Những bài đề tựa

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 60 - 71)

Chương 2. Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ trong lĩnh vực văn học, văn hoá cụ thể

2.3. Văn chương Đào Nguyên Phổ

2.3.1. Những bài đề tựa

Đề tựa thuộc về tản văn. Đề tựa là một thao tác quen thuộc trong văn chương từ xưa tới nay. Tuy phần đề tựa ở mỗi tác phẩm không được chú ý nhiều bằng tác phẩm nhưng chính phần đề tựa ấy nói lên giá trị của tác phẩm.

Trong số những bài đề tựa của Đào Nguyên Phổ còn để lại thì có ba bài đề tựa cho sách lịch sử, một bài đề tựa cho Truyện Kiều.

2.3.1.1. Bài tựa sách Việt sử yếu lược, Việt sử tân ước toàn biên và Việt sử mông học.

Có cảm hứng lớn với đề tài lịch sử, Đào Nguyên Phổ đã biên soạn sách để dạy sử cho các sinh đồ, đồng thời ông còn viết khá nhiều bài tựa cho các bộ sử của các nhà sử học đương thời. Đó là đề tựa cho ba cuốn sách sử là:

Việt sử yếu lược, Việt sử mông học Việt sử tân ước toàn biên.

Bài tựa sách Việt sử yếu lược. Bài tựa này Đào Nguyên Phổ viết rất ngắn gọn, súc tích, chỉ có 121 chữ Hán. Tác giả đã đưa ra một thực tế từ trước đến nay vẫn tồn tại và thực tế đó lại là một nghịch lí đáng buồn đó là việc dân ta am hiểu về sử Trung Quốc hơn Việt Nam. “Người nước Nam ta biết Thái Sơn cao, Hoàng Hà sâu, mà không rõ núi Tản Viên mạch tự đâu đến, sông Cửu Long nguồn từ đâu chảy về! Lại biết Khổng Minh và Địch Nhân Kiệt, mà chẳng rõ Tô Hiến Thành và Trần Quốc Tuấn oai phong khí tiết thế nào”. Đây là một thực tế đã có từ lâu và vẫn đang tồn tại trên đất nước ta. Tuy nhiên, nếu quyết tâm cố gắng thì mọi thứ đều có thể thay đổi. Người Việt Nam sẽ khẳng định lại địa vị độc lập của mình thông qua việc hiểu biết nguồn gốc, lịch sử

của chính dân tộc mình, đất nước mình. Muốn được như vậy thì phải có những tác phẩm về sử học và toàn dân phải học, phải đọc, phải xem xét kỹ.

Đó chính là giải pháp hữu hiệu mà Đào Nguyên Phổ đưa ra. Cuốn sách mà Đào Nguyên Phổ nói ở đây chính là Việt sử yếu lược. Khi đọc nó, mọi người sẽ hiểu được lịch sử của Việt Nam qua những sự kiện quan trọng một cách sơ lược nhất, đơn giản nhất. Khi đọc nó sẽ thực hiện được một số mục tiêu mà Phan Châu Trinh đưa ra là “dân trí sẽ tăng, dân tài sẽ mở rộng”.

Kết thúc bài tựa, một lần nữa Đào Nguyên Phổ nhắc lại lời khuyên học sử. Lời khuyên tha thiết giống như một lời cầu xin: “Vậy mong toàn quốc trẻ già hãy đọc đi! Hãy gắng xem đi! Đó là điều các Nho gia chúng tôi đang mong đợi!” Đoạn văn kết thúc bài tựa rất ngắn, chỉ có hai dòng gồm ba câu nhưng tất cả đều là câu khiến. Điều đó cho thấy sự tâm huyết của Đào Nguyên Phổ đối với việc dạy và học môn lịch sử là rất trân trọng.

