1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUN v KHNG NHO VA TRNG HP CA NHT

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 440,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[8] LUẬN VỀ KHỔNG NHO VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA NHẬT BẢN [Lê Thảo Trang 1 ] TÓM TẮT Trong nền triết học phương Đông, Nho giáo của Khổng Tử giữ một vai trò quan trọng và mang tầm ảnh hưởng sâu

Trang 1

[8] LUẬN VỀ KHỔNG NHO VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA NHẬT BẢN

[Lê Thảo Trang 1 ]

TÓM TẮT

Trong nền triết học phương Đông, Nho giáo của Khổng Tử giữ một vai trò quan trọng và mang tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với luân lý xã hội của Trung Quốc nói riêng và các nước Châu

Á nói chung như Hàn Quốc, Triều Tiên, Singapoge, Việt Nam, Malaysia Tuy nhiên, trong

số đó chỉ có Nhật Bản là quốc gia có cách tiếp nhận Nho giáo một cách khác biệt Sự khác biệt ấy đã làm Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản nhưng người Nhật vẫn có thể giữ nguyên được nền văn hóa đặc trưng của họ Trong bài báo cáo này trước hết tôi xin giới thiệu đôi nét về Khổng Tử và nội dung tư tưởng của ông, sau đó trình vài điểm cụ thể để chứng minh rằng Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt có cách tiếp thu tinh hoa Nho học sâu sắc và hiệu quả

1.1 GIỚI THIỆU

8.1.1 Tiểu sử và gia thế

Khổng Tử (có chỗ ghi Khổng Phu Tử, 孔夫子) họ Khổng (孔) tên Khâu (丘), tự Trọng Ni (仲尼 ), khi dịch sách Hán văn sang ngôn ngữ Tây phương, các tu sĩ dòng Tên đã chuyển âm Kǒng fūzǐ thành Confucius

Nguyên quán Khổng Tử ở Làng Xương Bình, nước Lỗ đời Chu Nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Cha tên Hột, là một lực sĩ trứ danh đương thời Có lần nước Tề tiến công nước Lỗ, quân Lỗ bị vây Vào đêm, Khổng Hột chỉ huy 300 dũng sĩ phá được vòng vây, cứu thoát quan Đại Phu là Tạng Hột Sau đó, cưới bà Nhan Thị, thân sinh Khổng

Tử

Cha là một chiến sĩ anh dũng, nhưng chẳng may mất sớm vào năm Khổng Tử mới lên ba tuổi Kế

đó chẳng bao lâu, mẹ lại qua đời, Khổng Tử trở thành đứa con mồ côi, trong một gia đình nghèo khổ, nhưng rất hiếu học, năm ba mươi tuổi đã là một nhà học vấn nổi tiếng Năm đó, Khổng Tử bắt đầu nhận dạy học trò, là người đầu tiên mở trường tư thục vào thời phong kiến, cái thời mà vốn chỉ con em vua quan, hàng quý tộc mới có dịp học hỏi từ chương Đức Khổng Tử chỉnh đốn và san định kinh sách, phục hưng các giá trị luân lý thánh hiền của tiền nhân, tạo thành một giáo thuyết có hệ thống chặt chẽ [2]

8.1.2 Sự nghiệp

Luận ngữ - vị chính: [2]

