Hoạt động của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh Nghĩa Thục

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 53 - 59)

Chương 2. Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ trong lĩnh vực văn học, văn hoá cụ thể

2.2. Đào Nguyên Phổ và Đông Kinh Nghĩa Thục

2.2.2. Hoạt động của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh Nghĩa Thục

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục thì năm 1906, trước khi sang Nhật, Phan Châu Trinh đã gặp gỡ trao đổi, bàn bạc kế hoạch duy tân tại nhà cụ Lương Văn Can với Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ và Võ Hoành. Trước đó không lâu, vào đầu năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã có chuyến Đông du sang Nhật Bản, tham quan trường Khánh Ứng Nghĩa Thục tại TÔKYÔ do Fukuzawa sáng lập vào nửa cuối thế kỷ XIX- thời Minh Trị Duy Tân. Tháng 3 năm 1907, Đào Nguyên Phổ đã ngầm giúp đỡ các nhà nho chí sĩ khác tham gia sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Trường hoạt động vì nghĩa, không lấy tiền thậm chí còn phát không sách vở, chỗ ở cho học sinh nghèo.

Tham gia vào hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục ngay từ khi còn trong trứng nước đến ngày trường bị đóng cửa, Đào Nguyên Phổ đã rất tích

cực, đóng góp cả trí tuệ và công sức không nhỏ cho công cuộc canh tân văn hoá, cho hoạt động cách mạng công khai này.

Ngay từ tên trường cũng là theo đề nghị của Đào Nguyên Phổ. Theo lời kể của Nguyễn Quyền thì “Ban đầu tôi suy nghĩ do dự mãi về cái tên trường, không biết đặt tên gì cho phải. Ông Đào Nguyên Phổ lúc ấy làm chủ bút Đại Việt Tân Báo bàn với tôi nên đặt là Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt chước cái danh hiệu “Khánh Ứng Nghĩa Thục” của Phước Trạch Dụ Cát hồi đầu Minh Trị Duy Tân. Cái tên ấy rất đắc thế. Vì Bắc Kỳ mình vốn có tên là Đông Kinh do đó mới có tên Tây là Tonkin, còn “nghĩa thục” chỉ có ý nghĩa là trường tư, dạy học bố thí chớ không lấy tiền”[37; tr. 15].

Đến đôi câu đối dán ở trước cửa trường được coi như tôn chỉ, mục đích hoạt động của trường cũng là do Đào Nguyên Phổ viết:

Lấy quốc ngữ làm chuông cảnh tỉnh, khua vang ngõ hẹp hang cùng Đem báo chương thay đuốc văn minh, soi rạng miền Nam cõi Bắc Chữ quốc ngữ là đối tượng lựa chọn đầu tiên mà Đào Nguyên Phổ muốn nhắc đến, muốn nhấn mạnh. Đối với lớp người “sinh sau đẻ muộn” như chúng ta bây giờ thì chữ quốc ngữ là tiếng mẹ đẻ, là ngôn ngữ chính thức trong tất cả các hoạt động giao tiếp, hành chính, là tiếng Việt. Còn khi đối diện với chữ Hán, chữ Nôm- thứ chữ cách đây một thế kỷ là thứ chữ các cụ thường dùng thì ta lại coi là “ngoại ngữ”. Các cụ ta đầu thế kỷ XX cũng vậy, nhưng ở thế đối lập với chúng ta: tức là coi chữ Hán, chữ Nôm là “chữ ta”

còn chữ quốc ngữ được đánh đồng với chữ Pháp, đánh đồng với quân Pháp, được coi là chữ Tây. Trong Văn minh tân học sách, một cuốn sách được coi như tuyên ngôn của Đông Kinh Nghĩa Thục khi đề xướng ra sáu phương cách để mở mang dân trí đã đặt ra vấn đề sử dụng chữ quốc ngữ lên hàng đầu: “…

Gần đây mục sư Bồ Đào Nha chế ra chữ quốc ngữ, lấy 26 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm, 11 vận, đánh vần theo lối hoà thanh mà đọc ra tiếng ta, rất

là giản dị, nhanh chóng. Tưởng nên một loạt học theo. Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để cho trong thời gian vài tháng đàn bà, trẻ con cũng đều biết chữ và người ta có thể dùng Quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ thì có thể chuốt lời đạt ý.