Bài tựa sách Việt sử mông học

Năm 1905, 1906 cháu nội của Nguyễn Quang Bích (tên họ cũ là Ngô Quang Bích) là Ngô Đức Dung (1880-1967) đã bỏ công sưu tầm tài liệu để viết cuốn Việt sử mông học. Khi viết xong, Ngô Đức Dung biết Đào Nguyên Phổ - người đồng hương, rất quan tâm đến lịch sử nên đã đưa Đào Nguyên Phổ xem và góp ý. Khi đọc xong bản thảo của Ngô Đức Dung, Đào Nguyên Phổ rất vui mừng, đồng cảm, cảm hứng dâng trào nên viết luôn bài đề tựa dài hơn ba trăm chữ. Vì muốn cho mọi người cùng được đọc cuốn sách lịch sử này nên Đào Nguyên Phổ khuyên tác giả nên đưa đi khắc in luôn để phổ biến rộng rãi.

Mở đầu bài tựa, Đào Nguyên Phổ khẳng định lịch sử lâu đời của đất nước, khẳng định địa vị độc lập, tự chủ sánh ngang với Trung Quốc. Điều này trước đấy năm thế kỷ, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói đển trong bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc- tác phẩm Bình Ngô đại cáo

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần đã bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.

Khẳng định điều này, Đào Nguyên Phổ một lần nữa muốn thể hiện niềm tự hào về lịch sử truyền thống lâu đời của đất nước. Chúng ta hoàn toàn có thể bình đẳng với người láng giềng lâu đời.

Phần nội dung chính của bài tựa, Đào Nguyên Phổ đã phân chia toàn bộ lịch sử Việt Nam làm ba thời kỳ dựa theo những suy luận và bằng chứng:

-Từ đời Hồng Bàng đến Thục An Dương Vương gọi là thời kỳ Nghi sử bởi vì “có bộ lạc mà chưa thành quốc gia, có ngôn ngữ mà chưa biết ghi chép, sử đã chép lại đều là truyền thuyết

- Từ đời Triệu Vũ đế đến Ngô Quyền gọi là thời kỳ khuyết sử vì việc chép sử còn nhiều thiếu sót “mười phần sót đến tám, chín phần nay muốn biểu dương việc tốt không căn cứ tường tận vào đâu được”.

- Từ đời Đinh Tiên Hoàng đến nhà Nguyễn gọi là Tín sử vì “đã có quốc sử quán ghi chép, rộng rãi mà có chứng cớ, tường tận mà không thiếu sót”.

Sau khi phân kỳ lịch sử xong, Đào Nguyên Phổ còn tiểu kết lại sự phân kỳ đó, và ở mỗi thời kỳ đều có sự so sánh rất tự nhiên, gần gũi, dễ hiểu. “Thời kỳ Nghi sử như thuỷ tổ của giống nòi, như nền móng của đất nước. Thời kỳ khuyết sử như môi giới cho nền khai hoá, như mẹ đẻ của nền tự chủ”. Đến thời kỳ tín sử thì cảm hứng tin yêu, tự hào, sôi nổi của Đào Nguyên Phổ trào dâng rất mạnh liệt, tác giả ví nó với những gì mạnh mẽ, oai phong, tốt đẹp nhất. “Thời kỳ tín sử thì sáng tỏ như ban ngày, mạnh như thuỷ triều, oai phong chấn động đến triều Nguyên, triều Minh, đất đai mở rộng sang nước Chiêm Thành, Chân Lạp, đất đã mở mang, dân càng đông đúc, non song gấm vóc, cây cỏ thái bình, rạng rỡ, vĩ đại biết bao”. Theo Đào Nguyên Phổ khi đọc, học sử ta cần dựa vào đó mà rút kinh nghiệm, học tập theo một cách linh hoạt, không nên rập khuôn máy móc, cần phải phân định rõ chỗ hay, chỗ dở,

“đâu phải, đâu trái”, từ đó mới có hành động đúng đắn “chỗ nào nên soi để bắt chước, chỗ nào nên răn để tránh, trên mặt giấy đã có thầy, trước mặt đã có gương soi không phải tìm ở đâu”.

Cuối bài tựa Việt sử mông học, Đào Nguyên Phổ cũng tha thiết mong mỏi mọi người đọc lịch sử nước nhà “nhân dân ta trước hết hãy đọc sử nước nhà, để trong đầu óc mình lúc nào cũng có tư tưởng về Tổ quốc Việt Nam”.

