Trong quá trình hoạt động, chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành đã cung cấp nhiều dịch vụ ngoài tín dụng cho khách hàng. Theo thống kê, hiện nay Chi nhánh Hà Thành đã cung cấp cho thị trường khoảng 45 dịch vụ (phân theo các tiêu thức phù hợp).Tuy nhiên, trong phạm vi bài này, do thời gian hạn chế nên tôi chỉ đề cập đến một số dịch vụ ngoài tín dụng chủ yếu của Chi nhánh Hà Thành.
2.3.1 Nhóm dịch vụ tiền gửi
Theo quyết định số: 165/HĐQT-KHTH ngày 30/6/2003 của Chủ tịch hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam, Chi nhánh Hà Thành đang triển khai hai hình thức tiền gửi chính:
- Tiền gửi thanh toán, bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn(1-12 tháng). Khách hàng có thể gửi tiền thanh toán bằng VND hoặc USD hoặc EUR.
- Tiền gửi tiết kiệm, bao gồm: Tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn (1-24 tháng).
Để mở rộng dịch vụ tiền gửi, Chi nhánh Hà Thành tập trung chủ yếu vào công tác mở rộng chi nhánh và các biện pháp marketing. Hiện nay, chi nhánh đang có hai phòng giao dịch trực thuộc. Và trong năm 2008, chi nhánh Hà Thành sẽ mở thêm 6 phòng giao dịch và 5 chi nhánh trực thuộc. Để thu hút sự quan tâm của khách hàng và thu hút được nguồn tiền gửi lớn thì ngoài một vị trí kinh doanh thuận lợi (ở các khu vực đông dân cư, khu thương mại) thì chi nhánh đã áp dụng một chính sách lãi suất huy động vốn hợp lý và có nhiều chương trình khuyến mại.
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh Hà Thành
ĐVT: Triệu đồng
TT Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Tổng vốn huy động 273.843 340.000 350.259 530.058 1 Tiền gửi của tổ
chức kinh tế-xã hội
98.560 150.890 199.778 456.475 2 Tiền gửi của dân cư 82.383 99.610 72.447 73.583 3 Tiền gửi của các tổ
chức tín dụng và tiền gửi khác
92.900 89.500 78.034 0
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp của chi nhánh Hà Thành năm 2004-2007)
Biểu đồ 2.1:Ttốc độ tăng trưởng vốn huy động tại chi nhánh Hà Thành
0 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000 300,000 350,000 400,000 450,000 500,000
2004 2005 2006 2007
Tiền gửi của TC KT-XH Tiền gửi của dân cư Tiền gửi của các TCTD và tiền gửi khác
Qua bảng, biểu đồ trên cho thấy số vốn huy động được của chi nhánh Hà Thành ngày càng tăng. Năm 2004, tổng vốn huy động được đạt 273.483 triệu đồng và đến năm 2005 đạt 340.000 triệu đồng tức tăng 66.517 triệu đồng tương đương 24%. Đến năm 2006, tổng nguồn vốn huy động được tăng ít hơn, chỉ tăng khoảng 10.259 triệu đồng so với năm 2005 (tương đương 3%). Đặc biệt, năm 2007 nguồn vốn huy động đuợc của chi nhánh Hà Thành tăng nhanh, tăng 179.799 triệu đồng so với năm 2006 ( tương đương 51%).
Để đạt được kết quả nêu trên, ngoài sự quan tâm của Ban giám đốc cùng các phòng nghiệp vụ của chi nhánh NHNo&PTNT thăng Long là sự cố gắng không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên chi nhánh Hà Thành trong việc duy trì tốt mối quan hệ với những khách hàng có nguồn vốn lớn như: Công ty SONA, công ty HUD, tổng công ty LILAMA . . . Ngoài ra, chi nhánh luôn quan tâm đến công tác tiếp thị , phong cách giao dịch với khách hàng luôn được khách hàng đánh giá cao.
