Chương 3. Đào Nguyên Phổ trong dòng chảy văn chương những thập niên cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
3.2. Sự lựa chọn của Đào Nguyên Phổ
3.2.1. Đối diện với sự khủng hoảng nhiều mặt của xã hội
Xã hội Việt Nam giai đoạn giao thời có nhiều biến đổi lớn, có khủng hoảng trên nhiều mặt của xã hội như khủng hoảng về tư tưởng, khủng hoảng ý thức hệ và khủng hoảng về đường lối yêu nước. Về tư tưởng, chủ nghĩa yêu nước của ta trước đây luôn quan niệm yêu nước là trung thành với vua, làm theo yêu cầu, mệnh lệnh của vua vì vua chính là chủ nhân tối cao của đất nước, điều khiển đất nước thay ông trời “thế thiên hành đạo”. Vua là thiên tử còn dân là thần tử, dân bắt buộc phải trung nghĩa với vua. Vì vậy mà yêu nước và trung vua là đồng nghĩa với nhau. Chính tư tưởng “Mệnh trời” đã quy định chủ nghĩa yêu nước theo kiểu đó. Cũng tư tưởng “Mệnh trời” là cơ sở để người thần tử hi sinh cho đất nước còn người dân bình thường thì thụ động mong chờ cuộc sống thái bình từ những ông “vua sáng”. Nhưng đến giai đoạn này, vua đã trở thành tay sai cho giặc. Người dân không còn đủ lòng tin để chờ đợi ở vua, ở triều đình, họ phải chủ động tự đứng lên giành quyền làm chủ đất nước để tự cứu lấy mình. Tư tưởng trung quân ái quốc là hệ quả của ý thức hệ Nho giáo. Chính Nho giáo là tôn giáo đã đưa ra nhiệm vụ tối cao là bảo vệ, phục vụ ngôi vua, đưa trung quân lên làm tiêu chí hàng đầu của bất cứ thần dân nào. Nhưng đó đã là quá khứ, khi Trung Quốc không còn là “thiên triều”, Nho giáo đã hoàn toàn vô dụng trước xã hội giao thời, “quá độ”. Hệ tư tưởng Nho giáo rơi vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng trước sự xâm lược của luồng tư tưởng phương Tây. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam mang theo nền văn minh khoa học kỹ thuật, tư duy logic và tư tưởng cá nhân làm biến đổi xã hội Việt Nam một cách gần như là toàn diện. Đó là sự khủng hoảng của ý thức hệ Nho giáo, đồng thời là sự khủng hoảng của tư tưởng trung quân.
Vua không ra vua, không còn làm tròn trách nhiệm chăm lo cho nhân dân mà cam tâm làm tay sai, bù nhìn cho giặc. Cả triều đình đã vô dụng.
Trên mặt trận quân sự, sự khủng hoảng về đường lối cứu nước cũng ngày càng trở nên rõ rệt, mất phương hướng. Thực dân Pháp đến nước ta, dùng “tàu thiếc tàu đồng”, “đạn nhỏ đạn to” để cướp nước ta. Nhân dân ta, dù có lòng yêu nước, căm thù giặc bao nhiêu, dù có dũng cảm, gan dạ chiến đấu bao nhiêu nhưng chỉ có “manh áo vải”, “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”,
“lưỡi dao phay” thì cũng chỉ làm nên những chiến công nhỏ bé, cục bộ như giết được một vài quan Pháp, không thể thay đổi được cục diện quá chênh lệch của cuộc kháng chiến. Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương bất lực, tự vẫn theo hai cách khác nhau, Phan Đình Phùng mất vì rừng thiêng nước độc sau mười năm anh dũng chiến đấu. Phong trào kháng Pháp chấm dứt một thời kỳ, mở ra thời kỳ mới. Sự ra đi của Phan Đình Phùng đánh dấu chấm hết cho phong trào Cần Vương và cũng là chấm hết vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của triều đình. Triều đình không còn chỉ đạo cuộc kháng chiến nữa nhưng nhiệt tâm yêu nước, thù giặc trong các tầng lớp nhân dân vẫn còn cháy bỏng, họ tự đứng lên tổ chức các phong trào, các nhóm chống Pháp theo các cách thức, đường lối khác nhau.
Khi phong trào Cần Vương chấm dứt, nhà nho hiểu rằng không thể tiếp tục chiến đấu với giặc bằng súng gươm, bằng bạo lực, mặc dù họ rất yêu nước. Sự chênh lệch về sức mạnh quân sự giữa hai bên là quá lớn. Từ đây xảy ra sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Trên lĩnh vực quân sự, thực dân Pháp đã hoàn toàn thắng thế, chúng bắt đầu chuyển sang các lĩnh vự khác để biến đất nước ta thành một tỉnh của chúng, thành một nước Pháp ở xứ Đông Dương. Thất bại nặng nề và đau đớn trên chiến trường, các nhà nho yêu nước của chúng ta cũng chuyển sang các kế hoạch phi quân sự, tìm cách chiến đấu bằng lý lẽ, bằng lời, bằng bút để trước hết đòi quyền tự do, dân chủ. Giữa lúc khủng hoảng ấy, những Tân thư, tân văn được đưa vào nước ta dồn dập, truyền bá tư tưởng tư sản dân quyền của Rút-xô, Mông- tet-xki-ơ, truyền bá
về sự nghiệp canh tân của Trung Quốc, thông tin về thành tích duy tân vô cùng ngoạn mục của Nhật Bản.
