CHƯƠNG 3: THÀNH NGỮ TRUYỆN KIỀU XÉT TỪ BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
3.2.2. Thành ngữ nói về con ngườ
Số lượng thành ngữ nói về con người được tác giả Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều hết sức phong phú và đa dạng. Để tiện theo dõi, luận văn phân chia các thành ngữ nói về con người thành các tiểu loại theo từng chủ đề: thành ngữ nói về hình thức con người, thành ngữ chỉ về hạng người – loại người, thành ngữ về thân phận con người, thành ngữ thể hiện tình thế mà con người gặp phải, thành ngữ miêu tả không gian sinh sống của con người, thành ngữ miêu tả hành động của con người, những trạng thái tâm lý của nhân vật trong Truyện Kiều…
Với mỗi chủ đề thành ngữ trên, chúng tôi lại tiếp tục phân tích giá trị ngữ nghĩa theo hai phương diện: mặt tích cực – mặt tiêu cực.
3.2.2.1 Thành ngữ nói về hình thức con người
Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều được Nguyễn Du phân thành các tuyến nhân vật theo phẩm chất tốt – xấu, thiện – ác… Vì thế, khi đi vào miêu tả hình thức của nhân vật, tác giả cũng chú tâm miêu tả hình thức của nhân vật theo phẩm chất. Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy trong Truyện Kiều còn có hình ảnh những con người rơi vào hoàn cảnh bi kịch, hình dáng bên ngoài của họ trở nên phai tàn, ủ dột hay buồn bã, âu sầu. Căn cứ vào những nội dung trên của thành ngữ chúng tôi phân tích giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ nói về hình thức con người thành các ý nhỏ: hình thức đẹp, hình thức xấu và hình thức của con người rơi vào hoàn cảnh bi kịch.
3.2.2.2 Hình thức đẹp của các nhân vật trong Truyện Kiều
Trong Truyện Kiều, hình thức đẹp của các nhân vật được miêu tả rất khác nhau, có vẻ đẹp được thể hiện qua những câu thơ nhưng cũng có những vẻ đẹp lại được ẩn chứa trong những thành ngữ cô đọng, hàm súc như vẻ đẹp của các nhân vật: Kim Trọng, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải.
Vẻ đẹp của nhân vật Kim Trọng thể hiện qua thành ngữ: “Cây quỳnh cành giao” (Hài văn lần bước dặm xanh/ Một vùng như thể cây quỳnh cành giao). Thành ngữ này được giải thích trong “Từ điển Truyện Kiều” của tác
giả Đào Duy Anh như sau: “ cây quỳnh cành giao là cây ngọc quỳnh, cành ngọc giao, chữ dùng để diễn tả vẻ đẹp của con người có phong cách như tiên” [1,72]. Hay phần chú thích trong cuốn “ Truyện Kiều (chú thích, chú giải và những tư liệu gốc)” đã viết: “ đây ý nói vẻ đẹp khôi ngô, tuấn tú của Kim Trọng đẹp nổi hẳn lên giữa một vùng phong cảnh ấy” [10,356]. Đây là phong cảnh buổi tết thanh minh khi chị em Thúy Kiều đi tảo mộ và lần đầu tiên Thúy Kiều gặp Kim Trọng.
Trong thành ngữ này, Nguyễn Du sử dụng hình ảnh ước lệ: cây quỳnh, cành giao tượng trưng cho vẻ đẹp của chàng trai tuấn tú ví như tùng, cúc, trúc, mai tượng trưng cho người quân tử. Như vậy, thành ngữ dân gian cũng có những hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp của con người.
Vẻ đẹp của nhân vật Thúy Vân được thể hiện bằng thành ngữ: “ Hoa cười ngọc thốt” ( Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da). Thành ngữ trên có cấu tạo khá độc đáo theo kiểu đối kết hợp với lối so sánh ngầm làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật Thúy Vân: “ hoa và ngọc bị nhân cách hóa chỉ cái cười tươi như hoa, tiếng nói trong như ngọc” [1,241]. Đây là cách nói quen thuộc của văn học trung đại thông qua nghệ thuật ước lệ.
Với nhân vật Thúy Kiều, dường như Nguyễn Du đã ưu ái hơn cho vẻ đẹp của nàng thông qua việc sử dụng khá nhiều thành ngữ để diễn tả hình thức của Kiều. Vẻ đẹp hình thức của nàng chiếm số lượng 5/8 thành ngữ dùng chung để chỉ vẻ đẹp hình thức của các nhân vật trong Truyện Kiều.
