Thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao

Một phần của tài liệu Thành ngữ trong Truyện Kiều (1) (Trang 56 - 60)

CHƯƠNG 3: THÀNH NGỮ TRUYỆN KIỀU XÉT TỪ BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC

3.1.2 Thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao

3.1.2.1 Thế nào là thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao

Thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao là những thành ngữ có nghĩa xuất phát từ quan hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội ngữ nghĩa để gợi lên những ý nghĩa nhất định. Nghĩa của các thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao không được hiểu bằng cách cộng gộp đơn giản nghĩa của từng thành tố trong thành ngữ. Những thành ngữ có tính biểu trưng cao thường đạt được độ hàm súc và gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, theo thống kê của chúng tôi có 214/446 thành ngữ là những thành ngữ có tính biểu trưng cao (chiếm 48%)

Ví dụ:

Thành ngữ “Sen ngó đào tơ” (Những là sen ngó đào tơ/ Mười lăm năm mới bây giờ là đây) sử dụng tín hiệu thẩm mĩ “sen” và “đào” để chỉ người con gái còn trẻ tuổi. Trên bề mặt ngôn ngữ xuất hiện những hình ảnh thiên nhiên cây cỏ nhưng không một độc giả nào lại hiểu đơn thuần đó chỉ là chuyện của hoa lá, cỏ cây. Bằng lối ẩn dụ, những tín hiệu thiên nhiên đã truyền tải thông điệp về cuộc đời và số phận con người.

3.1.2.2 Phân loại

Để khảo sát các thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao trong Truyện Kiều, luận văn tiếp tục dựa trên tiêu chí nguồn gốc (thành ngữ nguyên mẫu và thành ngữ sáng tạo) và đặc điểm cấu tạo (thành ngữ đối, thành ngữ so sánh, thành ngữ thường) như đã trình bày ở phần các thành ngữ có nghĩa biểu trưng thấp để phân nhóm thành ngữ. Qua kết quả thống kê và miêu tả một số thành ngữ tiêu biểu, chúng tôi sẽ bước đầu rút ra một số nhận xét về bình diện nghĩa của thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao trong Truyện Kiều.

3.1.2.2.2 Kết quả phân loại

* Về nguồn gốc

Trong Truyện Kiều, có 124/237 thành ngữ nguyên mẫu (chiếm 52.3%), 89/209 thành ngữ sáng tạo (chiếm 42.6%) là những thành ngữ có nghĩa biểu trưng cao.

Về mặt nguồn gốc, trong số các thành ngữ có giá trị biểu trưng cao, có thể thấy tỉ lệ các thành ngữ nguyên mẫu chiếm số lượng lớn nhất (52.3%). Các thành ngữ nguyên mẫu là những thành ngữ được vận dụng từ kho tàng thành ngữ của dân tộc, vốn đã được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng và được cộng đồng chấp nhận. Vì vậy, việc tiếp cận nghĩa của các thành ngữ này khá dễ dàng. Các hình ảnh được sử dụng trong thành ngữ dẫu có tính biểu trưng cao nhưng được sử dụng theo lối ẩn dụ với các môtíp được lặp đi lặp lại nên đã trở thành những tín hiệu thẩm mỹ quen thuộc. Khi tiếp cận với các thành ngữ này, người đọc sẽ hiểu nghĩa của thành ngữ thông qua kinh nghiệm về các tín hiệu thẩm mỹ đã được mã hóa từ các biểu tượng – sự vật. Những biểu tượng – sự vật này xuất phát từ thực tế khách quan dần chuyển hóa thành biểu tượng ngôn ngữ - văn hóa và cao hơn nữa là biểu tượng ngôn ngữ - nghệ thuật.

Ví dụ:

Hàng loạt các thành ngữ trong Truyện Kiều có sử dụng hình ảnh “hoa” để tượng trưng cho vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ: Hoa cười ngọc thốt, Hoa đã lìa cành, Hoa rụng hương bay, Hoa thải hương thừa, Hoa trôi

bèo giạt, Hoa xưa ong cũ, Cỏ nội hoa hèn, Ngọc nát hoa tàn, Liễu chán hoa chê, Nước chảy hoa trôi, Nguyệt nọ hoa kia…

Hoa vốn ban đầu là chỉ “bộ phận của cây có màu sắc xinh đẹp, thường có hương thơm và sinh quả” [1,239], sau mở rộng nghĩa “ chỉ người đàn bà đẹp” [1,239]. Tất cả các thành ngữ có yếu tố “hoa” ở trên đều được hiểu theo lối ẩn dụ, dựa trên nét tương đồng giữa vẻ đẹp và thân phận nhỏ bé, yếu ớt của người phụ nữ với vẻ kiều diễm rất đỗi mong manh của những cánh hoa. Không ai hiểu nghĩa của các thành ngữ trên bằng việc cộng gộp máy móc và giản đơn nghĩa của từng thành tố mà nghĩa của các thành ngữ này phải được hiểu dựa trên nghĩa biểu trưng của nó. Chẳng hạn, thành ngữ “hoa thải hương thừa” được hiểu là “cách nói chua chát tiêu biểu cho họ Nguyễn để chỉ người con gái đã thất tiết” [1,241] hay thành ngữ “hoa rụng hương bay” là cách nói bóng bảy chỉ người con gái đã chết” [1,241].