Trong cơ cấu nguồn vốn thì nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế-xã hội tăng mạnh, từ 98.560 triệu đồng năm 2004 tăng lên 150.890 triệu đồng năm 2005 tức tăng 52.330 triệu đồng tương đương với 53%. Đặc biệt năm 2007 có sự gia tăng
lớn nhất, lên tới 456.475 triệu đồng, tăng 256.697 triệu đồng so với năm 2006 tương đương với 128,5%.
Trong khi đó nguồn vốn từ dân cư lại có một chút biến động, năm 2004 đạt 82.383 triệu đồng và năm 2005 đạt 99.610 triệu đồng tức tăng lên 17.227 triệu đồng tương đương với 21%. Tuy nhiên, sang năm 2006 chỉ còn 72.447 triệu đồng, giảm 27.163 triệu đồng. Đến năm 2007 có tăng lên nhưng lượng tăng không đáng kể.
Còn nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng lại giảm, năm 2004 đạt 92.900 triệu đồng nhưng đến năm 2005 chỉ còn 89.500 triệu đồng. Đặc biệt, trong năm 2007 so với các nguồn khác thì nguồn huy động từ tổ chức tín dụng là rất ít, hầu như không có.
Nguyên nhân của việc dịch chuyển cơ cấu nguồn vốn trên là do chi nhánh đã có chiến lược nhằm tập trung việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế-xã hội để có được sự ổn định lâu dài, đồng thời tránh sự lệ thuộc vào các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, dân cư lại sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư nhiều hơn vào chứng khoán và bất động sản thay vì gửi vào ngân hàng. Ngoài ra, trong thời gian qua chi nhánh Hà Thành còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt về chính sách khách hàng, lãi suất, cộng nghệ từ các ngân hàng khác trên cùng địa bàn.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động việc cung ứng dịch vụ huy động vốn của chi nhánh Hà Thành còn một số hạn chế sau:
Thứ nhất, số lượng các dịch vụ huy động vốn chưa nhiều và chất lượng dịch vụ chưa có tính cạnh tranh cao.
Hiện nay, chi nhánh Hà Thành mới chỉ tập trung vào những dịch vụ huy động vốn truyền thống trong khi có quá ít các dịch vụ mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng như: Tiết kiệm xây nhà ở, tiết kiệm tiêu dùng cá nhân . . . Hay những dịch vụ huy động vốn trong thời gian ngắn(1 tuần, 2 tuần . . .) là chưa hề có. Những dịch vụ huy động vốn mà chi nhánh Hà Thành cung cấp hầu hết ở các NHTM khác đều có, chất lượng so với các ngân hàng khác chưa cao.
Thứ hai, lãi suất huy động chưa linh hoạt và phù hợp với thị trường.
Lại suất huy động vốn của chi nhánh Hà Thành thật sự chưa linh hoạt, không theo kịp sự thay đổi của lãi suất thị trường. Lãi suất huy động vốn của chi nhánh hầu hết thấp hơn lãi suất của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nên chưa khuyến khích được khách hàng gửi tiền.
Thứ ba, tỉ lệ tiền gửi của dân cư còn thấp.
Tính đến 31/12/2007, tiền gửi của dân cư chỉ chiếm 14% tổng nguồn vốn, trong khi đó tiền gửi của tổ chứ kinh tế chiếm tới 86% tổng nguồn vốn. Sở dĩ việc huy động vốn từ dân cư còn thấp là do chi nhánh còn chưa phát triển rộng rãi các dịch vụ như: Thanh toán không dùng tiền mặt, việc phát hành thẻ ATM thì chỉ rút được tiền chứ chưa sử dụng hết tiện ích của nó . . .
Thứ tư, tài khoản vãng lai, tài khoản cá nhân được mở nhưng hoạt động còn ít và chưa có hiểu quả.
Đến cuối năm 2007, tại chi nhánh đã có 5273 tài khoản được mở, trong đó có 5000 tài khoản cá nhân. Tuy số lưọng tài khoản được mở tăng lên đáng kể nhưng số tài khoản thực sự đi vào hoạt động còn rất hạn chế, do đó số vốn mà ngân hàng tạm thời sử dụng trên các tài khoản chưa nhiều.
