. Chính vì vậy ông đã là đầu mối chính, là người mà hầu hết những người có chí hướng yêu nước đều tìm đến để trao đổi, đi lại. Ông cũng là người có vai trò quan trọng trong việc truyền bá Tân thư giai đoạn này.
Năm 1895, khi gặp gỡ và kết giao với Nguyễn Thượng Hiền, chính
“người tiều phu trẻ núi Nưa” này đã đưa ra những lời khuyên rất bổ ích cho Đào Nguyên Phổ. Vị Hoàng giáp họ Nguyễn đã phân tích cho Đào Nguyên Phổ thấy được nhiều lợi ích của việc tiếp tục học tập, mà phải là học ở kinh đô- trung tâm chính trị quan trọng đối với sĩ dân Việt Nam. Trường học đầu
tiên được xây dựng ở kinh đô cũng là trường có lịch sử lâu đời nhất ở Việt Nam chính là trường Quốc học. Trường được thành lập vào thời vua Minh Mệnh. Lúc đầu trường có tên là Quốc Tử học, là chỗ dạy dỗ cho các hoàng tử và con cái các vị đại thần. Sau đó trường là nơi học cho các thí sinh chuẩn bị thi đại khoa nên đổi tên là Quốc Tử Giám.
Học trường Giám chưa lâu, Đào Nguyên Phổ đã khẳng định được tên tuổi bằng chính khả năng của mình. Đã từng đỗ cử nhân năm 17 tuổi, từng làm cả học quan và đường quan, từng đi dạy học khắp đó đây, lại có khiếu ứng đối linh hoạt, học giỏi nên Đào Nguyên Phổ được nhiều người chú ý, yêu quý. Dù đã có vợ con ở quê, ở Nam Định nhưng Đào Nguyên Phổ vẫn lọt được vào “tầm ngắm” của quan Tế Tửu. Việc này không những tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp học hành của Đào Nguyên Phổ mà còn là cánh cửa chính để Đào Nguyên Phổ đón nhận những “cơn gió lạ” mát lành. Cũng trong thời gian này, ông kết giao thêm với một số sĩ phu yêu nước có tư tưởng đổi mới như bộ ba “Tam hùng đất Quảng” là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Nhờ vậy mà nhãn quan chính trị của ông được mở rộng, nhận thức chính trị phát triển theo xu hướng tiến bộ một cách mạnh mẽ, dứt khoát hơn.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Tân thư đang tràn vào nước ta một cách lặng lẽ nhưng lại có tác động lớn, làm khuynh đảo đời sống tinh thần của giới sĩ phu và là tiền đề chính cho cuộc vận động duy tân trong những năm 1903-1908. Người ta cố gắng tìm đọc Tân thư, cố gắng đẻ sở hữu những tri thức quý đó nhưng không phải ai cũng dễ dàng có được trong thời buổi khó khăn ấy. Vậy mà Đào Nguyên Phổ bỗng dưng lại “lọt” được vào nơi có nhiều Tân thư nhất nước ta hồi đó: nhà của quan Tế Tửu Quốc Tử Giám.
Thế là nghiễm nhiên khi nhiều người mới rỉ tai nhau về việc xuất hiện những cuốn sách kỳ lạ (kỳ thư) thì Đào Nguyên Phổ đã được đọc chúng. Những tên
tuổi như Lư Thoa (Rousseau), Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi…với những tư tưởng, tác phẩm của họ đã chiếm vị trí đáng kể trong suy nghĩ của Đào Nguyên Phổ cũng như giới sĩ phu hồi đó.
