Chương 2. Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ trong lĩnh vực văn học, văn hoá cụ thể
2.2. Đào Nguyên Phổ và Đông Kinh Nghĩa Thục
2.2.1. Đông Kinh Nghĩa Thục - một tổ chức yêu nước đầu thế kỷ XX
2.2.1.1.Đông Kinh Nghĩa Thục- trường học kiểu mới
Đông Kinh Nghĩa Thục là trường học mở ra vì việc nghĩa, để làm việc nghĩa, dạy học không lấy tiền ở Hà Nội. Tháng ba năm 1907, Lương Văn Can và một số nhà nho khác đã quyết định mở Đông Kinh Nghĩa Thục, phỏng theo tinh thần của Khánh Ứng Nghĩa Thục ở Nhật Bản do Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát 1835-1901) mở ra và có vai trò to lớn trong quá trình
hiện đại hoá ở Nhật. Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ hoạt động trong chín tháng nhưng đã gây được ảnh hưởng khá sâu rộng, góp sức rất nhiều cho việc truyền bá tư tưởng mới.
Đông Kinh Nghĩa Thục được mở tại nhà của thục trưởng là cử nhân Lương Văn Can tại số 4 Hàng Đào, Hà Nội. Cở sở vật chất của trường có được là nhờ những người “ hằng tâm, hằng sản” quyên góp, giúp đỡ, làm từ thiện. Người dạy lúc đầu chỉ dạy vì nghĩa, không lấy công. Sau đó khi kinh phí của nhà trường dồi dào vì nhiều người từ các nơi gửi về ( cả nêu tên, cả dấu tên) nên những người dạy được trả lương. Còn những người đi học không phải trả tiền, thậm chí lại còn được phát không giấy bút, tài liệu, được ở kí túc xá miễn phí. Trường được tổ chức thành bốn ban, hoạt động rất chuyên nghiệp, khép kín theo kiểu tự cấp tự túc. Đó là các ban: ban giáo dục, ban tài chính, ban cổ động, ban tu thư (ban trước tác). Bốn ban này hoạt động theo phương châm “bốn tại chỗ”: nhà trường tự viết sách, in sách phát cho học sinh, tự tổ chức lo toan lấy mọi vấn đề về tài chính lương bổng chi tiêu…
Với tư cách là một trường học tư nhân, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tổ chức ra được một cơ sở giáo dục kiểu mới rất tích cực lúc đó nhằm “khai dân trí, chấn dân khí” giữa lúc nền giáo dục nước nhà đang mất phương hướng.
Lúc đó, nền giáo dục nước ta đang gần như mất phương hướng giữa một bên là nền giáo dục cũ đã trở nên “quá đát” và một bên là nền giáo dục mới không nhằm phục vụ nhân dân, đất nước ta. Nền giáo dục cũ chính là nền giáo dục theo Nho giáo đã tồn tại ở nước ta hàng ngàn năm cùng với chế độ phong kiến. Những người muốn tiếp tục duy trì nền giáo dục này không chỉ là các nhà nho thủ cựu, vẫn tin tưởng tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức của các thầy Khổng, Mạnh, Trình, Chu, mà còn là những người từ “mẫu quốc” đến nước ta để “khai hoá văn minh”. Thông qua tác phẩm văn học được chuyển ngữ đầu tiên sang tiếng Pháp là Lục Vân Tiên của cụ đồ Chiểu, thực dân Pháp
đã phần nào hiểu được mình cần phải làm gì và không nên làm gì với xứ thuộc địa này. Cho đến bây giờ, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Pháp chọn dịch Lục Vân Tiên chỉ vì chúng muốn tìm hiểu về văn hoá, con người nơi chúng bước chân đến qua nửa vòng trái đất. Tác phẩm của một nhà Nho và tính chất Nho giáo thể hiện rất đậm đặc trong tác phẩm. Chính điều này đã khiến chúng lần tìm ra được tác dụng lớn lao của những cải cách giáo dục theo kiểu cũ (theo Nho giáo) ở nước ta đối với công cuộc đi xâm lăng của chúng. Chúng tiếp tục nối dài sợi dây giáo dục kiểu ấy bởi chúng hiểu ra rằng:
“Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ, đều rút tự các sách Hán học. Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là họ học những nguyên tắc rường cột của luân lí đạo Khổng, họ khắc sâu vào lòng những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời. Chính các trường làng đã cung cấp cho họ nền giáo dục đó”(P.Dumer)[9; tr. 41] . Nền giáo dục theo Nho học được thực dân Pháp duy trì chiếm đa số để tạo ra đa số dân cư biết phục tùng, vâng mệnh để chúng dễ bề cai trị, sai bảo.