2.3.2 Dịch vụ thanh toán trong nước
Dịch vụ thanh toán luôn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu DVNH vì nó đóng góp một phần lợi nhuận cho ngân hàng từ việc thu phí dịch vụ, mặt khác còn tạo ra nguồn vốn đáng kể cho ngân hàng thông qua các số dư trên tài khoản vãng lai.
Sau gần 8 năm hoạt động, chi nhánh Hà Thành có các dịch vụ thanh toán chính sau:
- Chuyển tiền đến: Là việc chi nhánh Hà Thành thực hiện nhận các khoản chuyển tiền được chỉ định chuyển cho khách hàng và ghi có vào tài khoản tiền gửi hoặc nhận bằng tiền mặt qua các chi nhánh của các ngân hàng trên cùng hệ thống hoặc khác hệ thống.
- Chuyển tiền đi: Là việc chi nhánh Hà Thành thực hiện việc chuyển tiền cho người thụ hưởng trong nước theo lệnh của khách hàng. Chi nhánh sẽ thực hiện chuyển tiền đến mọi địa phương trong phạm vi cả nước.
Để thực hiện hoạt động thanh toán, chi nhánh Hà Thành đã sử dụng nhiều phương tiện thanh toán như: Séc, thẻ thanh toán, chuyển tiền . . . Với sự đầu tư hợp lý, trong thời gian qua chi nhánh Hà Thành đã thu được một số kết quả:
Bảng 2.4: Doanh số và thu phí dịch vụ thanh toán trong nước tại chi nhánh Hà Thành
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Doanh số thanh toán 59.547 62.914 69.053 79.968
Thu phí dịch vụ 584 632 691 811
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của chi nhánh Hà Thành năm 2004-2007).
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán trong nước tại chi nhánh Hà Thành
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
2004 2005 2006 2007
Doanh số thanh toán
Qua bảng, biểu đồ trên có thể thấy doanh số thanh toán trong nước của chi nhánh Hà Thành không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2004, doanh số thanh toán đạt 59.547 triệu đồng và đến năm 2005 đạt 62.914 triệu đồng tức chỉ tăng khoảng 3.367 triệu đồng tương đương với 5%. Sang năm 2006 và 2007 thì có tăng nhiều hơn, năm 2006 đạt 69.053 triệu đồng (tăng 9% so với năm 2005), còn năm 2007 đạt 79.968 triệu đồng ( tăng 15% so với năm 2006).
Sở dĩ đạt được kết quả trên là do chi nhánh Hà Thành đã tạo được lòng tin đối với khách hàng bằng việc đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác và tuyệt đối an toàn.
Tuy nhiên, trong qúa trình hoạt động, dịch vụ thanh toán trong nước của chi nhánh còn gặp một số hạn chế nhất định:
Thứ nhất, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc mở rộng dịch vụ chuyển tiền cá nhân, thể hiện:
- Chưa có một bộ phận riêng biệt để hướng dẫn khách hàng đến giao dịch.
Điều này đã gây không ít khó khăn, lúng túng cho khách hàng vì có qua nhiều khâu, nhiều phòng giao dịch.
- Các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh không trực tiếp thực hiện dịch vụ chuyển tiền cá nhân. Nếu khách hàng có nhu cầu chuyển và nhận tiền thì phải đến trụ sở chính.
- Quy trình nghiệp vụ kĩ thuật còn nhiều hạn chế. Khi khách hàng có nhu cầu chuyển tiền thì khách hàng phải tự viết giấy nộp tiền, kê khai các loại tiền . . . điều này đã làm mất nhiều thời gian của khách hàng.
Thứ hai, thói quen sử dụng của người dân. Thay vì đến ngân hàng để chuyển tiền thì người dân vẫn đến các bưu điện. Nguyên nhân là do chất lưọng dịch vụ chuyển tiền của ngân hàng không được như bưu điện. Mặt khác, ngân hàng chưa có chiến lược marketing để tuyên truyền, quảng bá về dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng nên người dân còn ít biết đến.
Do đó, để thu hút được sự quan tâm của khách hàng thì chi nhánh Hà Thành phải tập trung giải quyết những vướng mắc trên.