Đó là bước đầu tiên trong việc mở mang dân trí vậy”. Chữ quốc ngữ có nhiều tiện ích như vậy song quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường là một quyết định khó khăn vì trong nội bộ những sáng lập viên không phải ai cũng nhất trí đưa chữ quốc ngữ vào làm văn tự chính. “Sức kháng cự của đông đảo nhà nho chống chữ quốc ngữ không phải là nhỏ”[7; tr. 63]. Và những nhà nho có tư tưởng tân tiến đã phải thuyết phục những nhà nho bảo thủ rất lâu. Nguyễn Quyền đã tâm sự với con trai Đào Nguyên Phổ - học giả Quán Chi Đào Trinh Nhất như sau: “Ban đầu tôi và mấy anh em đồng chí đã hao phí khổ tâm lắm mới là quyết định được các cụ- hủ- nho phãi tin quốc văn có hiệu lực phổ thông giáo dục và phãi tán thành sự lấy quốc văn làm thứ chữ căn bổn cho học khoá của nhà trường. Chúnh tôi đã phải ra sức đánh nhau bằng “lý” và “lưỡi” với các cụ một hồi lầu lắm, các cụ mới chịu tán thành chiết phục chớ không phải dễ”[36; tr. 24]. “Bởi vậy đến lúc Đông Kinh Nghĩa Thục mở ra, anh em đồng chí với tôi đứng về mặt trận lấy quốc văn để truyền bá học thuật Thái Tây và bỏ hắn lối văn thơ, phú, kinh, nghĩa; nhưng các cụ- đa số- đứng về mặt trận dạy Hán- tự và cử nghiệp như xưa”[37; tr.

25]. Cuối cùng, chữ Quốc ngữ đã được lựa chọn, phái tiến bộ đã thắng phái thủ cựu, đó là sự lựa chọn sáng suốt và có ý nghĩa lớn. Nó không chỉ là sự chiến thắng về mặt lý lẽ mà nó là sự lựa chọn tất yếu, có giá trị tiến bộ trong lịch sử xã hội. PGS.TS Trần Thị Thu Lương thuộc ĐHQG TPHCM đã đánh giá rất cao sự lựa chọn này: “Những nội dung tiến bộ và phương pháp giảng dạy mới của Đông Kinh Nghĩa Thục là rất đáng chú ý tuy nhiên hành động có giá trị văn hoá lớn nhất mà Đông Kinh Nghĩa Thục thực hiện được cho văn

hoá Việt Nam theo chúng tôi là vấn đề lựa chọn chữ viết. Đông Kinh Nghĩa Thục đã chọn chữ quốc ngữ làm chữ viết để biên soạn sách giáo khoa, dịch các sách phương Tây. Học sinh được dạy đọc và viết chữ Quốc ngữ như một phương tiện để tiếp thu và truyền bá tri thức. Đó là một sự lựa chọn đúng đắn có tính chất lịch sử trong sự phát triển văn hóa Việt Nam”[32; tr. 37]. Nhà nghiên cứu Trần Thị Thu Lương còn lý giải nguyên nhân về ý nghĩa của chữ Quốc ngữ: “Sự lựa chọn chữ quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục có một ý nghĩa lịch sử với văn hoá Việt Nam vì bản thân văn hoá Việt Nam cho đến lúc đó có một bi kịch về văn tự”[Sđd; tr. 39].

Thiết nghĩ, chữ quốc ngữ có vai trò, vị trí, ý nghĩa như vậy và được phát triển phổ biến trong giai đoạn sau này phải kể đến công lao của Đông Kinh Nghĩa Thục mà công đầu thuộc về Đào Nguyên Phổ. Phát huy tinh thần đôi câu đối ở cổng, về sau này, Đông Kinh Nghĩa Thục rất chú trọng đề cao chữ Quốc ngữ. Nhiều bài thơ cổ động được viết để khích lệ nhân dân học chữ quốc ngữ như:

Chữ quốc ngữ là hồn trong nước Phải đem ra tính trước dân ta Sách các nước, sách China

Chữ nào chữ ấy dịch ra cho tường

(Chiêu hồn nước) Hay: Trước hết phải học ngay quốc ngữ Khỏi đôi đường tiếng chữ khác nhau Chữ ta ta đã thuộc làu

Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài Sẵn cơ sở để khai tâm trí

Rồi sẽ đem các thứ giáo khoa Chữ Tàu dịch lấy chữ ta

Chữ Tây cũng phải dịch ra chữ mình

(Nguyễn Phan Lãng-Cần phải học cho đúng).

Vế thứ nhất của câu đối mà Đào Nguyên Phổ viết đã nhấn mạnh đến việc phải phổ biến, phát triển chữ quốc ngữ thành phương tiện để “cảnh tỉnh”, để truyền bá những tư tưởng yêu nước, độc lập cho nhân dân, để “khai dân trí, chấn dân khí”. Vế thứ hai của câu đối, đi cùng với sự phát triển của chữ quốc ngữ, Đào Nguyên Phổ chú trọng đến phát triển báo chí, coi báo chí là cây đuốc soi đường chỉ lối cho văn minh đi theo ở khắp mọi nơi. Điều này thì chính Đào Nguyên Phổ đã, đang và sẽ làm rất tích cực. Ông được coi là người

“đi đầu trong lịch sử báo chí” (Vũ Ngọc Khánh). Một mình ông cùng lúc vừa tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục lại vừa làm chủ bút của hai tờ báo là Đăng Cổ Tùng BáoĐại Việt Tân Báo. Lúc này, những tờ báo có Đào Nguyên Phổ tham gia làm chủ bút hay tham gia viết bài được coi như những “Tân thư tân văn” ở nước ta. Mối liên hệ giữa báo chí và Đông Kinh Nghĩa Thục gắn bó rất mật thiết, tương quan lẫn nhau cùng giúp cho công cuộc canh tân của đất nước được thuận lợi.