Ngoài nền giáo dục cũ theo Nho giáo, thực dân Pháp còn xây dựng một nền giáo dục kiểu mới được gọi là trường Pháp Việt chủ yếu đào tạo ra những
“thông ngôn” “ký lục” làm tay sai cho chúng. Các trường này lúc đầu chỉ có ở Nam Kỳ, sau đó chúng mới mở ở Bắc Kỳ để thuận tiện đào tạo “nguồn nhân lực tại chỗ”. Nhưng ngay cả những trường này chúng mở ra cũng được đặt trong những quy định sẵn và chúng luôn theo dõi sát sao những hoạt động của trường để đảm bảo nó luôn nằm trong khuôn khổ. Mục tiêu lập những trường kiểu mới của chúng là: “Trước tiên, giáo dục có kết quả tăng cường dồi dào giá trị sản xuất của thuộc địa. Ngoài ra nó phải chọn lọc và đào tạo những tay sai hợp tác, những công chức bản xứ lương trả ít tốn hơn cho ngân sách thuộc địa; phải huấn luyện quen việc các nhà “cầm quyền bản xứ” mà các hiệp ước bảo hộ và sự sáng suốt của một chính sách chính trị sơ đẳng bắt chúng ta phải
có bổn phận duy trì làm trung gian giữa chúng ta và dân tộc bản xứ” (Albert Sarraut)[9; tr. 42]. Mục tiêu của nền giáo dục Pháp Việt là phục vụ cho sự phát triển kinh tế. “Mục đích nền giáo dục ở thuộc địa là truyền bá tiếng Pháp xuống tận tầng lớp dưới nhất trong dân chúng để việc giao thiệp về mọi mặt được dễ dàng vì một nước tìm thuộc địa là cốt để có nơi tiêu thụ hàng hoá và một thị trường tiêu thụ cho thương mại và kỹ nghệ nước ấy” [9; tr. 194,195].
Cùng với sự xâm lược bảo hộ về chính trị thì thực dân Pháp nhanh chóng tìm cách xâm lăng trên các lĩnh vực khác như văn hoá, giáo dục, tư tưởng. Khi Pôn Be sang làm toàn quyền, với kinh nghiệm thống trị thuộc địa, hắn càng chú trọng hơn đến giáo dục. Pôn hiểu rằng một nước đã có hàng ngàn năm lịch sử và một nền văn hoá lâu đời như Việt Nam không phải dễ dàng đồng hoá, mà một khi đã đồng hoá được thì cũng khó lòng thống trị nổi.
Chính vì vậy mà Pôn đã chủ trương phải thâm nhập dần và liên tục nền “văn minh thực dân” vào Việt Nam bằng một nền giáo dục nô dịch. Nền giáo dục ấy nhắm tới mục đích cuối cùng nhằm phục vụ chính quyền thực dân về tài chính, nhân lực.
Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX đang ở trong thế lưỡng lự giữa hai bên giáo dục cũ và mới. Bên giáo dục theo lối Nho giáo thì đã quá lạc hậu, trì trệ, vô dụng. Bên giáo dục theo kiểu Pháp thì lại quá xa lạ và chỉ có một thiểu số người được tiếp cận để trở thành những “ông Tây An Nam” “Sáng vác ô đi, tối vác về”. Trước tình hình đó, một số nhà Nho chí sĩ yêu nước tiến bộ đã quyết định thành lập Đông Kinh Nghĩa thục, một mô hình giáo dục kiểu mới, có sự kết hợp những ưu điểm của cả hai nền giáo dục cũ và mới đang tồn tại ở nước ta khi đó. Đông Kinh Nghĩa Thục còn là thành quả của sự bàn bạc, thống nhất ý kiến giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từ trước đó gần một năm khi hai ông phân chia công việc. Đó là đầu năm 1906, cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều đi Nhật vì Phan Châu Trinh muốn “xem xét
tình trạng văn minh nước Nhật” còn Phan Bội Châu thì đón Kỳ ngoại hầu Cường Để sang Nhật cầu viện. Tháng 4 năm 1906, Phan Bội Châu đưa Phan Châu Trinh đi tham quan các trường học ở Đông Kinh, sau đó Phan Châu Trinh nói với Phan Bội Châu: “Xem dân trí Nhật Bản rồi đem dân trí nước ta ra so sánh thật không khác gì muốn đem con gà đọ với con chim cắt già. Giờ bác ở đây, nên chuyên tâm ra sức vào việc văn, thức- tỉnh đồng - bào cho khỏi tai điếc mắt đui, còn việc mở mang dìu dắt ở trong nước nhà thì tôi xin lãnh.
Lưỡi tôi đang còn, người Pháp chẳng làm gì tôi được mà lo”[3; tr. 51].