Nhưng chỉ đọc sử nước nhà thì chưa thể đủ. Chính vì vậy, ông không những khuyên nhân dân ta đọc sử ta để “phát huy cái tốt của đất nước mình, cái tinh hoa của dân tộc mình” mà còn khuyên mọi người tham khảo lịch sử của các châu, các nước khác “để xem xét về cách tiến bộ đột xuất”, “để biết những cái tinh xảo kỳ diệu để rõ lẽ hơn được, kém thua, so sánh cái giỏi kém giữa ta và người ngoài, để cải cách xã hội, xét xu hướng của thời vận”. Mục đích cuối cùng là “chuyển nghèo thành giàu, đổi yếu thành mạnh”. Những mục tiêu mà Đào Nguyên Phổ nêu ra ở đây cũng chính là những mục tiêu chung của phong trào Duy tân mà Phan Châu Trinh đề ra, cũng là mục tiêu được đề cập trong Văn minh tân học sách, một cuốn sách được coi như tôn chỉ, cương lĩnh hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục.

Với Việt sử tân ước toàn biên của Hoàng Đạo Thành (tự Cúc Lữ, cha nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thuý), Đào Nguyên Phổ cũng viết một bài tựa dài. Đây là bài tựa được Đào Nguyên Phổ chăm chút nhất, viết cẩn thận, tỉ mỉ và dung lượng cũng lớn nhất. Ngay trước khi cất bút viết lời đề tựa, Đào Nguyên Phổ đã ghi rõ tên, hiệu, quan hàm, thứ bậc đỗ đạt và năm thi đỗ. Điều này chứng tỏ thái độ rất cẩn trọng, nghiêm túc và chịu trách nhiệm trước những gì mình làm của tác giả. Mở đầu bài tựa là sự khẳng định việc lịch sử tồn tại như một lẽ tự nhiên, tất yếu ở mỗi quốc gia. “Nước không cứ lớn nhỏ, có nước ắt có sử. Sử như một bức ảnh chụp toàn cảnh đất đai, nhân dân cùng tình hình chính trị, giáo dục các thời đại”.

Với vốn tri thức Tân thư phong phú, khi bàn đến lịch sử ở bài tựa, Đào Nguyên Phổ đã liên hệ đến tình hình học sử ở các nước văn minh khác như châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản. ông đã thấy được thực tế rằng ở các nước văn minh này họ “rất coi trọng khoa sử học”. Chính vì coi trọng lịch sử nên họ rất chú trọng đến việc dạy lịch sử trong nhà trường và cả ngoài xã hội. Theo tác giả, việc học sử ngay từ bé sẽ khiến cho mỗi cá nhân gắn bó với gia đình, Tổ quốc hơn. Việc học sử sẽ làm cho tinh thần đoàn kết của cộng đồng được phát huy cao độ, giúp ích cho phát triển đất nước, xã hội. “Cho nên biết coi đất đai của Tổ quốc như tài sản riêng của mình, gặp người trong nước như cùng một bọc sinh ra, hợp đông đảo quần chúng thành đoàn thể lớn, lo liệu đến sự bình yên chung, mưu tính, lo liệu đến lợi ích chung. Người người đều có nghĩa vụ cống hiến cho sự nghiệp giàu mạnh của Quốc gia”.

“Nhìn người lại ngẫm đến ta”. Ở các nước văn minh thì họ giáo dục như thế, đoàn kết như thế, phát triển giàu mạnh như thế. Còn nước ta, vốn dĩ có đủ những điều kiện tốt để phát triển nhưng hiện thực thế nào? Hãy xem cách Đào Nguyên Phổ viết: “Nước Nam ta đường phân định ở sách trời. Đất đai của các Đế Vương xưa đã phân mao cỏ rẽ. Khí hậu thích nghi nên sản vật phong phú, là con cháu cha Rồng, mẹ Tiên, có nhiều tộc loại, thể chất và tài năng tốt đẹp. Đó là tư cách cực kỳ ưu việt. Thế mà ngày nay lại là một dân tộc quá yếu kém”. Chỉ trong mấy câu văn ngắn mà ta thấy được cả âm vang của bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta ( “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”- Nam quốc sơn hà), lại thấy thấp thoáng bóng dáng của truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt với mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân. Cách viết thể hiện được khả năng tổng hợp kiến thức sâu rộng, đồng thời thể hiện niềm tự hào, tự tôn về nguồn gốc, truyền thống lâu đời, rực rỡ của dân tộc ta. Mốc khởi đầu là quan trọng nhưng nếu trong quá trình tồn tại, phát triển không biết vươn lên thì sẽ tụt hậu. Theo Đào