Dương Quảng Hàm khi bàn về thể thơ liên hoàn trong Việt Nam văn học sử yếu có trích bài thơ của thi sĩ Tình Si Tử. Bài thơ có tên Hủ nho tự trào bao gồm bốn bài mà câu cuối bài trên làm câu đầu bài dưới. Ở đây không bàn đến lối thơ liên hoàn mà xin trích ra khổ thơ (bài thơ) cuối cùng như sau:

Hủ nho tự trào

Mưa gió năm châu rộn tiếng gà, Cái hồn văn tự tỉnh dần ra.

Trống khua giáo dục kêu vang nước;

Đuốc rọi văn minh sáng rực nhà.

Khai hoá đã đành thay lối cũ;

Cải lương còn phải tính đường xa.

Anh em nghĩ lại sao không cố, Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta

Tình Si Tử

Chúng tôi chưa tìm hiểu được Tình Si Tử là ai nhưng trong bài thơ này có hai câu “Trống khua giáo dục kêu vang nước/ Đuốc rọi văn minh sáng rực nhà” tương tự như đôi câu đối của Đào Nguyên Phổ đề tựa ở cổng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Có thể thấy tác giả này cũng là một nhà nho sống cùng thời với Đào Nguyên Phổ và rất tích cực trong việc truyền bá chống lại tư tưởng cựu nho, cổ vũ cho cải cách. Việc tìm hiểu rõ hơn nữa thì xin nhờ những nhà nghiên cứu chú ý, quan tâm.

Khi Đông Kinh Nghĩa Thục đi vào hoạt động như một guồng máy chính xác, Đào Nguyên Phổ vẫn tham gia tích cực trong cả hai ban là ban Giáo dục và ban Tu thư.

Ở ban giáo dục, mặc dù Đào Nguyên Phổ biết cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, chữ Pháp nhưng uy tín lớn nhất của ông lại ở phần chữ Hán vì ông viết chữ Hán rất bay, rất đẹp nên được phân vào ban Hán văn cùng với Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tích Phong. Có lẽ Đào Nguyên Phổ có nhiều “bằng cấp”, “chứng chỉ” trong lĩnh vực Hán văn nên được phân công làm việc theo đúng “chuyên môn”. Đào Nguyên Phổ được phân công dạy

“(Tứ thư, Ngũ kinh theo tinh thần mới) cho lớp học sinh lớn tuổi ở bậc đại học”[33; tr. 350].

Vì sức khỏe yếu lại bận việc bên hai toà báo mà Đào Nguyên Phổ tham gia giảng dạy rất ít. Đa số các bài nghiên cứu không nhắc đến tên Đào Nguyên Phổ trong đội ngũ giáo viên của trường, chỉ một ít thiểu số có nói đến người này người kia đã từng học Đào Nguyên Phổ (tất nhiên là các nhà nghiên cứu có tuổi và những nhân chứng cũng không còn trẻ).

Vai trò của Đào Nguyên Phổ trong ban giáo dục mờ nhạt nhưng trong ban tu thư lại khá nổi trội. Ông sáng tác nhiều bài thơ để dạy cho học sinh trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Sách Ấu học Hán tự tân thư do Đào Nguyên Phổ viết (có người khẳng định chắc chắn, có người dựa vào suy luận) gồm bốn tập:

Tập 1: Ấu học khai tâm giáo khoa thư dạy về thiên nhiên, cây cỏ, khí hậu, thời tiết, chim muông

Tập 2: Ấu học tu thân giáo khoa thư dạy về luân lý đạo đức: cách tu dưỡng ăn ở đối xử với cha mẹ, bạn bè, người thân

Tập 3: Ấu học địa dư giáo khoa thư dạy về địa lý, chính trị Việt Nam Tập 4: Ấu học lịch sử giáo khoa thư dạy về lịch sử.

Sách Ấu học Hán tự tân thư do Đào Nguyên Phổ viết để dạy cho học sinh gồm những bài rất dễ đọc dễ nhớ. Những bài viết về lịch sử được viết rất ngắn gọn, sức tích. Những bài về luân lí đạo đức thì viết rất mềm mại, khéo léo, sử dụng cách viết hình tượng, tính giáo dục nhẹ nhàng, tinh tế mà không kém phần sâu sắc.

Như vậy là không thể phủ nhận vai trò to lớn của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh Nghĩa Thục. Tuy rằng tuổi thọ của trường (cũng như của Đào Nguyên Phổ) không phải là lớn song những gì mà Đông Kinh Nghĩa Thục đã để lại cho lịch sử thì không nhỏ. Đông Kinh Nghĩa Thục đã gây dựng được một phong trào cải cách văn hoá, xã hội vô cùng rộng lớn, sôi nổi, lôi kéo đông đảo quần chúng tham gia. Từ đấy về sau không còn phong trào cải cách văn hoá nào gây được ảnh hưởng rộng lớn như thế nữa.

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 53 - 59)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(118 trang)
w