1 Sinh viên năm 1, ngành Marketing, Đại học Cần Thơ

Lớp tài năng T3

Trang 2

三十而立, Tam thập nhi lập, 30 tuổi có thể tự lập,

五十而知天命, Ngũ thập nhi tri thiên mệnh, 50 tuổi có thể biết được thiên mệnh,

六十而耳順, Lục thập nhi nhĩ thuận, 60 tuổi không còn thấy chuyện gì lạ,

七十而從心欲不

踰矩。

Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ

70 tuổi có thể nghĩ và làm không trái phép, không

để dục vọng chi phối

Bảng 1 Quan niệm Nho giáo về các giai đoạn tuổi và việc phải làm

Khổng Tử sống vào một thời đại, về mặt chính trì, đang lúc chế độ phong kiến nhà Chu bắt đầu băng hoại, bởi chư hầu phân tranh, từ thời Xuân Thu chuyển sang Chiến quốc Khổng Tử tuy hành nghề dạy học, nhưng vốn nuôi chí tìm minh chúa, để thực hiện lý tưởng chính trị của mình Ngài từng làm quan Trung đô Tể, rồi thăng chức Tư Không, Tư Khấu Song, nhận thấy nhà vua cùng chư khanh tướng nước Lỗ chẳng thật lòng trọng dụng, bèn từ quan, dẫn một số môn đệ cùng chí hướng, đi chu du liệt quốc trong khoảng thời gian từ 54 tuổi, đến 68 tuổi, cố tìm cho được vị minh chúa nào, khả dĩ tiến nạp chính kiến của mình Nhưng tiếc thay, đã phí mất mười bốn năm trời mà chẳng được như ý muốn Trong khi thất vọng, ngài quay về nước Lỗ, chuyên tâm vào việc tu biên cổ tịch, soạn định Ngũ kinh: Thư, Dịch, Thi, Lễ, Nhạc, và hoàn thành cuốn Xuân Thu Năm năm sau thì Ngài mất, thọ bảy mươi ba tuổi

1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG

1.2.1 Về đạo đức

Khổng Tử chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân trước tiên, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: "Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình Thiên hạ" Ông nhấn mạnh vào Ngũ thường2: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" Nhân là lòng từ thiện là nhân từ, Nghĩa là làm tròn bổn phận là nghĩa vụ, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới là lễ phép, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy nghĩ là trí thức, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói là tin tưởng Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối loạn

Tư Mã Thiên đã đánh giá Khổng Tử như sau: "Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết Khổng Tử là một người áo vải thế mà

2 Ngũ là năm, thường là bình thường, thông thường, vĩnh hằng Ngũ thường nghĩa là năm phẩm chất đạo đức thông thường của con người Người

ta phải giữ năm đạo đó làm thường, không nên để rối loạn

Trang 3

truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc

hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn Có thể gọi là bậc Chí Thánh vậy" Khổng Tử đề cao mối quan hệ gia đình, thờ cúng tổ tiên, trẻ kính trọng già, vợ tôn trọng chồng,

và gia đình là căn bản cho một xã hội lý tưởng Ông đã khuyên rằng, ai ai cũng nên "kỷ sở bất dục vật thi ư nhân"3 Ông cũng luôn lấy những điều tốt đẹp trong quá khứ ra làm chuẩn mực, và khuyên người, đặc biệt là tầng lớp cai trị, tự đổi mới mình dựa trên những hình mẫu những vị vua hiền trong quá khứ [2]

1.2.2 Thang bậc hạng người:

Dựa theo mức độ tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử chia loài người thành ba hạng:

Thánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao chân lý minh triết

Quân tử: Người cao nhã, kẻ phấn đấu để làm điều chân chính

Tiểu nhân: Kẻ "hèn mọn", hành động không màng tới đạo đức [2]

1.2.3 Nho giáo

Cốt chữ “Nho” (儒) theo Hán tự gồm bộ “nhân” (亻) và chữ “nhu” (需) ghép lại mà thành Nhân

trong nhân loại (人類) tức người; Nhu trong nhu yếu (需要) tức cần kíp Nho chỉ hạng

người cần kíp cốt giúp ích cho nhân quần xã tắc, biết cách ăn ở cốt hợp lòng người đúng lẽ trời Nho hay nho sĩ là người tài, có đức độ, có lễ nghĩa, yêu thích việc học hành, có cuộc sống thanh cao

Sách Nho giáo của Trần Trọng Kim có nói thêm:

Phàm những người học nho thuật thường là những người chuyên về mặt thực tế hơn mặt lý tưởng Bởi vậy, từ xưa đến nay, những người nho học đều là những người chực ra cáng đáng việc đời, để làm ích quốc lợi dân, chứ không phải là người yếm thế, chỉ vụ lấy sự vui thú trong vòng tư tưởng [1]

Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử khởi xướng, nối tiếp về sau được các bậc kỳ tài như Tử Tư, Mạnh Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thời gian, vì không có bực tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trở thành một môn học thuộc lòng, một học thuyết bị chính trị hóa phục vụ cho phong kiến

1.2.4 Triết lý giáo dục: Điều chỉnh luân lý xã hội, tạo ra con người quân tử

1.2.5 Nội dung giáo dục

Nội dung giáo dục của Khổng Tử chia làm tứ thư và ngũ kinh:

3 Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác

Trang 4

Tứ Thư (四書): là bốn tác phẩm kinh điển của Nho học Trung Hoa, được Chu Hy thời nhà Tống

lựa chọn Chúng bao gồm: sách Đại học (大學), sách Trung dung (中庸), sách Luận ngữ ( 論語), và sách Mạnh tử (孟子)

Đại học (大學): Đại học là một trong những kinh điển trọng yếu của nho gia Xưa, người đến tuổi

15 thì vào học bậc đại học và được học sách này Hai chữ "đại học" được nhà nho giải thích

là "đại nhân chi học" (大人之學), hiểu theo 2 nghĩa, là cái học của bậc đại nhân, và là cái học để trở thành bậc đại nhân Cách giải thích ấy phần nào hé lộ về nội dung, mục đích của

bộ sách Đại học vốn chỉ là một thiên trong sách Lễ ký (Kinh Lễ sau này), được Tăng Sâm

- một học trò hạng trung của Khổng Tử chế hóa thành Tuy nhiên, nó chỉ thuộc bộ Tứ thư vào thời Tống, với sự xuất hiện cuốn Tứ thư tập chú của Chu Hi Trên đại quan, sách Đại học gồm 2 phần:

Phần đầu có một thiên gọi là Kinh, chép lại các lời nói của Khổng Tử

Phần sau là giảng giải của Tăng Tử, gọi là Truyện, gồm 9 thiên

Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm: Minh minh đức (làm sáng cái đức sáng của chính mình), Tân dân (làm mới cho dân, ngụ ý sau khi tự sửa mình thành tựu lại đứng ra giúp người cải cách, bỏ xấu theo tốt) và Chỉ ư chí thiện ( an trụ ở nơi chí thiện) Ba cương lĩnh này được cụ thể hóa bằng 8 điều mục nhỏ (gọi là bát điều mục), bao gồm: cách vật (tiếp cận và nhận thức sự vật), trí tri (đạt tri thức về sự vật), thành ý (làm cho ý của mình thành thực), chính tâm (làm cho tâm của mình được trung chính), tu thân (tu sửa thân mình),

tề gia (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa), trị quốc (khiến cho nước được an trị), bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ được yên bình)

Minh minh đức ứng với cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm và tu thân trong bát điều mục Tân dân ứng với tề gia và trị quốc Chỉ ư chí thiện tương ứng với bình thiên hạ Bắt đầu từ chỗ làm sáng cái đức vốn sáng, vì có gốc gác tiên thiên của bản thân mình, lấy đó làm khởi điểm cho sự tu đức Kết quả cuối cùng của quá trình này là làm cho tòa bộ thiên hạ được an trị,

đó là cứu cánh của nó Sự tu đức, được coi là phổ dụng cho tất cả mọi người.Đó là cái gọi là: "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản" (Nghĩa là: "từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa mình làm gốc") Sách Đại học dạy người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ trương "vi chính dĩ đức" của nho gia

Trung Dung (中庸): do Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ ( Tử Tư là học

trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử ) Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn lời của Khổng Tử về đạo “ Trung Dung”- tức là giữ cho thân, ý ở mức trung hòa và sống theo nhân,

lễ, nghĩa, chí, tín cho thành người quân tử, đến cuối cùng thành người tài giỏi Trung Dung chia làm 2 phần:

Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò

về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tưgiảng giải thêm

cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ trung dung

Trang 5

Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ

Tứ Thư

Luận Ngữ (論語): Luận Ngữ là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những

lời nói của người đương thời Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau

Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách

Trình Y Xuyên, một nhà Nho đời Tống nói:

Có người đọc xong Luận Ngữ mà không thấy gì cả, có người đọc xong lại thấy thích thú một vài câu, có người đọc xong thì rất thích thú đến độ múa tay múa chân mà không hay biết

Bởi vậy, khi đọc Luận Ngữ, phải đọc chậm rãi, suy nghĩ tường tận, càng suy nghĩ càng phát hiện được nhiều điều hay

Trình Y Xuyên lại nói:

Ai đọc xong Luận Ngữ mà vẫn còn những tính nết như trước khi chưa đọc thì người ấy chưa hiểu được sách Luận Ngữ vậy

Tóm lại sách Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo

Trình Y Xuyên nói:

Kẻ đi học nên lấy hai quyển sách: Luận Ngữ và Mạnh Tử làm cốt Đã học được hai bộ sách này rồi thì không cần học Ngũ Kinh cũng rõ thông được cái đạo của Thánh hiền

Mạnh Tử (孟子) là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính Khắc,

Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương chu

Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Tâm học và Chính trị học

Từ thời Mạnh tử, ông cảm nhận được một đấng vô hình nên hay nhắc đến Trời Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm

cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng

nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời.Phần Tâm học của Mạnh Tử rất sâu xa, khiến học giả dù ở địa vị hay cảnh ngộ nào cũng giữ được phẩm giá tôn quý

Trang 6

Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh4.Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình Phải duy dân và vì dân Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm

cơ bản để thi hành

Tóm lại, bộ sách Mạnh Tử rất có giá trị với Nho giáo Phần tâm học trong sách là đỉnh cao nhất trong học thuyết Nho giáo.[3]

Ngũ kinh (五經): năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảng trong Nho

giáo Theo truyền thuyết, năm quyển này đều được Khổng Tử san định và hiệu đính Năm quyển Ngũ Kinh gồm có:

1 Kinh thi (詩經): sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu

nam nữ Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa" Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luận ngữ)

2 Kinh thư (書經) ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử

Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ

3 Kinh lễ (禮記): ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại dùng làm phương

tiện để duy trì và ổn định trật tự Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng

ở đời" (sách Luận Ngữ)

4 Kinh dịch (易經): nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các

khái niệm âm dương, bát quái, Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán

từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện

5 Kinh xuân thu (春秋經) ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử Khổng

Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các

sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa Ông nói: "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này" Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất, xuân thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu,

ý nói những sự việc xảy ra [3]

4 Dân làm trọng, nước là thứ, vua xếp sau cùng

Trang 7

1.3 NHO GIÁO VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA NHẬT BẢN

Chiếc nôi của Nho giáo vốn bắt nguồn từ Trung Quốc và theo thời gian dần được truyền bá rộng rãi ra các nước Á Đông Những nước chịu ảnh hưởng sâu sắc như Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, từ bao đời nay đã bị Nho học chi phối mạnh mẽ trên nhiều phương diện của

xã hội như văn hóa, giáo dục, chính trị, Sự chi phối ấy vừa mang theo những mặt tích cực cũng vừa mang theo những hạn chế Thế nhưng, trong số các nước chịu ảnh hưởng của Nho học thì Nhật Bản chính là một trường hợp đặt biệt vì đã thành công tiếp thu những tinh hoa của Nho học nhưng lại không bị Nho học đồng hóa (sự đồng hóa tạo ra những mặt hạn chế cho các nước bị Nho giáo ảnh hưởng) Chính vì thế, mặc dù Nho giáo bắt nguồn

từ Trung Quốc nhưng Nhật Bản mới là đất nước áp dụng thành công Nho học vào các phương diện xã hội và trở thành một cường quốc vững mạnh Dưới đây chúng tôi sẽ chỉ ra vài điều cụ thể về việc Nhật Bản tiếp thu được từ Nho giáo qua các thời kì

Nhật Bản

Ở Nhật Bản, Nho giáo bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ V Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lý tưởng Nho học để xây dựng pháp luật Đến thời Nara (710 – 794) và và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp quí tộc và tăng

Tại Nhật, chữ Trung của Nho giáo là đức mục được đề cao nhất – ngưòi Nhật gọi nó là "Trung thành tâm" (忠誠心chùseishin), và quan hệ bề tôi với chủ ấy gọi là "Quan hệ chủ tòng" (主

Akô thời Nguyên Lộc (1748) Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã hy sinh bản thân báo thù cho chủ: Ôshi thấy đám tang mẹ đã gạt nước mắt ra đi không về chịu tang, rồi đuổi

vợ đi để che mắt kẻ thù Một võ sĩ khác - Hara, đã chia tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ Bà mẹ của Hara đã cư xử như một liệt nữ Nhật Bản: bà thắt cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của người con trai Câu chuyện ấy được ghi trong Trung thần tàng(忠臣蔵Chùshingura), được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say

mê Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội đến nay vẫn còn tiếp tục được phát huy trong xã hội Nhật Bản hiện đại