Nguyên Phổ, nguyên nhân của tình trạng yếu kém, kạc hậu là do giáo dục, cụ thể hơn nữa là “do không giảng cứu về thực học”.

Một năm sau (năm 1907), khi Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời thì một trong những nội dung giảng dạy của trường là bỏ lối học hư văn mà chú trọng đến thực nghiệp. Thực nghiệp là các môn như: toán pháp, cách trí, vệ sinh… Còn ở bài tựa này thì thực học là gì? Theo Đào Nguyên Phổ thì “Ôi!

Cái gọi là thực học, thì điều kiện quan trọng số một là lịch sử nước nhà”.

Điều này cho thấy tác giả rất coi trọng môn học lịch sử, đặt môn học này lên rất cao, với thái độ nghiêm túc.

Thông qua bài tựa này, Đào Nguyên Phổ còn gián tiếp bác bỏ đường lối cầu viện của Phan Bội Châu khi ông cho rằng “Chớ có khăng khăng chờ đợi ở sự cầu cạnh người ta”. “Người ta” ở đây cũng có thể hiểu là những nhân vật, những gương trong Bắc sử, những tên tuổi thuộc Tống, Đường, Hán hay Chiến Quốc, Xuân Thu mà “hồi giữa thế kỷ XIX, các nhà văn thân chủ chiến còn soi”. Đào Nguyên Phổ cũng như các sĩ phu tiến bộ đầu thế kỷ XX muốn thay những tấm gương cũ ấy bằng những tấm gương khác, gần gũi hơn là ở trong quốc sử, đó là “nguồn nghị lực vô tận”. Quốc sử càng quan trọng bao nhiêu thì trái lại lối học cổ hủ bấy nay lại càng nguy hại bấy nhiêu. Lối văn thơ cử nghiệp ở nước ta từ xưa tới nay luôn lấy Trung Quốc làm trung tâm của mọi thứ, kể cả lịch sử của Trung Quốc cũng được xem trọng, còn quốc sử thì bị xem nhẹ, “chỉ học qua loa”. “Do vậy mà trăm năm, nghìn năm quả thực là điều sai lầm lớn của học giới. Cho nên, điều cực kỳ tệ hại là tư tưởng yêu nước cuả nhân dân bị chìm đắm. Con đường tấn thân lấy phương châm giúp nước bị mịt mù như cách trở trùng dương. Thấy người trong nước Bắc với Nam thì coi nguy hiểm như người nước khác. Đó là những người không đọc quốc sử vậy - Há có phải là riêng chịu sự quả báo của sự ngu dốt, hủ lậu mà

thôi đâu! Có thể nói ngay rằng cái gốc của sự nghèo hèn từ đó mà ra. Đây không phải là sự bàn luận thái quá đâu!”.

Thái độ phê phán của Đào Nguyên Phổ rất nghiêm túc. Tác giả đã thấy được tác hại rất lớn của việc không học quốc sử. Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét rất đúng về lời phê phán của Đào Nguyên Phổ như sau: “Đây là một lời phê bình có chiều sâu; cái học Nho giáo đó làm chìm đắm tư tưởng yêu nước của nhân dân, làm mờ mịt chủ trương cứu nước của sĩ phu, chuyện gần hoá xa, chuyện nhà hoá lạ, một cái học không có tính quốc học, một cái học thực tế là vong bản, một cái học nông cạn cũ kỹ và, hơn nữa, vong quốc.

Nghiêm khắc thay mà suy cho cùng thì không phải là không đúng trong cơ bản”[7; tr. 82].