Với tư cách là một tổ chức giáo dục, Đông Kinh Nghĩa Thục đã khắc phục được những nhược điểm và kết hợp, phát huy được những ưu điểm của hai loại hình giáo dục cũ và mới ở nước ta khi đó.
Về nội dung. Các môn học được dạy ở Đông Kinh Nghĩa Thục rất phong phú như: chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, cách trí, vệ sinh, thủ công, sử ký, địa dư, đức dục, toán Pháp…Các môn học này không những trau dồi cho học sinh những kiến thức toàn diện về các mặt mà còn nhằm giáo dục cho học sinh tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc, hiểu biết về tự nhiên, xã hội theo tinh thần “điều hoà tân cự, thổ nạp Á Âu”. Đặc biệt, Đông Kinh Nghĩa Thục rất chú trọng dạy các môn học lịch sử để bồi dưỡng cho học sinh hiểu biết sâu sắc về nguồn gốc tổ tiên dân tộc mình, giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc một cách kín đáo qua gương các anh hùng dân tộc như: Hai Bà Trưng, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi…
Đông Kinh Nghĩa Thục chú ý giảng dạy các môn học thực nghiệm, đả kích lối học hư văn cổ hủ, đả phá hủ tục và người hủ nho. Tiếp thu tư tưởng của Tân thư, Đông Kinh Nghĩa Thục chống lại tư tưởng trọng nông ức thương, cổ vũ cho việc học nghề, lập các hội buôn:
Mau mau đi học lấy nghề
Học rồi ta sẽ mang về dạy nhau
(Tỉnh quốc hồn ca) Học là học có nghề có nghiệp
Trước giữ mình sau giúp người ta Trâu cày ruộng, chó giữ nhà
Người không nghề nghiệp chắc là hư danh (Khuyên con đi học) Hay: Mở tân giới xoay nghề tân học Đón tân trào dựng cuộc tân dân Tân thi, tân báo, tân văn.
(Văn thơ Đông kinh nghĩa thục) Chỉ có ba câu thơ mà có tới bẩy cái “tân” cho thấy không khí sục sôi của công cuộc đổi mới diễn ra rất hào hứng. Có thể thấy “Đông Kinh Nghĩa Thục là một “trung tâm” giáo dục tư tưởng mới theo chỉ dẫn của Tân thư”[24;
tr. 258]. Đông Kinh Nghĩa Thục giảng dạy kết hợp với thực tế khi các yếu nhân của trường trực tiếp tham gia lập các hội buôn như Hồng Tân Hưng, công ty Liên Thành ở Bình Thuận, Triêu Dương Thương Quán ở Nghệ An, Minh Tân hội ở Sài Gòn… Còn nhà trường Pháp Việt chỉ dạy tiếng Pháp để đào tạo tay sai, nhằm khai thác, bóc lột về kinh tế mà không quan tâm dạy nghề.
Trường Quốc học đặt tên Pháp Việt Dạy người Nam đủ biết tiếng Tây Đến như trăm thứ nghề hay
Binh cơ điện hoá không thầy dạy khôn.
Ngoài nội dung cổ động thực nghiệp thì Đông Kinh Nghĩa Thục còn tập trung vào đả phá các hủ tục và người hủ nho, chống khoa cử và văn chương bát cổ với thái độ dứt khoát không khoan nhượng.
Nho ơi nhắn hỏi mọi nhà
Khăng khăng như thế sao ra cái đời Cổ ơi nhắn bảo mọ nơi
Khư khư cổ mãi đứng ngồi sao đây
Thương thay thương thay thương thương thay!
Ngắn than dài thở sự này tại ai Người sao trời rộng đất dài Ta sao co quắp một nơi thế mà Người sao nhảy thẳng bay xa Ta sao chen chúc xó nhà với nhau Người sao làm chủ hoàn cầu Ta sao nô lệ cúi đầu làm tôi.
Về hình thức dạy học. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ chú trọng vào hoạt động dạy học mà còn chú ý các hoạt động khác như kinh tế, quân sự…Theo Chương Thâu thì “các sĩ phu rủ nhau lập hội buôn, cửa hiệu, mở đồn điền, khai mỏ[…] . Mặt khác, một số yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa Thục bí mật tổ chức chế tạo vũ khí, tập quân sự, đưa người đi Trung Quốc học làm cách mạng, liên lạc với các cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, Hà Thành đầu độc…”[38; tr. 81].
Ngay trong hoạt động dạy học, Đông Kinh Nghĩa Thục cũng sử dụng rất đa dạng sinh động các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của mục tiêu chấn dân khí, nâng cao dân trí. Không chỉ có các buổi học nội khóa trên lớp, Đông Kinh Nghĩa Thục còn tổ chức các buổi học ngoại khoá như diễn thuyết, bình văn thơ, đọc báo. Những câu thơ sau đây nói rõ không khí, sức hút lớn của những buổi học ngoại khoá đó, nó không chỉ thu hút học sinh trong trường mà còn hấp dẫn rất nhiều người khác:
Buổi diễn thuyết người đông như hội Kỳ bình văn khách tới như mưa.