Đào Nguyên Phổ đã được đọc Tân thư trước cả những lãnh tụ của những phe phái lớn chống Pháp như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…
Mặc dù sau này cả hai đường lối cứu nước của hai cụ Phan áp dụng ở Tân thư đều không đưa đất nước đến được với độc lập, tự do, nhưng cũng phải hiểu rằng Tân thư vào nước ta với nhiều đặc điểm không thuận lợi cho việc áp dụng, thực thi nó một cách hiệu quả. Tuy vậy, nó cũng đã làm cho các nhà nho chí sĩ “tạo nên những giá trị đột biến cách mạng” (chữ dùng của Trần Ngọc Vương). “Việc làm của họ, tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà làm cho chúng ta sống trong tình trạng người ngu, nước yếu. Họ trực tiếp đả kích cái học cũ, lối văn chương bát cổ, làm mê muội con người. Họ công kích những thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch rõ thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp”[24; tr. 435]. Đối với Đào Nguyên Phổ cũng như nhiều nhà nho chí sĩ khác, Tân thư là “cửa sổ nhìn ra thế giới”, và sau đó nhìn lại đất nước mình, quê hương mình, con người mình để rút ra những kết luận, những cách thức làm sao đưa đất nước đến với độc lập, tiến lên với văn minh nhân loại, văn minh Âu Mỹ. Nhật Bản đã làm được, họ có hi vọng rằng đất nước mình cũng làm được. Áp dụng Tân thư vào Duy tân có thể tiến hành trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, chính trị, tư tưởng…
Là người có học vấn, tài hoa, năng động lại chịu khó đổi mới nên khi tiếp xúc với nhứng tu tưởng mới từ Tân thư, Đào Nguyên Phổ đã tiến một bước dài từ nhà nho truyền thống sang một nhà nho duy tân, tích cực hoạt
động trên mặt trận văn hoá, giáo dục và ông cũng là một cây cầu nối giữa hai thế hệ nhà nho trước và sau ông.
1.3.2. Học tiếng Pháp.
Năm 1896, sau mười năm chiến đấu dũng cảm, Phan Đình Phùng đã ngã xuống vì bệnh sốt rét và kiết lỵ - những bệnh thường gặp ở nơi rừng thiêng nước độc. Cùng với cái chết của Phan Đình Phùng, phong trào Cần Vương trên phạm vi cả nước đến đây đã chấm hết. Phong trào yêu nước chống Pháp tạm thời lắng xuống, chuẩn bị cho những phong trào yêu nước theo tư tưởng mới vào những năm 1903-1908 theo tư tưởng Duy tân. Lúc này thực dân Pháp không phải bận tâm trên mặt trận quân sự nên đã bắt đầu “quan tâm” “chú ý” đến các hoạt động khác để duy trì sự thống trị lâu dài trên đất nước ta. Một trong những hoạt động được chú ý đầu tiên là giáo dục. Tất nhiên mục đích của việc phát triển giáo dục là nhằm phục vụ cho ý đồ xâm lược của chúng nhưng mặt trái của nó không phải không có những điểm tốt, có lợi cho đất nước ta. Năm 1896 Pháp cho mở Pháp tự Quốc gia học đường dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Lúc mới mở, nơi đây chỉ dạy cho các hoàng tử, những người trong hoàng tộc. Mỗi khoá học kéo dài ba năm. Đến năm Thành Thái thứ 10 (1898), trường mở rộng đối tượng chiêu sinh, lấy thêm một số đại khoa xuất sắc ngoài các vương tôn công tử đồng thời cũng mở thêm lớp tiếng Pháp cho các nhà khoa bảng chuẩn bị đi làm. Năm 1898 cũng là năm đào Nguyên Phổ đỗ Đình Nguyên Hoàng Giáp, chính vì vậy ông được bộ Lễ chọn vào học lớp tiếng Pháp mới mở này. Các đại khoa được lựa chọn vào học có quyền tự quyết định có theo học hay không. Chính vì vậy mà không phải ai cũng tham gia vào học khi được chọn. Có nhiều lí do để giải thích sự lựa chọn đó ở mỗi người. Song tư tưởng “nội hạ ngoại di” và hơn hết là tiếng Pháp là tiếng của người Pháp, tiếng của quân xâm lược có lẽ là lí do quan trọng nhất khiến cho một số người từ chối không tham gia khoá học.
Như đã biết, sau một thời gian Pháp xâm lược Việt Nam, một số nhà nho có tư tưởng yêu nước đến bảo thủ đó là tẩy chay quân giặc, tẩy chay tất cả những thứ có xuất sứ hoặc có liên quan đến quân Pháp như những đồ dùng hàng ngày, phương tiện đi lại, phương tiện liên lạc, thậm chí cả đến chữ quốc ngữ.