+ Thành ngữ “Nghiêng nước nghiêng thành” (Một hai nghiêng nước nghiêng thành/ Sắc đành đòi một tài đành họa hai): Tác giả Nguyễn Thạch Giang trong “Truyện Kiều (chú thích, chú giải và những tư liệu gốc)” đã chú thích về thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành” như sau: “ đẹp đến nỗi làm người ta say mê, bỏ cả nhiệm vụ, để mất cả đất nước. Đây là chữ cực tả vẻ đẹp của người phụ nữ” [10,345]
Qua thành ngữ trên, có thể thấy vẻ đẹp của người phụ nữ trong quan niệm xã hội phong kiến không chỉ được so sánh, ví von với những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp như liễu, đào, mai, lan… mà vẻ đẹp ấy còn được so sánh với những hình ảnh có vị trí quan trọng của một quốc gia như hình ảnh đất nước, thành quách… Đây là những hình ảnh thể hiện sức mạnh uy quyền. Như vậy, vẻ đẹp của người con gái không chỉ dừng lại ở hình ảnh thiên nhiên – vốn được coi là chuẩn mực của cái đẹp mà vẻ đẹp của Kiều còn khiến thành quách vững vàng cũng nghiêng đổ, con người say mê vẻ đẹp ấy mà bỏ quên nhiệm vụ giữ nước của mình.
+ Thành ngữ “Quốc sắc thiên hương” (Đã nên quốc sắc thiên hương/ Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa) là thành ngữ Hán Việt. Trong
Truyện Kiều, số lượng các thành ngữ Hán Việt chiếm một tỉ lệ nhỏ. Thành ngữ trên có cấu tạo theo kiểu đối miêu tả vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều trong cảm nhận của nhân vật Mã Giám Sinh. Tác giả Đào Duy Anh đã giải thích: “ quốc sắc thiên hương là sắc nước hương trời, chỉ người tuyệt đẹp”
[1,449]. Hay tác giả Nguyễn Thạch Giang chú giải: “ chỉ người đàn bà có sắc đẹp hiếm có” [10,426].
Thành ngữ đã sử dụng cách nói thậm xưng để đề cao vẻ đẹp của con người: vẻ đẹp nhất nước, hương thơm của trời. Như vậy, vẻ đẹp của con người không đơn thuần miêu tả với vẻ đẹp trần gian mà hơn thế, nó hàm chứa vẻ đẹp thánh thiện, cao quý, vẻ đẹp như có cả bề rộng và tầm cao.
+ Thành ngữ “ Sắc nước hương trời” (Than ôi sắc nước hương trời/ Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây) có giá trị ngữ nghĩa trùng lặp với thành ngữ “Quốc sắc thiên hương”. Cả hai thành ngữ này đều chỉ “ sắc đẹp nhất nước, hương của nhà trời, chỉ người con gái tuyệt đẹp” [1,471]. Đây là lời khen của Sở Khanh khi lừa Thúy Kiều trốn khỏi lầu Ngưng Bích.
Qua việc sử dụng hai thành ngữ trên, có thể thấy Nguyễn Du hết sức linh hoạt khi diễn tả cùng một vấn đề, cùng một nội dung nhưng các thành
ngữ có thể được sử dụng với nhiều hình thức khác nhau, khi thì thuần Việt, khi lại là thành ngữ Hán Việt.
+ Thành ngữ “Đổ quán xiêu đình” ( Lạ cho cái sóng khuynh thành/ Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi) nói lên vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều. Vẻ đẹp ấy có sức lay động mạnh mẽ. So sánh với thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành” đã đề cập ở trên, có thể thấy cách thức miêu tả của Nguyễn Du vô cùng phong phú và đa dạng, tác giả sử dụng những hình ảnh với những cấp độ, tầng bậc khác nhau để miêu tả vẻ đẹp hiếm có của nhan sắc Thúy Kiều.
+ Thành ngữ “Trong ngọc trắng ngà” (Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày đúc sẵn một tòa thiên nhiên) có kết cấu so sánh ở dạng ngầm ẩn, không sử dụng từ so sánh. Với kiểu so sánh ngầm ẩn này, tác giả đã miêu tả được vẻ đẹp tuyệt vời của cơ thể Thúy Kiều dưới con mắt say tình của Thúc Sinh. Tác giả Đào Duy Anh đã giải thích thành ngữ này như sau: “ trong như ngọc, trắng như ngà, chỉ thân thể của người đẹp” [1,581].
Vẻ đẹp của nhân vật Từ Hải được thể hiện bằng thành ngữ “Hàm én mày ngài” (Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao). Có thể nói đây là thành ngữ có tính ước lệ cao nhất trong các thành ngữ sử dụng để miêu tả vẻ đẹp hình thức của các nhân vật trong Truyện Kiều. Thành ngữ này là một sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Du khi miêu tả hình thức của người anh hùng Từ Hải. Tác giả Nguyễn Thạch Giang đã chú thích về thành ngữ này như sau: “ hàm rộng như hàm chim én, lông mày to đậm cong như con tắm, là tướng của người anh hùng” [10,504].
