Toàn cảnh văn chương thời đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 93 - 97)

Chương 3. Đào Nguyên Phổ trong dòng chảy văn chương những thập niên cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

3.1. Toàn cảnh văn chương thời đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

3.1.1. Xu hướng yêu nước.

Dòng văn học này đã ghi lại một cách trung thực, nhiệt tình cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc, tố cáo tội ác của bè lũ tay sai, thực dân, ca ngợi những tấm gương chiến đấu dũng cảm bảo vệ Tổ Quốc, ca ngợi vẻ đẹp của

quê hương, đất nước, đề nghị cải cách đất nước, đấu tranh cho tư tưởng duy tân, chống bảo thủ.

Dòng văn học yêu nước chống thực dân là văn học của toàn dân nên lực lượng sáng tác cũng đa dạng, từ sĩ phu đến dân thường. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là sĩ phu yêu nước. Để sáng tác một dòng văn học hướng tới đại đa số nhân dân, họ đã sử dụng đa dạng các thể loại và ngôn ngữ. Từ chữ Hán với các thể như thơ, phú, chiếu, hịch dành cho đối tượng là những người có học đến chữ Nôm với những thể loại dân gian như ca dao, hò, vè dành cho những người có ít hoặc không được học hành. Dòng văn học này bao gồm những tác giả vừa chiến đấu bằng ngòi bút, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu như Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Hữu Huân…; những tác giả chỉ chiến đấu bằng ngòi bút nhưng coi nó như “súng gươm” của mình như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…; bên cạnh đó là những tác giả không trực tiếp đả kích quân thù nhưng lại đấu tranh cho tư tưởng duy tân như Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh và những tác giả trong Đông Kinh Nghĩa Thục.

3.1.2. Xu hướng hiện thực trào phúng.

Dòng văn học trào phúng cũng là một vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống thực dân và phong kiến. Nhiều bài thơ trào phúng ra đời để mỉa mai, đả kích những hạng người hèn nhát tham sống sợ chết, sẵn sàng làm tay sai cho quân xâm lược, hống hách với nhân dân, xu nịnh, bợ đỡ quan trên…

Nhiều nhà Nho đã đả kích những cảnh lố lăng nhất là ở thành thị trong buổi giao thời ấy bằng giọng điệu giếu cợt nhẹ nhàng nhưng không kém sâu cay, độc địa. Đó là các nhà nho như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Học Lạc, Tú Quỳ, Huyện Nẻ, Kép Trà, Từ Diễn Đồng…Văn thơ trào phúng thời kỳ này đả kích mạnh mẽ những người bám vào Pháp, quay lại với nhân dân, đồng thời cũng tố cáo xã hội thối nát. Các nhà văn trào phúng muốn đả phá, đạp đổ,

tung hê tất cả cái xã hội bất công này. Đó là cái phố Hàng Song- một xã hội thu nhỏ mà Tú Xương đã ghi lại đầy sự xấu xa không liêm sỉ

Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, đốc thì lang, Chồng chung vợ chạ kìa cô bố Đậu lạy quan xin nọ chú hàn

Hệ thống quan lại trong thơ Tú Xương rặt là bọn dốt nát, hống hách, không biết chữ, chỉ biết ăn hối lộ, vơ vét cho đầy túi tham. Đây là “đại biểu”

tri phủ Xuân Trường:

Chữ “y”, chữ “chiểu” không phê đến Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”

3.1.3. Xu hướng lãng mạn thoát ly, khoái lạc chủ nghĩa.

Văn chương lãng mạn thoát ly, khoái lạc chủ nghĩa ra đời khi người ta không muốn nhìn thẳng vào thực tại, những vấn đề đang xảy ra trước mắt nên phải quay mặt đi, trốn chạy đến những nơi khác, đi tìm những thú vui khác như phong cảnh thiên nhiên, thơ, rượu, đàn, hát, tình yêu nam nữ. Xu hướng văn chương này đã xuất hiện từ lâu và thời nào cũng có. Nhưng đến thời điểm này, khi cả đất nước đang khốn khổ trước thực dân xâm lược thì xu hướng này, đứng về mặt chính trị mà xét thì có tính chất tiêu cực, được/bị đánh giá là tầm thường, nhạt nhẽo. Những tư tưởng lãng mạn này dường như bàng quan, đứng ngoài vòng xoáy chiến tranh khốc liệt của cả dân tộc. Nhưng nếu nhìn nhận một cách khách quan về giá trị lịch sử, giá trị văn chương mà nói thì văn chương lãng mạn thoát ly vẫn có những giá trị riêng, đóng góp vào nền văn chương Việt Nam những mảng màu nhất định mà nếu không có nó thì không được đầy đủ. Đó cũng là một cách yêu nước- xét trên một số tiêu chí nào đó như ca ngợi vẻ đẹp của non sông, đất nước- chẳng hạn. Một số nhà thơ tiêu

biểu cho xu hướng này là Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Vũ Phạm Hàm, Dương Lâm.

Văn chương lãng mạn thoát ly giai đoạn này không được đánh giá cao vì nó không có tác dụng như một công cụ chiến đấu. Bên cạnh hai xu hướng chính là văn chương yêu nước và văn chương hiện thực trào phúng thì văn chương lãng mạn thoát ly chỉ được chú ý tới trên phương diện nghệ thuật, văn chương. Nó không được xếp vào hàng ngũ của bộ phận văn chương quan trọng, đáng chú ý trong giai đoạn này.

3.1.4. Xu hướng văn học nô dịch.

Dòng văn học này bao gồm trong nó những tác giả làm việc cho thực dân Pháp, bệnh vực, ca ngợi công ơn khai hóa văn minh của Pháp. Các cây bút của dòng văn học này thường xuyên bị các cây bút của dòng văn học yêu nước đả kích dẫn đến những trận bút chiến rất gay gắt đơn cử như cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Đây là xu hướng văn học ít được chú ý, có ít giá trị nội dung.

Trong số bốn xu hướng văn chương giai đoạn những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vừa đề cập ở trên thì xu hướng văn chương yêu nước phát triển như một dòng chảy chính, cuốn theo nó đội ngũ tác giả đông đảo và cho ra đời khối lượng tác phẩm đồ sộ nhất.

Với những đặc thù là một đất nước liên tục có chiến tranh, văn học yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc ta như một dòng chảy hùng mạnh kéo dài suốt từ những ngày đầu tiên hình thành nhà nước, chảy qua các triều đại. Đến giai đoạn này, khi phải đối diện với một kẻ thù xa lạ, hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của dân tộc, khác xa và tiến bộ hơn chúng ta rất nhiều thì nền văn học yêu nước cũng có nhiều thay đổi, mở rộng hơn về biên độ.

Một phần của tài liệu Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Trang 93 - 97)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(118 trang)
w