2.3.4 Dịch vụ thanh toán quốc tế
Dịch vụ thanh toán quốc tế mới được chi nhánh Hà Thành đưa vào cung cấp trong 5 năm trở lại đây. Hiện tại chi nhánh Hà Thành đang cung cấp cho khách hàng 6 hình thức TTQT sau: Nhờ thu xuất khẩu, nhờ thu nhập khẩu, thư tín dụng xuất khẩu, thư tín dụng nhập khẩu, chuyển tiền đi, chuyển tiền đến.
Trong 6 hình thức này thì hình thức thư tín dụng dụng xuất, nhập khẩu chiếm tỉ trọng nhiều nhất, còn các hình thức còn lại chiếm tỉ trọng ít hơn nên trong phần này sẽ tập trung vào hình thức thư tín dụng.
* Thanh toán hàng nhập khẩu bằng thư tín dụng (L/C)
Để đáp ứng hoạt động sản xuất và tiêu dùng của xã hội, các doanh nghiệp không ngừng nhập khẩu các thiết bị máy móc, cộng nghệ hiện đại và các sản phẩm-dịch vụ dành cho tiêu dùng. Do đó, kim nghạch nhập khẩu không ngừng tăng cao. Với mục đích phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu, chi nhánh Hà Thành đã tiến hành cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán cụ thể sau:
- Phát hành thư tín dụng
Theo đó chi nhánh Hà Thành cam kết thanh toán cho NH của nhà xuất khẩu một khoản tiền nhất định nếu họ xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo.
- Sửa đổi thư tín dụng.
Theo yêu cầu của bên thụ hưởng hoặc bên phát hành, chi nhánh Hà Thành sẽ tiến sửa đổi các nội dung của L/C: số tiền, chất lượng hàng hoá, điều khoản thanh toán . . . trên cơ sở sự đồng ý của hai bên.
- Kí hậu vận đơn hoặc phát hành bảo lãnh nhận hàng.
- Nhờ thu đến hoặc điện đòi tiền để thanh toán L/C.
Khi nhân được bộ chứng từ nhờ thu, hoặc điện điện đòi tiền để thanh toán L/c từ doanh nghiệp hay ngân hàng nước ngoài. Chi nhánh Hà Thành sẽ tiến
hành thông báo bằng văn bản cho khách hàng. Nếu đồng ý, khách hàng sẽ gửi văn bản theo mẫu cho người có thẩm quyền kí tên cho chi nhánh để lấy bộ chúng từ gốc trước khi nhận hàng.
- Chuyển tiền đi.
Theo lệnh của chủ tài khoản, chi nhánh sẽ tiến hành chuyển tiền ra nước ngoài cho bên xuất khẩu. Thông thường, điều khoản chuyển tiền được quy định trong hợp đồng nhập khẩu.
* Thanh toán hàng nhập khẩu bằng thư tín dụng.
Để phục vụ thanh toán hàng xuất, chi nhánh Hà Thành đã tiến hành cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ sau: Thông báo L/C và sửa đổi, tư vấn L/C, gửi bộ chứng từ hàng xuất để thanh toán, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Tuy nhiên, thực chất của chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất là dịch vụ tín dụng nên không thuộc phạm vi nghiên cứu. Vì trong nghiệp vụ này chi nhánh sẽ tiến hành ứng cho người thụ hưởng một khhoản tiền để nhận được quyền đòi tiền từ bộ chứng từ hàng xuất dưới hai hình thức:
- Chi nhánh sẽ mua đứt bộ chứng từ hàng xuất và chịu mọi rủi ro khi bên nước ngoài không chịu thanh toán.
- Hoặc chi nhánh thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất và được quyền truy đòi khách hàng nếu bên nước ngoài từ chối thanh toán
Sau gần 8 năm hoạt động, dịch vụ TTQT của chi nhánh đã thu hút đuợc nhiều khách hàng lớn như: Công ty thực phẩm miềm Bắc, công ty cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại SONA . . .và tiến hành thanh toán cho nhiều mặt hàng xuất khẩu: Cao su, tiêu, điều, khoá . . . cũng như nhiều mặt hàng nhập khẩu: Hoá chất, máy móc thiết bị, vải, thép, linh kiện diện tử . . .