Như vậy, con người anh hùng trong quan niệm của Nguyễn Du là con người có tướng mạo khác thường.
Trên đây là những phân tích giá trị ngữ nghĩa của các thành ngữ viết về vẻ đẹp hình thức của các nhân vật trong Truyện Kiều. Chúng tôi sẽ đưa ra những kết luận về cách sử dụng thành ngữ này ở phần nhận xét sau khi trình bày về thành ngữ miêu tả hình thức xấu và hình thức buồn, đau khổ, tàn phai của các nhân vật khi bị lâm vào hoàn cảnh bi kịch.
3.2.2.3 Hình thức xấu của các nhân vật trong Truyện Kiều
Những nhân vật có phẩm chất, cốt cách và khí phách tốt đẹp thường được Nguyễn Du miêu tả với hình thức đẹp. Ngược lại, những nhân vật có tính cách xấu thường được tác giả miêu tả với hình thức xấu. Trong đó, tiêu biểu là nhân vật Hoạn Thư được miêu tả qua thành ngữ: “Thơn thớt nói cười”
( Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không dao). Đây là thành ngữ được Nguyễn Du vận dụng sáng tạo từ thành ngữ “Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm” nhằm diễn tả sự ghê gớm, thâm độc của con người. Từ điển giải thích thành ngữ này như sau: “ Ngoài miệng thì ngọt ngào, tử tế nhưng trong lòng thì nham hiểm, cay độc” [40,461].
Khi nói về con người có hình thức đẹp, các thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng thường xuất hiện những hình ảnh trang trọng, đẹp, cao quý hoặc vững vàng, uy nghi như: hoa, ngọc, đất nước, thành quách, đình, trời… nhưng khi miêu tả hình thức của con người với tâm địa độc ác, hiểm sâu tác giả lại sử dụng những hình ảnh đời thường, thậm chí xoàng xĩnh: ớt ngâm. Thành ngữ “Thơn thớt nói cười” được vận dụng sáng tạo từ thành ngữ dân gian, không chỉ đơn thuần miêu tả hình thức mà quan trọng hơn người đọc thấy được bản chất của con người qua các hình ảnh đó. Hình thức khác thường ấy khiến cho con người hoài nghi về sự ngọt ngào, tươi cười, đon đả.
3.2.2.4 Hình thức của con người rơi vào hoàn cảnh bi kịch
Con người lúc lâm vào hoàn cảnh bi kịch, khốn cùng thường có những biểu lộ ra bên ngoài khiến người đối diện phần nào cảm nhận được những khó khăn mà họ phải đương đầu. Trong Truyện Kiều, có một số nhân vật được tác giả khắc họa hình thức khi rơi vào hoàn cảnh bi kịch: Thúy Kiều, Thúc Sinh, Kim Trọng và Từ Hải. Chúng tôi chỉ chọn ra phân tích một số biểu hiện tiêu biểu.
Hình thức của Thúy Kiều khi rơi vào hoàn cảnh bi kịch, buồn bã được thể hiện qua thành ngữ với vẻ ngoài ủ rũ, đau đớn, sắc đẹp bị tàn phai. Mỗi một hoàn cảnh, Kiều lại được miêu tả với một thành ngữ khác nhau nhưng
nhìn chung đó đều là những thành ngữ giúp người đọc hình dung một cách chuẩn xác nhất tâm trạng bộc lộ qua bề ngoài của Kiều:
- Thúy Kiều trước mộ Đạm Tiên: Khi đi tảo mộ vào dịp Tết Thanh minh cùng hai em, bắt gặp nấm mồ vô chủ bên đường và được nghe Vương Quan kể về cuộc đời tài hoa bạc mệnh của kỹ nữ Đạm Tiên, Kiều đã thực sự thổn thức bởi mối đồng cảm sâu sắc: “ Lại càng ủ dột nét hoa/ Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài”. “Từ điển Truyện Kiều” đã giải thích thành ngữ “Ủ dột nét hoa” như sau: “ Tức là nét mặt ủ rũ, có vẻ không tươi, buồn rầu”
[1,593].Thành ngữ này có kết cấu là thành ngữ thường, hình thức của nhân vật được miêu tả thông qua hình ảnh ước lệ quen thuộc của văn học trung đại khi dùng hình ảnh “hoa” để nói về người con gái đẹp.