Hàng loạt các thành ngữ trong Truyện Kiều đã sử dụng các tín hiệu thẩm mỹ quen thuộc như “đào”, “mận”, “sen ngó”, “đào tơ”, “hoa”…để truyền tải nội dung ý nghĩa. Cả hai thành ngữ “sớm đào tối mận” (Sớm đào tối mận lân la/ Trước còn trăng gió sau ra đá vàng) và “sớm mận tối đào” (Cho hay thục nữ chí cao/ Phải người sớm mận tối đào như ai) đều sử dụng tín hiệu “đào” và “mận” để chỉ quan hệ nam nữ. Đây là hai tín hiệu thẩm mỹ quen thuộc trong ca dao xưa “Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Bài ca dao giao duyên tình tứ vừa nêu đã trở nên vô cùng gần gũi với những người dân Việt, do đó khi bắt gặp tín hiệu thẩm mĩ “đào” và “mận” ngay lập tức người đọc liên tưởng đến mối quan hệ tình tứ của hai bên nam nữ.

* Về cấu tạo

Về mặt cấu tạo, quá trình khảo sát cho thấy hầu hêt các thành ngữ có tính biểu trưng cao trong Truyện Kiều là những thành ngữ có kết cấu theo kiểu đối. Nguyên nhân của hiện tượng này là do các thành ngữ có kết cấu theo

kiểu đối thường là những thành ngữ có kết cấu khá chặt chẽ theo các dạng Ax + Ay hoặc Ax + By, do đó để đảm bảo tính đối xứng mà các thành ngữ này thường lược bỏ tối đa các từ ngữ rườm rà và sử dụng các hình ảnh có tính tượng trưng cao để diễn đạt. Những hình ảnh được sử dụng trong các thành ngữ có tính biểu trưng cao trong tác phẩm thường là những hình ảnh mang tính dân tộc rõ nét. Đó là những hình ảnh quen thuộc, gợi liên tưởng đến cuộc đời và số phận của con người như: cánh bèo, con ong, cái kiến, mận, đào, sen, liễu…

Ví dụ:

Hình ảnh cánh bèo được lặp đi lặp lại trong khá nhiều thành ngữ có cấu trúc đối để nói về số phận trôi nổi, long đong của con người: bèo hợp mây tan (Rồi đây bèo hợp mây tan/Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu), bèo nổi mây chìm (Vì ai rụng cải rơi kim/ Để con bèo nổi mây chìm vì ai), hoa trôi bèo dạt (Hoa trôi bèo dạt đã đành/ Biết duyên mình biết phận mình thế thôi), mây trôi bèo nổi (Thoắt buôn về, thoắt bán đi/ Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi), mặt nước cánh bèo (Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân), trôi hoa dạt bèo (Rằng: tôi trót quá chân ra/ Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo)…

Như vậy, dẫu đặc trưng của thành ngữ là có tính bóng bẩy về nghĩa và có tính biểu trưng song mức độ biểu trưng ở các thành ngữ là khác nhau. Có những thành ngữ mang tính biểu trưng thấp, có thể dựa vào nghĩa đen của từng thành tố để hiểu được nghĩa của cả thành ngữ nhưng cũng có những thành ngữ có tính biểu trưng cao, muốn hiểu nghĩa của chúng không thể làm một phép cộng giản đơn nghĩa của từng thành tố.

Tuy nhiên, khi xem xét bình diện nghĩa học của các thành ngữ trong

Truyện Kiều, luận văn chỉ đề cập tới nghĩa trong hệ thống (nghĩa từ điển) của các thành ngữ ấy. Khi đi vào sử dụng với hoàn cảnh giao tiếp và các nhân vật giao tiếp cụ thể thì các thành ngữ có sự tương tác với các yếu tố ngôn ngữ

xung quanh khiến cho nghĩa của thành ngữ có những biến đổi, chúng có thể mở rộng thêm các tầng nghĩa với những giá trị biểu trưng ở cấp độ cao hơn.

Một phần của tài liệu Thành ngữ trong Truyện Kiều (1) (Trang 56 - 60)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(130 trang)
w