Hơn người ở đặc điểm chịu khó đổi mới, từ một nhà nho chính thống đã từng nếm trải cả cuộc sống của người hành đạo và người ẩn dật (mặc dù không hoàn toàn là “ẩn”), Đào Nguyên Phổ vẫn sẵn sàng học tiếng Pháp vì ở vào giai đoạn lịch sử lúc đó, tư tưởng Duy tân đang lan tràn rộng khắp, học theo văn minh Âu- Mỹ là một mục đích lớn mà những người trí thức ưu thời mẫn thế đặt ra. Và để học theo, đưa đất nước tiến lên văn minh hiện đại như các nước Âu- Mỹ thì có lẽ không gì hơn là tìm hiểu về các nước đó. Tân thư đang là những sách vở rất thịnh hành lúc đó nhưng đa số Tân thư là các sách vở, tài liệu từ nước ngoài lại vào nước ta sau khi đi qua Trung Quốc, Nhật Bản. Việc đọc tác phẩm gián tiếp qua ngôn ngữ khác bao giờ cũng làm sai lệch ít nhiều nội dung tư tưởng của tác phẩm. Dịch thuật hai lần dẫn tới sự méo mó là điều dễ hiểu.
Tham gia lớp học tiếng Pháp đã giúp cho Đào Nguyên Phổ có những kiến thức Tây học nhất định mà không phải ai cũng sẵn sàng tiếp thu những kiến thức đó. Chính những kiến thức Tây học này đã giúp cho Đào Nguyên Phổ có những suy nghĩ và lập luận rất logic trong các bài viết sau này của ông. So với một số bạn bè đồng quan khi đó, Đào Nguyên Phổ đã đi trước một bước trong quan điểm về ngôn ngữ, ngôn ngữ không có tính giai cấp.
Ông ghi tên và học lớp tiếng Pháp rất đầy đủ. Ông xác định rõ mục đích biết tiếng Pháp sẽ giúp ích nhiều trên đường đấu tranh chống Pháp và còn có thể mở rộng kiến văn. Chính ông đã từng bảo vệ việc học ngoại ngữ của mình trước bạn bè như sau: “Ngôn ngữ các nước là của chung nhân loại. Thứ tiếng nào nói được điều thiện, phê được điều ác là ta có thể dùng”. Ý kiến của Đào
Nguyên Phổ không phải là hoàn toàn hợp lý nhưng hành động của ông thì đã cho thấy đó là những quyết định đúng đắn. Sự bất đồng về ngôn ngữ chính là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những bất cập trong giao tiếp xã hội mang tính rộng rãi với phạm vi ngoài quốc gia, dân tộc. Đứng ở vị trí của những người hậu thế mà suy xét thì có thể thấy suy nghĩ và quyết định của Đào Nguyên Phổ về việc học tiếng Pháp là hoàn toàn chính đáng và hợp lý. Ngoại ngữ luôn luôn cần thiết với mọi người ở mọi thời đại.
Tân thư, tiếng Pháp và những kiến thức Tây học có được đã giúp cho Đào Nguyên Phổ, một người vốn tài hoa năng động có những bước chuyển biến quan trọng trong cuộc đời. Từ đây, ông mang trong mình những tâm trạng, suy nghĩ đau đáu về vận mệnh dân tộc, đất nước. Làm sao để đưa đất nước đến được với độc lập, với trạng thái văn minh tiến bộ luôn là “câu hỏi lớn” không chỉ đối với ông mà còn đối với nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước lúc đó. Với sức khoẻ yếu, lại suy xét tình hình thực tế những thất bại của quân dân ta trên mặt trận quân sự, Đào Nguyên Phổ đã quyết định đi theo con đường cải cách văn hoá, tiến hành dân chủ, nâng cao dân trí theo chủ nghĩa tam dân của Phan Châu Trinh (có sự vay mượn và sáng tạo lại chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn cho hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước).
* * *
Tiểu kết chương 1
Trên đây chúng tôi đã trình bày những vấn đề về tiểu sử và những bước chuẩn bị quan trọng làm tiền đề cho những hoạt động quan trọng của Đào Nguyên Phổ. Đặt trong bối cảnh xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở nước ta có nhiều ba động lớn, việc mỗi cá nhân tự tìm tòi hướng đi và khẳng định mình là điều không hề đơn giản. Dừng lại ở tiểu sử của Đào Nguyên Phổ cho phép đưa ra nhận xét: đương thời Đào Nguyên Phổ là người có tài năng,