Từ những phân tích để thấy được những tồn tại, khó khăn, Đào Nguyên Phổ cũng chỉ ra phương hướng hoạt động mới. Để phù hợp với vận hội mới, vị Hoàng Giáp họ Đào đưa ra tiêu chí cho những người trí thức, sĩ phu là:

phải nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử thế giới (thông kim bác cổ) đồng thời lại phải hiểu rõ lịch sử nước Nam. Có thể nói những tiêu chí mà Đào Nguyên Phổ đưa ra cách đây hơn một trăm năm đến nay vẫn còn giá trị, vẫn có tính thời sự. Để đạt được những tiêu chí đó, đồng thời để thực hiện việc khai dân trí, chấn dân khí thì nghĩa vụ quan trọng nhất là đọc sử nước Nam, phải in trong trí nhớ mọi người, nhất là những lớp người trẻ tuổi những hiểu biết về quốc sử. Không chỉ dừng lại ở quốc sử mà còn phải xem cả lịch sử thế giới để hoàn thiện bản thân. Có hiểu biết sâu rộng như thế thì mới giúp ích được cho bản thân, cho gia đình, đất nước. Để đạt được mục tiêu ấy thì cả người dạy và người học đều phải nghiêm túc thực hiện tốt trách nhiệm này.

Cuối bài tựa, Đào Nguyên Phổ mới đề cập trực tiếp đến tác giả và tác phẩm mà mình đề tựa. Ông đã không tiếc lời ca ngợi người bạn thân “văn chương vào bậc lão thành, lão luyện, có tài trác việt về lịch sử”. Lại ca ngợi

cả tác phẩm nhưng rất kiệm lời, súc tích “lời văn giản dị mà sáng sủa, bàn luận tinh tế mà xác đáng”. Cuốn sách không chỉ là những con chữ mà đã trở thành công cụ có tác dụng to lớn “là một cỗ máy rèn đúc nên quốc hồn, là phương thuốc linh nghiệm, bổ ích cho trí não người trong nước”.

Cả ba bài tựa đều nêu lên được những ý kiến hay, xác đáng và thuyết phục về tầm quan trọng của quốc sử và trách nhiệm của người dạy, học sử trong đào tạo con người mới trong thời đại mới. Chính vì nhận thấy tác dụng lớn lao của lịch sử trong cũng như ngoài nước nên khi còn đương chức Hàn lâm thừa chỉ, Đào Nguyên Phổ đã “trình” lên Thượng thư Bộ Lại đề nghị mua một loạt tân thư bao gồm bẩy “loại thư” trong đó “lịch sử loại thư” chiếm số lượng khá lớn (32 cuốn), chỉ sau “khoa học loại thư” (50 cuốn). Các cuốn sách lịch sử nước ngoài được Đào Nguyên Phổ đề nghị “nhập khẩu” hầu hết đều là lịch sử của các nước độc lập, văn minh, phát triển, tiến bộ như: Phi Luật Tân độc lập sử, Thái Tây dân tộc văn minh sử, Kim thế Âu châu ngoại giao sử, Nhật Bản duy tân tam thập niên sử…

Những đề nghị về tính cấp bách của việc học lịch sử mà Đào Nguyên Phổ đưa ra cách đây hơn một trăm năm đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, tính cấp thiết. Đúng như PGS Cao Đức Tiến viết trong bài Tư tưởng giáo dục của Hoàng Giáp Đào Nguyên PhổQuả thật, nếu việc dạy học lịch sử làm được như những mong muốn của Hoàng Giáp họ Đào, thì ngày nay, chúng ta đã không phải lo phiền về những học sinh nhớ những sự tích, những danh nhân nước ngoài hơn là nhớ tới những trang sử oai hùng và những danh nhân lỗi lạc của đất Việt. Và cũng không phải làm cái việc như có nơi đã làm là ở mỗi đầu phố mang tên một danh nhân, thì phải có thêm một cái bảng

“trích ngang” về thân thế, sự nghiệp của danh nhân đó. Thật cực chẳng đã mới phải làm như vậy!”.[61; tr. 249] Và nếu việc dạy, học lịch sử làm được như đề nghị cải cách của Đào Nguyên Phổ thì đã không có chuyện kỳ thi

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 60 - 71)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(118 trang)
w