Bảng 2.5: Doanh số TTQT và thu phí dịch vụ TTQT tại chi nhánh Hà Thành ĐVT: USD
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Doanh số TTQT 13.464.05
0 12.597.750 11.257.544 26.732.787 Doanh số thanh toán
hàng xuất 402.437 496.750 213.188 11.698.787
Doanh số thanh toán hàng nhập
13.061.62
3 12.101.000 11.044.356 15.034.000 Thu phí dịch vụ TTQT 20.360 19.050 17.023 40.424
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp của chi nhánh Hà Thành năm 2004-2007)
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng truởng doanh số TTQT tại chi nhánh Hà Thành
0 5,000,000 10,000,000 15,000,000 20,000,000 25,000,000 30,000,000
2004 2005 2006 2007
Doanh số TTQT Doanh số thanh toán xuất khẩu Doanh số thanh toán nhập khẩu
Qua bảng, biểu đồ trên có thể thấy hoạt động TTQT của chi nhánh Hà Thành trong những năm qua có nhiều biến động.
Doanh số TTQT trong 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006 có sự giảm sút.
Năm 2004 đạt 13.464.050 USD, đến năm 2006 chỉ đạt 11.257.544 USD. Nhưng sang năm 2007, doanh số TTQT của chi nhánh lại tăng mạnh đạt 26.732.787 USD, tăng 15.475.243 USD so với năm 2006 tương đương với 157,5%. Sự gia tăng này là do doanh số thanh toán xuất khẩu năm 2007 tăng mạnh, trong khi đó doanh số thanh toán nhập khẩu cũng tăng nhưng với lượng vừa phải.
Nguyên nhân của sự biến động trên là do:
Thứ nhất, gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM khác trên cùng địa bàn, đặc biệt là các ngân hàng chuyên về lĩnh vực TTQT như: Ngân hàng ngoại thương, ngân hàng xuất-nhập khẩu.
Thứ hai, kinh nghiệm trong lĩnh vực TTQT của chi nhánh Hà Thành còn chưa nhiều. Cán bộ công nhân viên phải vừa làm, vừa học hỏi. Đặc biệt trong lĩnh vực luật Quốc tế chưa có sự tìm hiểu kĩ lưỡng.
Thứ ba, tốc độ thanh toán - chuyển tiền Quốc tế của chi nhánh Hà Thành còn tương đối chậm (nhất là so với ngân hàng ngoại thương). Đồng thời, các loại hình dịch vụ phục vụ cho TTQT còn chưa đa dạng, thủ tục rườm rà làm mất nhiều thời gian của khách hàng và ảnh hưởng tới hiểu quả kinh doanh.
2.3.5 Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ và chi trả kiều hối
* Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
Theo quy định của NHNN Việt Nam và hướng dẫn của Tổng giám đốc NHNO&PTNT Việt Nam, chi nhánh Hà Thành đã triển khai mua bán các ngoại tệ mạnh như: USD, EUR. JPY . . ., trong đó chủ yếu mua bán hai loại ngoại tệ:
USD, EUR. Với kết quả đạt được, chi nhánh không những tự cân đối nguồn vốn ngoại tệ để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, mà còn bán cho sở giao dịch.
Bảng 2.6: Doanh số kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh Hà Thành
ĐVT: Ngàn USD
Năm
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Doanh số mua vào
4.992 5.075 5.511 5.477
Doanh số bán ra 5.001 5.185 5.533 6.872
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp của chi nhánh Hà Thành năm 2004-2007).
Chú ý: Các ngoại tệ khác đã được quy đổi về USD theo tỉ giá tại thời điểm tính.
Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh Hà Thành
0 1,000 2,000 3,000 4,000 5,000 6,000 7,000
2004 2005 2006 2007
Doanh số mua vào doanh số bán ra
Từ bảng, biểu đồ trên cho thấy trong 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006, doanh số mua bán ngoại tệ không có sự chênh lệch nhiều. Hầu như doanh số mua vào bằng doanh số bán ra. Nhưng sang năm 2007, doang số bán ra lại tăng