Đến giữa thế kỷ XIX, đứng trước họa thực dân phương Tây, tại Nhật Bản xuất hiện các ý kiến chỉ trích nền giáo dục Nho học tại nước này Fukuzawa Yukichi trong bài Thoát Á luận đã chỉ trích nền giáo dục chú trọng cổ văn nhưng coi thường kiến thức thực tế của Trung Hoa

và Triều Tiên Ông cho rằng 2 nước này "suốt hàng nghìn năm không hề thay đổi và vẫn

quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ, khi bàn luận về giáo dục thì lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học, chỉ biết trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc, mê tín hủ lậu không biết khoa học là gì, lại còn kiêu căng tự phụ" Tuy nhiên, việc đả kích Nho học ở

Trang 8

Nhật thời kỳ này cũng có hạn chế: nó bắt đầu từ cái nhìn "sùng bái một chiều về nền văn

minh vật chất phương tây cũng như cái nhìn phủ nhận một chiều những giá trị thực sự của dân tộc mình", đi tới nguy cơ đánh mất chính mình trong công cuộc “văn minh Âu hóa” đầy

rẫy bi kịch Ánh hào quang của các tiêu chí phương Tây tuy có nhiều giá trị gợi mở nhưng cũng không ít hiểm họa mà đáng sợ nhất là tinh thần sùng bái vật chất, là kiểu sống nhân danh “đấu tranh sinh tồn”, “chủ nghĩa tinh hoa”, chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn có quan

hệ khá nhiều với các chính sách xâm lược thực dân, chế độ phát xít"

Triều đình và những trí thức Nhật Bản, một mặt thấy được hạn chế của nền giáo dục Nho giáo trong thời kỳ mới, mặt khác họ vẫn thấy được giá trị của Nho giáo trong việc giáo dục đạo

đức, nhất là giáo dục lòng trung thành, xây dựng một nước Nhật Bản theo chủ trương “Nước

giàu binh mạnh” Nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng “Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo tây khí (đạo lý phương đông và thực hành phương tây), Trung thể tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương tây)", tất cả

đều nhằm mục tiêu: học hỏi kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức

Nho giáo trong xã hội Yoshiharu Tsuboi xác nhận cộng đồng Đông Á “có cùng một vấn đề

đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây mà vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo"

Năm 1880, tại Nhật Bản, cải cách Minh trị thực thi nền giáo dục mới nhằm chú trọng học hỏi kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây Bên cạnh đó, triều đình Nhật vẫn khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng đạo đức Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật Trong vấn đề điều hành xã hội, triều đình Minh Trị không học theo Tây Âu mà vẫn tiếp tục duy trì tư tưởng Nho giáo với nền tảng trị quốc mà giới

tinh hoa thấm nhuần "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; cách gạn lọc này được gọi là "hồn Nhật Bản,

tài Tây Âu"

Theo chủ trương đó, năm 1885, Mori Arinori (Sâm Hữu Lễ 森有礼, 1847 - 1889), Văn Bộ khanh (Bộ trưởng Giáo dục) đã ban bố quy chế giáo dục đạo đức Nho giáo cho học sinh Sau đó, Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu 元田永孚 (1818 - 1891), Thị giảng Cung Nội tỉnh (tương đương bộ trưởng giáo dục) đã công bố bộ sách ghi những lời chỉ dụ

về giáo dục của Thiên hoàng, gọi là Sắc chỉ giáo dục (教育勅語) Trong đó phần đầu ghi lại những lời dạy của các Thiên hoàng trong lịch sử xác lập quan hệ giữa đạo đức và quốc

gia: Lòng trung hiếu của thần dân là "tinh hoa của quốc thể", là "ngọn nguồn của giáo

dục"… Tiếp theo trình bày 12 đức mục: Hiếu với cha mẹ, Hoà vợ chồng, Tôn trọng pháp

Trang 9

luật, Tinh thần xả thân khi quốc gia hữu sự… Tinh thần ấy về cơ bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo truyền thống

Trong Sắc chỉ giáo dục, quan đại thần Motoda Nagazane đã thừa lệnh Thiên Hoàng xác định phương châm của giáo dục Nhật Bản:

“…Điều quan trọng nhất của giáo dục là phải minh xác Nhân-Nghĩa-Trung-Hiếu, phải thực hiện đầy đủ đạo làm người, đó là phương châm lớn của nước ta từ trước tới nay với khắp mọi người Nhưng gần đây lại có thói tôn sùng tri thức phương Tây, làm tổn hại nhiều đến đạo đức, phong tục Những người đi đầu (Âu hóa) này muốn phá vỡ tập quán từ xưa, nhất thời muốn tiếp thu chỗ mạnh của tri thức phương Tây nên đặt Nhân-Nghĩa-Trung-Hiếu

ở sau, rốt cục họ đã gây hại tới đại nghĩa Vua-Tôi, Cha-Con Đó không phải

là bản ý của nền giáo dục nước ta Từ nay về sau, trọng tâm của giáo dục

là phải giáo huấn lời dạy của tổ tiên, xác định rõ trung hiếu - đạo đức là hàng đầu, lấy Khổng Tử làm chủ đạo, lấy phẩm hạnh là trọng yếu”

Theo quan điểm của Motoda Nagazane, giáo dục cần chú trọng đến truyền thống và đạo đức trước khi dạy về khoa học và thế giới, ông chủ trương phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc Nhật Bản Theo ông, việc hội nhập với văn hóa phương Tây chỉ tạo ra một môi trường

mà theo đó, nhiều người Nhật Bản đã quên mất các tập tục của cha ông và kết quả trực tiếp

là đánh mất truyền thống dân tộc Ông cho rằng, cải cách giáo dục cần phải "tập trung vào

học tập luân lý theo Khổng giáo dựa trên cơ sở những lời dạy của tổ tiên”

Nhà nước Nhật Bản từ thời cải cách Minh trị kết hợp cả Thần giáo (thuyết duy tâm, được cho là nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa quân phiệt Nhật), Khổng giáo (du nhập từ Trung Quốc) và văn minh phương Tây Chính thể là quân chủ nhị nguyên, đề cao vai trò Hoàng đế Từ triết

lý giáo dục bình đẳng và quan điểm xem trọng hiền tài bất kể xuất thân của Nho giáo, Chính phủ Minh Trị có chính sách không phân biệt hoàn cảnh, giai tầng của bất cứ thành phần nào trong vấn đề tuyển chọn nhân tài để đưa sang các nước phương Tây du học, tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân

Công cuộc cải tổ của Thiên hoàng Minh Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhật Bản đã

có một nền giáo dục có xu hướng mới, nhưng họ vẫn không quên đi văn hóa cổ truyền của đất nước, vẫn đề cao tinh thần đạo đức và chủ nghĩa dân tộc của người Nhật Bản, đề cao truyền thống dân tộc theo tinh thần Khổng giáo nguyên thuỷ

Thành công của Nhật Bản cho thấy Nho giáo không đối nghịch với sự phát triển trong thời kỳ hiện đại Trái lại, nền tảng đạo đức Nho giáo lại trở thành động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế [3]

1.4 KẾT LUẬN

Trang 10

Nho học nói rộng thì không chỉ có Khổng Tử mà còn là chiều dài lịch sử tích góp trí tuệ của tổ tiên Việt tộc và các nền văn hóa khác nhau vào văn hóa Hán tộc phương Bắc Việc tiếp thu chọn lọc và kết hợp tư tưởng tiến bộ cổ kim đông tây là vấn đề cận thiết trong thời đại ngày nay, dẫu cho có mấy ai còn hoài vọng tiếng thở nghìn năm văn hiến, song hễ còn một chút trí nhân, một chút lễ nghĩa thì xem như tư tưởng Khổng Tử hãy còn tồn tại với chúng ta vậy

Tư tưởng Khổng Tử chưa hẳn là tối ưu trong việc giáo hóa con người và luận giải vạn hữu trong

vũ trụ, việc kết nối giữa tư tưởng này với Lão học (Đạo học của Lão Tử) và Phật học là điều hết sức cần thiết và đáng để nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Trọng Kim, Nho giáo, (270tr), NXB Văn học, năm 2003

[2] Wikipedia (2019), Khổng Tử, tct: https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%95ng_T%E1%BB%AD, ntc: 21/08/2019

[3] Wikipedia (2019), Nho giáo, tct: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o, ntc: 21/08/2019

Ngày đăng: 08/01/2022, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w