- Thúy Kiều trước hoàn cảnh bị biến thành mối hàng để mụ mối xem xét, định giá khi buộc phải bán mình để cứu cha và em: “ Mối càng vén tóc bắt tay/ Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”. Thành ngữ “Gầy như mai” sử dụng lối so sánh nhưng không hiểu theo nghĩa đen với tính chất, mức độ gầy như thế nào mà thành ngữ này được hiểu theo nghĩa bóng. “Từ điển Truyện Kiều” giải nghĩa là “héo hon, mòn mỏi đi” [1,203]. Hình ảnh đem ra so sánh trong thành ngữ này là đối tượng thiên nhiên: hoa mai. Đây là hình ảnh quen thuộc trong thơ văn cổ, dùng để chỉ dung nhan của người phụ nữ đẹp.
- Thúy Kiều khi theo Sở Khanh trốn khỏi lầu Ngưng Bích của Tú Bà và bị bắt lại, bị hành hạ, đánh đập được diễn tả qua thành ngữ “hồng rụng thắm rời” ( Thịt da ai cũng là người/ Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau). Từ điển giải nghĩa thành ngữ này là “ thân thể người phụ nữ bị đánh đập, vùi dập một cách tàn tệ” [40,363]. Giống như thành ngữ vừa nêu trên, thành ngữ này cũng sử dụng cách nói tượng trưng, ước lệ: hồng, thắm, phấn, hương… đều dùng để chỉ người phụ nữ có nhan sắc nhưng kết hợp với các từ “rụng”, “rời” để diễn tả tình cảnh bi đát của Kiều khi bị hành hạ.
- Vẻ đẹp của Thúy Kiều khi đã trải qua bao thăng trầm, lận đận trở nên tàn phai được thể hiện qua thành ngữ “lạt phấn phai hương” ( Rồi ra lạt phấn
phai hương/ Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng). Thành ngữ này cũng sử dụng các hình ảnh theo mô típ quen thuộc của văn học trung đại. Phấn, hương là nhan sắc, là vẻ đẹp của người phụ nữ. Cách nói “lạt phấn phai hương” là chỉ vẻ đẹp của Thúy Kiều khi ở lầu xanh sau bao nhục nhã, ê chề, đau khổ giờ đã trở nên tàn tạ. “Từ điển Truyện Kiều” giải nghĩa: “thành ngữ này chỉ người phụ nữ đã hết nhan sắc” [1,294]. Đây là thành ngữ được Nguyễn Du vận dụng sáng tạo từ thành ngữ nguyên mẫu “nhạt phấn phai hương” mà vẫn giữ nguyên nội dung để nàng Kiều tự nhận xét về mình trong lời trò chuyện với Thúc Sinh. Đó là sự tự ý thức về nhan sắc đã tàn phai của Kiều sau những “cuộc say đầy tháng trận cười thâu đêm”.
- Khi ở lầu xanh, phải đem nhan sắc và tài năng của mình làm trò mua vui cho khách làng chơi, Thúy Kiều cảm thấy tủi cực và xấu hổ. Điều này được thể hiện qua thành ngữ “dơ dáng dại hình” ( Lại càng dơ dáng dại hình/ Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng). Trong lời tự nhận của Kiều, có thể thấy bên cạnh sự miêu tả về ngoại hình “xấu xa, để lộ vẻ trơ trẽn, kệch cỡm, thô lậu” [40,255] còn có cả tâm trạng đau khổ, xót xa của Thúy Kiều khi từ một tiểu thư khuê các, kín đáo “êm đềm trướng rủ màn che” trở nên xấu xa, làm trò mua vui cho khách làng chơi. Thành ngữ sử dụng lối nói quen thuộc, dễ hiểu của dân gian mà không theo công thức của văn học cổ.
- Khi Thúy Kiều phải chịu đòn ngứa ghẻ hờn ghen của Hoạn Thư, trở thành thanh y cho nhà họ Hoạn, tác giả sử dụng thành ngữ “Tóc rối da chì” để miêu tả ngoại hình của Kiều. Đây là thành ngữ so sánh ngầm ẩn với những hình ảnh không còn mang tính chất ước lệ theo kiểu “gầy như mai” hay “ủ dột nét hoa”. Thành ngữ này được hiểu theo nghĩa đen “tóc rối bù và da xám như sắt chì, hình dung người đàn bà bị đày đọa khổ sở” [1,515]. Nghĩa của thành ngữ này khá dễ hiểu với những hình ảnh quen thuộc, dễ liên tưởng.
- Thúy Kiều khi nghe Bạc Bà gả mình cho Bạc Hạnh, sau rất nhiều những trải nghiệm khốn khổ, Kiều ý thức được việc gả bán chỉ là hình thức. Do đó, khuôn mặt của Kiều đã nói lên tất cả những buồn bã, khổ đau “ mặt ủ
mày chau” (Nàng càng mặt ủ mày chau/ Càng nghe mụ nói càng đau như dần). Thành ngữ này miêu tả trực tiếp khuôn mặt của nhân vật, không diễn