Với những nội dung và hình thức dạy học có nhiều ưu điểm đó, nhà trường đã thu hút được rất nhiều học sinh. Lúc đầu trường chỉ có vài chục, sau học sinh tăng lên, có lúc tới hàng ngàn. Cơ sở của trường không chỉ có ở Hàng Đào mà lan ra các địa phương khác như Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình… Riêng tại cơ sở chính ở Hà Nội thì không khí học tập rất rầm rộ, sôi nổi
Trường nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ Khắp ba mươi sáu phố Hà thành Gái trai nô nức học hành
Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn 2.2.1.2. Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.
Văn thơ sáng tác thời kỳ Đông Kinh Nghiã Thục cho đến nay đã mất mát gần hết. Những gì còn sót lại chỉ là những ghi chép theo trí nhớ của những người hồi đó đã được đọc và đọc thuộc. Tuy chỉ hoạt động trong chín tháng nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã phổ biến ra ngoài khá nhiều sách vở trong đó có cả thơ ca cách mạng của các nhà nho tiến bộ và cả các sách vở Tân thư mua từ Trung Quốc. Trần Ngọc Vương đã nhận định rằng “Chính Đông Kinh Nghĩa Thục là nơi tàng trữ, xuất bản và tổ chức lưu hành hầu hết những tác phẩm có tiếng vang nhất, cũng tức là những tác phẩm quan trọng nhất của các nhà nho yêu nước và cách mạng trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, trong đó dĩ nhiên có các tác phẩm của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh”[78; tr. 105,106]. Văn chương Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ là của những người trực tiếp tham gia, lãnh đạo nhà trường mà còn rất nhiều những người dấu tên khác. Về phía đội ngũ những thành viên Đông Kinh Nghĩa Thục, Đặng Thai Mai đã liệt kê sơ bộ như sau: “Cố nhiên Nguyễn Quyền, Nguyễn Phan Lãng, Đào Nguyên Phổ, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, v.v… đều là
những người giỏi quốc văn, những tay bút lưu loát, hùng hồn, chứa chan nhiệt tình cách mạng”[31; tr. 76].
Văn chương thời kỳ Đông Kinh Nghĩa Thục có tác dụng cổ động rât lớn nên có thể gọi là văn chương cổ động. Vì tính chất tuyên truyền cổ động nên không bị gò bó vào những yêu cầu luật lệ nào mà có thể viết thoải mái theo các thể như lục bát, song thất lục bát, hát dặm… bằng tiếng Việt và nói trực tiếp những vấn đề chính trị, xã hội. Những lối thơ văn viết bằng tiếng Việt sẽ đến được với đại đa số quần chúng nhân dân, kể cả những người không được học hành gì nhiều. Bên cạnh đó là những thể văn cổ điển viết bằng chữ Hán nhằm hướng tới những đối tượng là những nhà nho, những người có chút chữ nghĩa thánh hiền như những thể thơ, phú, sách, luận…Nhưng giữa hai bên văn tự đó thì những nhà nhà yêu nước luôn kêu gọi những người cầm bút nên nói, phải nói bằng tiếng Việt vì nó mới thể hiện được sự tự hào với những giá trị của dân tộc, mới hướng đến đa số quần chúng nhân dân. Trong Văn minh tân học sách, đã khuyên mọi người học “tiếng ta”, viết “tiếng ta” và trong phần cuối, khi nêu ra sáu “đường” để mở mang dân trí cho nhân dân thì yêu cầu đầu tiên là dùng chữ quốc ngữ. Mà như chúng ta đã biết, văn tự chính là chất nền để tạo nên văn học, chữ quốc ngữ chính là cơ sở để cấu thành nền văn học hiện đại. Về vai trò, vị trí của Đông Kinh Nghĩa Thục trong tiến trình sử dụng chữ Quốc ngữ, chúng tôi sẽ đề cập cụ thể hơn ở phần sau.
2.2.1.3. Đông Kinh Nghĩa Thục - cuộc cách mạng về văn hoá, tư tưởng.
Giữa không khí hoạt động sôi nổi của hai phe “minh xã” và : “ám xã”
những năm đầu thế kỷ XX thì Đông Kinh Nghĩa Thục không đề cập đến những vấn đề của hai phe phái trên. Nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục lại tạo nên được một phong trào hoạt động theo tinh thần yêu nước và cách mạng công khai, hợp pháp. Nhằm đẩy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc, chính quyền thực dân cho phép Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động để tuyên truyền mở rộng văn