Trong số ba khuynh hướng chính trị của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Đông Kinh Nghĩa Thục đưa ra lúc này, không có khuynh hướng nào có đường lối chính xác nhất để đưa dân tộc đến với độc lập, tự do. Nhưng càng về sau, khi những khó khăn để chuẩn bị cho một cuộc bạo động lớn ngày càng nhiều thì kế sách bạo động xem ra là một “nhiệm vụ bất khả thi”. Những người theo chủ trương bạo động, chủ trương quân chủ cũng dần tán thành chủ trương cải cách, canh tân. Và văn học trở thành địa hạt, công cụ số một trong cuộc canh tân lúc này, để nhằm mục tiêu cổ vũ lòng yêu nước, cổ vũ cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. Vị trí đặ biệt quan trọng của văn học gia đoạn này được Trần Ngọc Vương đánh giá rất cao, nó “trở thành một lãnh địa đặc biệt, một thứ phương tiện và công cụ đặc biệt, chưa từng là thế trong toàn bộ lịch sử tồn tại của chính nó”[78; tr. 110, 111]. Một nhà văn cách mạng Nga thế kỷ XIX cũng đã từng viết thế này: “Đối với một dân tộc mất quyền tự do chính trị, thì văn học là diễn đàn duy nhất để dân tộc ấy nói lên tất cả lòng công phẫn và tất cả ý thức của mình” (Hec-den).
Vậy là vào thời điểm những năm bản lề giữa hai thế kỷ, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XX, chỉ còn mỗi văn chương xem ra là công cụ đắc lực nhất để có thể thổi bùng ngọn lửa của cách mạng xã hội, cách mạng giải phóng dân tộc. Đây chính là lí do để giải thích cho sự lựa chọn của Đào Nguyên Phổ, lựa chọn một con đường cứu nước của một người yêu nước nồng nàn nhưng lí trí đủ tỉnh táo để kiểm soát và chỉ huy những hoạt động đúng đắn. Điều này cũng giải thích cho việc tại sao từ trước tới nay người ta thường “nâng lên đặt xuống” những tác giả như Đào Nguyên Phổ, khi đưa ra quyết định có đặt họ vào dòng các tác giả của văn học yêu nước hay không.
Bởi từ trước đến giờ những người được cho là tác giả của văn học yêu nước
phải thể hiện rõ tính chiến đấu của văn chương kiểu như “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Cần nhìn nhận lại một cách khách quan, đúng đắn về lòng yêu nước và phạm vi của văn học yêu nước. Lòng yêu nước hay chủ nghĩa yêu nước trong văn học các quốc gia khác cũng như nước ta trước đây quan niệm đã là văn học yêu nước thì thường được thể hiện thông qua các biểu hiện như: căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, yêu quê hương đất nước, tự hào về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ca ngợi những tấm gương hy sinh anh dũng, nếu không đánh giặc bằng gươm bằng súng được thì phải đánh giặc bằng ngòi bút. Từ trước đến nay các tác giả được đưa vào sách giáo khoa hay các tuyển tập văn học thường rơi vào hai trường hợp: hoặc là yêu nước, hoặc là nhân đạo. Điều này được thể hiện thông qua hai cấp độ: yêu quê hương làng xóm và yêu quốc gia dân tộc, yêu truyền thống văn hóa, yêu tiếng nói dân tộc. Không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của quan niệm lòng yêu nước hay văn học yêu nước này. Nhưng đúng mà chưa đủ, đó mới là phần nổi của tảng băng trôi - phần nhỏ. Còn rất nhiều những biểu hiện khác của lòng yêu nước, của văn học yêu nước chưa được chú ý đúng mức. Cần có sự mở rộng hơn về biên độ trong quan niệm văn học yêu nước. Đúng như Trần Văn Giàu đã viết: “Mở rộng cương vực văn chương yêu nước ra tới văn chương của những người tuy không đi kháng chiến trực tiếp mà không chịu hợp tác với Pháp, dám viết văn đả kích địch và tay sai của chúng tới văn chương của một số người thành tâm đưa ra những đề nghị cải cách, duy tân, nhằm làm cho nước nhà giàu mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình”[10; tr. 51].
Theo đó, lòng yêu nước trong văn học cần được hiểu ở phạm vi rộng gồm: những người vừa trực tiếp chiến đấu vừa lấy ngọn bút làm vũ khí và những người lính cầm bút như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn,
Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…; các tác giả không chiến đấu nhưng ủng hộ, cổ vũ kháng chiến như Trần Bích San, Vũ Công Tự…;những người có nhiều đề nghị cải cách canh tân như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Châu Trinh và nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục; và cả những người có thái độ bất hợp tác như Nguyễn Khuyến.
Như vậy, nội hàm của khái niệm lòng yêu nước giai đoạn những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vẫn giữ theo quan niệm truyền thống nhưng có sự mở rộng, phát triển, chống Pháp và tay sai dưới mọi hình thức, chống triều đình thỏa hiệp đầu hàng; kêu gọi duy tân, thương xót, ca ngợi những người hy sinh vì nước, thương yêu nhân dân; ca ngợi truyền thống đấu tranh của dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp đất nước. Mỗi người tùy thuộc vào năng lực, sở trường, điều kiện, hoàn cảnh của bản thân mà lựa chọn một công cụ, một phương thức phù hợp trong công cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ.