1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lun v y nghia trit hc ca do dc ng

11 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 213,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết cũng sẽ đề cập tới sự phân biệt cần thi ết giữa trật tự đạo đức với trật tự pháp lý, cũng như giữa nghĩa vụ nghề nghiệp với đạo đức nghề nghiệp, và từ đó đi đến một vài nhận xét

Trang 1

CHUYÊN MỤC

K INH TẾ HỌC - XÃ HỘI HỌC

LU ẬN VỀ Ý NGHĨA TRIẾT HỌC

C ỦA ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP

N ội dung của bài này nhằm đi tìm những ý nghĩa triết học mà tác giả cho là nền tảng của đạo đức nghề nghiệp Tác giả cho rằng ý niệm về đạo đức nghề nghiệp xuất phát từ

nh ững nền tảng tinh thần sau đây: đó là ý nghĩa của lao động mà Georg Hegel đã có công làm sáng t ỏ, ý nghĩa của nghề nghiệp mà Max Weber đã khai triển, và ý nghĩa của hành vi đạo đức theo quan niệm của Immanuel Kant Bài viết cũng sẽ đề cập tới sự phân biệt cần thi ết giữa trật tự đạo đức với trật tự pháp lý, cũng như giữa nghĩa vụ nghề nghiệp với đạo đức nghề nghiệp, và từ đó đi đến một vài nhận xét về yêu cầu xác lập một quan niệm về đạo đức nghề nghiệp theo hướng đạo đức học nghĩa vụ

Chúng tôi muốn mở đầu bài viết này b ằng

ba câu chuyện có thật sau đây để dẫn vào

việc luận bàn về ý niệm đạo đức nghề

nghiệp

Câu chuyện thứ nhất do chúng tôi có dịp

được nghe kể lại cách đây khá lâu Một

cán bộ từ chiến khu trở về Sài Gòn sau

chiến tranh, mướn một ông thợ quét vôi lại

căn nhà của mình Ông đã tỏ ra hết sức

ngạc nhiên vì sau khi quét vôi xong, ông

thợ khá đứng tuổi dẫn người cán bộ đi một

vòng trong nhà rồi nói đại ý rằng ông hãy

coi kỹ lại đi, chỗ nào ông thấy không ưng ý

thì tôi sẽ làm lại ngay Người chủ nhà cảm

thấy bất ngờ trước thái độ tận tụy vì công

việc của người thợ

Câu chuyện thứ hai là do một người bạn doanh nhân tường thuật lại Để xây dựng

một xưởng chế tác đá quý, anh ta thuê một người thợ đá quý từ Mỹ sang Sau khi

nhận được số bàn chuyên dụng làm bằng

gỗ đặt đóng tại một cơ sở nghề mộc, anh

ta mời ông thợ Mỹ đến kiểm tra Ông này xem xét mấy cái bàn một hồi, rồi bất ngờ lôi hẳn cái ngăn kéo của một cái bàn ra ngoài, lật ngược lên để săm soi mặt dưới

của cái ngăn kéo Chau mày, ông nói chất lượng của cái bàn như vậy là chưa đạt yêu

cầu, vì mặt dưới của cái ngăn kéo chưa

học Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ

Trang 2

được bào cho thật nhẵn Anh bạn của tôi

hết sức ngạc nhiên vì lúc sử dụng thì có ai

đụng đến mặt dưới của cái ngăn kéo bao

giờ!

Câu chuyện thứ ba là vụ một bác sĩ thẩm

mỹ bị bắt vì là nghi can làm chết một bệnh

nhân rồi ném xác xuống sông Hồng để phi

tang mà báo chí đã đăng tải rộng rãi (xem

chẳng hạn Tuổi Trẻ, 22/10/2013)

Hai câu chuyện đầu gợi lên những ấn

tượng về một ý thức đạo đức nghề nghiệp:

cả hai đều có liên quan tới một tâm thế chủ

quan mang tính tự giác của người lao

động, cũng như chất lượng của sản phẩm

lao động Riêng về câu chuyện thứ ba liên

quan tới vị bác sĩ thẩm mỹ thì có thể nảy ra

câu hỏi sau đây: sự kiện này chủ yếu phản

ánh một vấn đề thuộc về trật tự đạo đức

hay trật tự pháp lý?

Bài viết này s ẽ không đi vào những khía

cạnh thực tiễn hay thời sự của vấn đề đạo

đức nghề nghiệp, mà chỉ thử nêu lên một

số ý tưởng nhằm mục đích đi tìm xem đâu

là nguồn gốc của ý thức đạo đức nghề

nghiệp, và sau đó phần nào tìm cách trả

lời cho câu hỏi vừa nêu trên bằng cách

phân biệt giữa trật tự pháp lý với trật tự

đạo đức

Theo thiển ý của chúng tôi, ý niệm về đạo

đức nghề nghiệp có thể được truy nguyên

từ những nền tảng tinh thần sau đây,

tương ứng với hai vế của cụm từ ấy: đó là

ý nghĩa của lao động mà Georg Hegel đã

có công làm sáng tỏ, ý nghĩa của nghề

nghi ệp mà Max Weber đã khai triển (bàn

đến lao động xét như đây là nội hàm then

chốt của bất cứ hoạt động nghề nghiệp

nào), và ý nghĩa của hành vi đạo đức theo

quan niệm của Immanuel Kant

1 Ý NGHĨA CỦA LAO ĐỘNG THEO HEGEL

Có thể nói triết gia người Đức Georg W.F Hegel (1770-1831) là người đầu tiên đã phân tích ý nghĩa của lao động một cách sâu sắc Trong cuốn Hiện tượng học tinh

th ần xuất bản năm 1807, ở một mục nổi

tiếng đề cập tới mối quan hệ biện chứng

giữa người chủ và nô lệ, Hegel viết rằng

"kinh qua lao động, ý thức mới đi đến được với chính mình" (Hegel, 2006, §195,

tr 451), tức là "đạt được tự do và giải phóng" theo lời diễn giải của Bùi Văn Nam Sơn (trong Hegel, 2006, tr 464) Sở dĩ như vậy là do "lao động kiến tạo hình thể

và đào luyện (formt und bildet) – không chỉ cho đối tượng mà cho cả người lao động" (Bùi Văn Nam Sơn, trong Hegel, 2006, tr 463) Nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn diễn

giải tư tưởng của Hegel như sau: người lao động "mang lại hình thể cho sự vật

bằng lao động", "biến sự vật (vd: một khối

gỗ) thành một cái gì khác (ví dụ: bộ bàn

ghế), tức cải biến nó 'theo hình ảnh của mình', theo ý đồ hay kế hoạch bằng lao động, bằng sự hiện thực hóa chính khả thể

của mình" Người lao động "tự ngoại tại hóa (hay tự đối tượng hóa, tự xuất nhượng)

bằng lao động, và có nghĩa là có thể nhận

ra chính mình trong đó" (tức là trong sản

phẩm mà mình làm ra) "Qua lao động, một 'thế giới' được kiến tạo nên, đồng thời, trong đó con người 'ở trong nhà nơi chính mình' (bei sich selbst)" (Bùi Văn Nam Sơn, trong Hegel, 2006, tr 469)

Trong những giáo trình dạy ở Jena, Hegel cho rằng "người ta lao động là đi ra ngoài

bản thân để định hình cho thiên nhiên" (theo Trần Văn Toàn, 2011, tr 44) Trong

cuốn Các nguyên lý của triết học pháp quy ền (1821), Hegel giải thích thêm rằng

Trang 3

những mối tương liên và tương thuộc giữa

con người với nhau trong lao động nhằm

thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của mình,

thông qua sự phân công lao động và sự

trao đổi sản phẩm, đã đưa cá nhân hạn

hẹp lên bình diện phổ quát (Hegel, 2010,

§198-200, tr 564-566, xem thêm Trần Văn

Toàn, 2011, tr 43)

Chính Karl Marx cũng đã từng thừa nhận

rằng công lao rất lớn của Hegel là "ý thức

được cái yếu tính của lao động" (Trần Văn

Toàn, 2011, tr 40, xem thêm Bùi Văn Nam

Sơn, trong Hegel, 2006, tr 463)(1)

Tuy nhiên, khác với Marx, Hegel không coi lao

động là cách thức duy nhất để hình thành

toàn thể bản tính của con người, vì ông

còn nhấn mạnh đến những phạm vi khác

như xã hội, chính trị, nghệ thuật và tôn

giáo (Trần Văn Toàn, 2011, tr 44-45)

Theo Trần Văn Toàn (2011, tr 31-35), "lao

động là thứ hoạt động chân tay có ích lợi,

giúp cho người ta làm chủ được thế giới

sự vật", nó "thay đổi môi trường thành thế

giới của mình làm ra", từ đó "lao động là

bước đầu và là nền tảng cho văn hóa" Mặt

khác, lao động không chỉ bao gồm mối

quan hệ giữa con người với thiên nhiên,

mà còn giữa con người với nhau

2 KHÁI NIỆM NGHỀ NGHIỆP XÉT NHƯ

MỘT THIÊN CHỨC THEO WEBER

Nếu Hegel có công khai triển ý nghĩa của

lao động, thì nhà xã hội học Đức Max

Weber (1864-1920) là người đào sâu ý

nghĩa của hoạt động nghề nghiệp xét như

là một thiên chức của con người Trong

cuốn Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần

của chủ nghĩa tư bản (1920), Weber đã tìm

cách chứng minh rằng tư tưởng đề cao lao

động nghề nghiệp của giáo phái Calvin

thuộc đạo Tin Lành ở châu Âu trong thế kỷ XVII-XVIII đã trở thành một nền tảng tinh

thần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của

chủ nghĩa tư bản ở châu lục này

Weber nhận định rằng mặc dù quan niệm đánh giá tích cực các hoạt động thường ngày đã xuất hiện từ thời trung đại hay

thậm chí sau thời Hy Lạp cổ đại, "nhưng cho rằng bổn phận được thực hiện thông qua các nghề nghiệp trần thế, rằng bổn

phận ấy là hoạt động đạo đức cao nhất mà con người có thể đảm nhiệm ở đời này –

đó chắc chắn là điều mới mẻ" xuất phát từ công cuộc cải cách của đạo Tin Lành theo giáo phái Calvin (Weber, 2008, tr 141) Khái niệm Beruf theo Weber không phải

chỉ có nghĩa là nghề nghiệp (profession

hay job, xét như là một hoạt động mưu

sinh), mà còn mang ý nghĩa thiên chức

(hay sự kêu gọi, ơn thiên triệu, tương ứng

với calling hay vocation trong tiếng Anh và Berufung trong tiếng Đức) Chính vì thế mà chúng tôi dịch từ Beruf là nghề nghiệp - thiên ch ức Weber gắn liền khái niệm này

với ý niệm phận sự (aufgabe, task), và vì

thế khái niệm nghề nghiệp - thiên chức luôn đi đôi với khái niệm bổn phận (pflicht,

duty) (xem Trần Hữu Quang và Bùi Văn Nam Sơn, 2008, tr 25)

Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh

thần nghề nghiệp - thiên chức trong quá trình hình thành xã hội hiện đại như sau:

"Một trong các bộ phận cấu thành của tinh

thần tư bản chủ nghĩa hiện đại, và không

chỉ của tinh thần này, mà cả của chính nền văn hóa hiện đại, tức là lối sống thuần lý

dựa trên ý tưởng Beruf, đã được phát sinh

từ tinh thần của nền khổ hạnh Ki-tô giáo" (Weber, 2008, tr 326)

Trang 4

Theo Talcott Parsons, khái niệm "tinh thần

của chủ nghĩa tư bản" nơi Weber (chúng ta

có thể hiểu đây chính là tinh thần của xã

hội hiện đại) không phải chỉ nói về sự

chiếm hữu, mà chủ yếu nói về tư duy lý

tính – hiểu như là một tâm thế mở luôn

hướng đến những cách giải quyết vấn đề

mới, đối lập với óc thủ cựu Đó là một thái

độ tận tâm và chuyên cần đối với công

việc vì chính công việc chứ không vì mục

đích nào khác, thái độ mà Weber diễn giải

qua khái niệm Beruf và được Parsons dịch

sang tiếng Anh là calling (Parsons, 1964, tr

33 và 81)

Sau khi xem xét ý nghĩa của lao động và

của nghề nghiệp trong xã hội hiện đại, bây

giờ chúng ta chuyển sang tìm hiểu về hành

vi đạo đức theo quan niệm đạo đức học

nghĩa vụ của Kant

3 Ý NGHĨA CỦA HÀNH VI ĐẠO ĐỨC

THEO KANT

Theo triết gia người Đức Immanuel Kant

(1724-1804), "luân lý là tổng thể những

quy luật ra mệnh lệnh vô điều kiện để ta

phải hành động theo chúng"(2) Mệnh lệnh

vô điều kiện này đư ợc Kant gọi là mệnh

l ệnh nhất quyết (kategorischer imperativ),

tức mệnh đề "phải là" (sollen), tự nó buộc

người ta nhất thiết phải hành động mà

không phụ thuộc vào bất kỳ một mục đích

hay động cơ ngoại tại nào

Trong cuốn Phê phán lý tính thực hành

(1788), Kant cho rằng để có thể nhận diện

được thế nào là một hành vi đạo đức,

trước hết chúng ta cần phân biệt giữa "ý

thức hành động phù hợp [bề ngoài] với

nghĩa vụ (pflichtmäßig)" với "ý thức hành

động từ nghĩa vụ (aus pflicht)", tức là "chỉ

đơn thuần vì quy luật" (Kant, 2007, tr 152)

Kant cho rằng hành vi có tính luân lý là

hành vi được thực hiện "bằng sự tôn kính

(achtung) đối với quy luật ( ) và từ lòng

kính sợ (ehrfurcht) đối với nghĩa vụ của mình", chứ không phải là hành vi chỉ có tính chất "hợp" với nghĩa vụ (Kant, 2007, tr

153)

Kant đưa ra ý tưởng quan trọng sau đây

để minh định nền tảng của hành vi đạo

đức: "Sự tự trị (autonomie) của ý chí (will)

là nguyên tắc duy nhất của mọi quy luật luân lý và của mọi nghĩa vụ phù hợp với chúng; ngược lại, sự ngoại trị (heteronomie)

của sự tự do lựa chọn (willkür) không chỉ không thể làm cơ sở cho bất kỳ bổn phận nào mà còn đối lập lại với nguyên tắc của

bổn phận và với luân lý của ý chí" (Kant,

2007, tr 60, chúng tôi nhấn mạnh, THQ)

Để hiểu được tính tự trị của ý chí thì theo Kant, chúng ta cần đề cập tới khái niệm tự

do, vốn là một khái niệm chỉ tồn tại nơi con người với tư cách là những hữu thể có lý tính Ông viết như sau: "Khái niệm tự do

là chìa khóa để giải thích tính tự trị của ý chí Ý chí là một loại nhân quả [causality] thuộc về những sinh vật có lý tính Như

vậy, sự tự do là thuộc tính của tính nhân

quả này – [thuộc tính này ] có khả năng hành động độc lập với sự quy định của

những nguyên nhân ngoại lai; cũng giống như sự tất yếu tự nhiên là thuộc tính đặc trưng cho tính nhân quả của mọi hữu thể phi lý tính – [theo thuộc tính này thì ] hành động bị quy định bởi ảnh hưởng của

những nguyên nhân ngoại lai" (Kant, 2009,

tr 114)

Kant định nghĩa tự do là "khả năng tự mình quyết định hành động như một trí tuệ, và

nhờ đó hành động phù hợp với những quy

Trang 5

luật của lý tính, độc lập với những bản

năng tự nhiên" (Kant, 2009, tr 127)

Kant nhấn mạnh rằng "nếu giả sử không

có Tự do thì cũng tuyệt nhiên không thể

bắt gặp quy luật luân lý ở trong ta" (Kant,

2007, chú thích ở tr 3), bởi lẽ "nhờ sự tự

trị của sự Tự do của mình, con người là

chủ thể của quy luật luân lý" (Kant, 2007, tr

160) Khi một người "phán đoán rằng mình

có th ể làm một việc chỉ vì có ý thức rằng

mình ph ải làm việc ấy", thì lúc đó anh ta

"nhận ra sự Tự do nơi chính mình – một

điều mà nếu không có quy luật luân lý ắt

anh ta không bao giờ nhận ra được" (Kant,

2007, tr 56) Kant cho rằng "Tự do là ratio

essendi [cơ sở tồn tại] của quy luật luân lý,

còn quy luật luân lý là ratio cognoscendi

[cơ sở nhận thức] về Tự do" (Kant, 2007,

chú thích ở tr 2-3)

Kant còn phân biệt giữa mệnh lệnh giả

thi ết ("Tôi phải làm điều này b ởi vì tôi

muốn một điều khác") với mệnh lệnh nhất

quy ết ("Tôi phải làm điều này cho dù tôi

không muốn một điều nào khác"), và cho

rằng chỉ có mệnh lệnh nhất quyết mới làm

cho một hành vi trở thành một hành vi đạo

đức thực thụ Kant đưa ra thí dụ sau đây

cho mệnh lệnh giả thiết, tức là mệnh lệnh

phụ thuộc vào một mục đích hay động cơ

bên ngoài: "Tôi không được nói dối nếu tôi

muốn giữ thanh danh của mình" Nhưng

để có được một mệnh lệnh nhất quyết thì

chúng ta phải nói: "Tôi không được nói dối

cho dù có làm như vậy tôi cũng không hề

bị mất thanh danh" (Kant, 2009, tr 108)

Kant cho rằng sở dĩ tôi phải hành động cho

hạnh phúc của tha nhân thì không phải vì

điều này đem lại cho tôi một kết quả nào

đó (chẳng hạn như sự vui sướng, sự an ủi

hay sự tự hào), mà chỉ vì điều này phù hợp

với một châm ngôn có giá trị quy luật phổ quát (Kant, 2009, tr 109)

4 TRẬT TỰ PHÁP LÝ VÀ TRẬT TỰ ĐẠO ĐỨC

Trở lại với câu chuyện đạo đức nghề nghiệp Trong vụ vị bác sĩ thẩm mỹ bị tình nghi ném xác bệnh nhân xuống sông mà chúng tôi đã nêu lên ở đầu bài này , trên báo chí và nhiều diễn đàn trong mạng Internet, đã rộ lên cuộc thảo luận sôi nổi về

y đức Nhưng phải chăng sự kiện này ch ỉ liên quan tới khía cạnh đạo đức nghề nghiệp? Theo chúng tôi, vụ này cần được xem xét chủ yếu dưới góc độ pháp lý, vì trước hết nó liên quan tới những điều khoản nhất định của bộ luật hình sự cũng như của nghĩa vụ nghề nghiệp mà vị bác sĩ này có thể đã vi phạm Tất nhiên, người ta

có quyền nhân cơ hội này đ ể suy nghĩ về

vấn đề y đức, nhưng câu chuyện y đức có

lẽ chỉ có thể được thảo luận thấu đáo hơn thông qua nhiều vụ việc khác nữa không

trực tiếp liên quan tới khía cạnh pháp lý Thiết tưởng chúng ta cần phân biệt rạch ròi giữa trật tự pháp lý với trật tự đạo đức

Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm trật tự pháp lý không phải chỉ giới hạn trong lĩnh

vực luật pháp của nhà nước, mà bao hàm

cả những khía cạnh pháp quy thuộc về các

tổ chức xã hội khác như các công ty, các đoàn thể hay các hiệp hội nghề nghiệp Kant từng nhấn mạnh sự khác biệt giữa

"tính hợp lệ" (legalität) của hành động (tức

phải hành động phù hợp với nghĩa vụ) với

"tính luân lý" (moralität) (liên quan tới động

cơ của hành động) (Bùi Văn Nam Sơn,

2007, tr LI) Khi so sánh hai quan điểm đối

lập nhau về đạo đức học giữa Hegel và

Trang 6

Kant, Bùi Văn Nam Sơn cho rằng "thật

nguy hiểm nếu muốn quy giản luân lý

thành pháp lý" như Hegel đã làm, bởi lẽ,

theo quan niệm của Kant, "chúng có

những khác biệt về nguyên tắc" "Luân lý

là quy luật cho con người và có chức năng

của một sự cưỡng chế từ bên trong Khi vi

phạm các quy luật luân lý, lương tâm giữ

vai trò của một quan tòa nội tâm Ngược

lại, pháp lý cưỡng chế con người từ bên

ngoài mà không nhất thiết đi kèm với một

động cơ nội tâm nào cả" (Bùi Văn Nam

Sơn, 2010, tr 36)

Khi đề cập tới khái niệm bổn phận

(obligation, verpflichtung), André Lalande

đã đưa ra một sự phân biệt quan trọng

giữa hai động từ sollen và müssen trong

tiếng Đức Cả hai động từ này đều có thể

được dịch là "phải làm" hay "phải là"

Nhưng sollen (tiếng Anh là should, ought

to) có nghĩa là "phải làm" xét về mặt bổn

phận đạo đức, tức là thuộc về trật tự đạo

đức Còn müssen (tiếng Anh: must) có

nghĩa là "phải là" hay "phải làm" xét về mặt

tr ật tự tự nhiên hoặc trật tự pháp lý (điều

tất yếu, điều bắt buộc, không thể không

làm) (André Lalande, 1988, tr 703)

Nói đến sollen (trật tự đạo đức), chúng ta

có thể liên tưởng tới vài thí dụ trong bối

cảnh văn hóa Việt Nam như: phải hiếu

thảo với cha mẹ; phải nuôi dạy con cái;

không được vô lễ với người lớn tuổi;

không được đánh con Còn khi nói đến

müssen (trật tự tự nhiên hoặc trật tự pháp

lý), có thể liên tưởng tới những thí dụ như:

tay làm hàm nhai (phải làm mới có cái mà

ăn); phải tôn trọng thời hạn hợp đồng; đến

hạn phải trả nợ (có nợ thì phải trả); phải

chấp hành nội quy công ty; tới tuổi phải đi

học (theo nguyên tắc giáo dục cưỡng

bách); tiền trao cháo múc (nhận tiền rồi thì

buộc phải múc cháo ra, không được dây dưa, chậm trễ)

Như vậy đến đây, chúng ta cần tiếp tục phân biệt giữa nghĩa vụ nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp

5 NGHĨA VỤ NGHỀ NGHIỆP VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP

Khái niệm bổn phận đạo đức bao hàm ý chí tự do và sự lựa chọn của con người (André Lalande, 1988, tr 703), còn khái

niệm nghĩa vụ nghề nghiệp thì liên quan đến những điều bắt buộc phải làm, dù

muốn hay không muốn, tức là không có tự

do lựa chọn làm hay không làm(3) Do vậy, nghĩa vụ nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là hai phạm trù khác nhau, thuộc về hai trật tự riêng biệt mà chúng ta cần phân

biệt như vừa nêu ở đoạn trên Nghĩa vụ nghề nghiệp nằm trong trật tự pháp lý (thuộc lĩnh vực müssen), còn đạo đức nghề nghiệp thì thuộc về trật tự đạo đức (thuộc lĩnh vực sollen)

Có thể định nghĩa nghĩa vụ nghề nghiệp là

hệ thống các quy tắc và chuẩn mực pháp

lý và kỹ thuật mà người lao động buộc phải tuân thủ và thực hiện nếu muốn theo một nghề nào đó Bộ quy chuẩn này có th ể do nhà nước và/hoặc công ty ban hành "Một người lao động được gọi là lành nghề là kẻ

sản xuất sự vật đúng như nó phải là" (Hegel, 2010, §197, tr 564)

Còn đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các

giá trị và chuẩn mực quy định thái độ chủ quan của người lao động đối với công việc

và sản phẩm, đối với khách hàng cũng như đồng nghiệp của mình khi làm việc trong một ngành nghề nào đó Một cách khái quát, chúng ta có thể hiểu rằng tinh

Trang 7

thần cốt lõi của đạo đức nghề nghiệp chính

là thái độ tận tâm, tận tụy với công việc vì

chính công vi ệc, chứ không vì những mục

đích bên ngoài Chỉ trong chừng mực này,

chúng ta mới có thể hiểu được một cách

sâu xa ý nghĩa của điều mà chúng ta

thường gọi là lòng yêu nghề

Liên quan tới nghĩa vụ nghề nghiệp, người

ta thường nói tới những ý niệm như bổn

phận chu toàn phận sự, năng lực chuyên

nghiệp, ý thức kỷ luật, trách nhiệm giải

trình (accountability) Còn khi đề cập tới

đạo đức nghề nghiệp, người ta thường

hiểu đây là một dạng ý thức hướng đến

những đòi hỏi cao hơn xuất phát từ bên

trong nội tâm, một thái độ lao động vượt

lên trên những yêu cầu tối thiểu của các

quy chuẩn nghề nghiệp xét về mặt pháp lý

bên ngoài

Sau đây là một vài thí dụ về nghĩa vụ nghề

nghi ệp: y tá là người phải chăm sóc bệnh

nhân; giáo viên phổ thông phải dạy cho

đúng chương trình của bộ giáo dục; người

thủ quỹ phải giữ tiền cho an toàn (nghĩa là

chuyện "không được thụt két" là điều

đương nhiên vì hành vi này vư ợt ra khỏi

nghĩa vụ nghề nghiệp) Và một vài thí dụ

về đạo đức nghề nghiệp: người y tá phải

tận tụy với bệnh nhân; thầy giáo phải hết

lòng thương yêu học trò; người thủ quỹ

phải niềm nở với người đến nhận tiền

Không ai khen thưởng một người thủ quỹ

vì đã không "thụt két", bởi lẽ việc cất giữ

tiền là nhiệm vụ đương nhiên của người

này, tức thuộc trật tự pháp lý Cũng tương

tự như vậy, không ai tặng huy chương cho

một giáo viên ngày nào cũng đến lớp đúng

giờ; người giáo viên chỉ được khen thưởng

nếu tỏ ra tận tụy một cách mẫu mực với

công việc và với học trò chẳng hạn, nghĩa

là những hành vi thuộc về trật tự đạo đức

của nhà giáo

Các chuẩn mực của nghĩa vụ nghề nghiệp cũng như các chuẩn mực của đạo đức nghề nghiệp đều không phải là những cái

bất biến và vĩnh cửu; chúng luôn luôn phụ thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử xã hội

nhất định và có thể biến đổi theo thời gian

Một chuẩn mực đạo đức đến một lúc nào

đó có thể trở thành một quy phạm pháp lý,

và ngược lại Chẳng hạn, nguyên tắc giữ

bí mật nghề nghiệp trong nghề y hay nghề

luật sư ngày xưa chỉ thuộc về lĩnh vực đạo đức nghề nghiệp, nhưng về sau dần dà trở thành những quy tắc pháp lý ở nhiều quốc gia

6 LƯƠNG TÂM CHỨC NGHIỆP

Sự khác biệt giữa trật tự đạo đức và trật tự pháp lý trong hoạt động nghề nghiệp còn

thể hiện ở điểm sau: khi đề cập đến đạo đức nghề nghiệp, người ta thường nói tới

lương tâm chức nghiệp

Vậy lương tâm là gì? Kant coi lương tâm là

"một quan năng diệu kỳ trong bản thân ta",

nó có khả năng đưa ra "những lời phán

xử" đối với chính ta (Kant, 2007, tr 173) Kant giải thích một cách đầy hình tượng như sau: "Một người có thể tha hồ dùng

mọi cách để tô vẽ và biện hộ cho hành vi trái luân lý của mình, chẳng hạn nhắc lại

nó như như một lỗi lầm không cố ý, một sự thiếu cẩn trọng ( ); song anh ta cũng thấy

rằng vị trạng sư biện hộ không có cách nào làm cho kẻ tố cáo ở ngay bên trong chính bản thân anh ta im lặng được ( ), không thể bảo vệ anh ta thoát khỏi sự quở trách đối với chính mình ( ) Đó cũng chính là cơ sở của lòng hối hận về một

Trang 8

hành vi đã xảy ra từ lâu mỗi khi nhớ lại,

một cảm giác đau đớn do chính tình cảm

luân lý tạo ra" (Kant, 2007, tr 173-174)

Chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng ý

tưởng của Kant để hiểu thêm về lương

tâm chức nghiệp đang bàn ở đây

Nghĩa vụ nghề nghiệp chỉ đòi hỏi ông thợ

quét vôi quét cho xong căn nhà theo y như

yêu cầu của chủ nhà, cũng như chỉ đòi hỏi

cái bàn chế tác đá quý phải được đóng thế

nào cho đúng với đơn đặt hàng của xưởng

chế tác Nhưng chính ý thức đạo đức nghề

nghiệp, hay lương tâm nghề nghiệp, mới là

cái đã thôi thúc ông thợ quét vôi nói với

người chủ nhà rằng chỗ nào ông thấy

không ưng ý thì tôi sẽ quét lại, và đã khiến

cho ông thợ chế tác đá quý phải khó chịu

khi thấy mặt dưới ngăn kéo của cái bàn

chế tác đá quý chưa được bào cho thật

nhẵn Có thể nói lương tâm nghề nghiệp là

một động lực tinh thần thúc đẩy người lao

động vươn đến sự hoàn hảo, vì bản thân

công việc, chứ không vì đồng lương hay vì

phần thưởng

Chúng ta có thể hiểu rằng khái niệm đạo

đức nghề nghiệp có lẽ cũng bao hàm cả

những ý niệm liên quan tới cái chân, cái

thi ện và cái mỹ Trong ý thức đạo đức

nghề nghiệp, bên cạnh lòng say mê và tận

tụy với công việc, người ta không chỉ dừng

lại ở những yêu cầu về các tiêu chuẩn bên

ngoài của sản phẩm lao động, mà còn tự

mình đặt ra yêu sách làm sao cho kết quả

lao động của mình được thật tốt, thật đẹp,

hoàn hảo hết mức có thể được Hiển nhiên

là điều này ch ỉ có thể xuất phát từ chính

lương tâm của người lao động mà thôi,

chứ không ai cưỡng ép nổi Hiểu theo

chiều hướng này , chúng ta mới thấy quả

thực là "lao động kiến tạo hình thể và đào luyện không chỉ cho đối tượng mà cho cả

người lao động" (Bùi Văn Nam Sơn, trong Hegel, 2006, tr 463)

Báo Tu ổi Trẻ gần đây có đăng một bài

phóng sự rất hấp dẫn về nghề "len trâu" (tức là lùa đàn trâu có khi hàng trăm con đi đến những vùng đất cao để có cỏ cho chúng ăn, đi hết nơi này tới nơi khác, có khi đi vài tháng trời mới về) Ở xã Thường

Thới Tiền thuộc tỉnh Đồng Tháp, phóng viên đã gặp được bà Út Em, 60 tuổi, đi chăn trâu suốt từ khi lên 5 tuổi cho tới nay

Bà tâm sự: "Cha tui nói coi trâu cũng là

một nghề, mình không thương trâu thì đừng làm nghề này, nên tui không bao giờ

gởi nhờ người khác đi len, đồng xa mấy tui cũng đi, tự tay chăm sóc trâu Mỗi lần bán trâu là tui khóc suốt ngày như bán con mình vậy"(4)

Chuyện bà Út Em thương trâu như con mình có thể được coi như một hình ảnh tiêu biểu về ý nghĩa của lao động theo Hegel cũng như ý nghĩa của nghề nghiệp - thiên chức theo Weber

7 NHẬN ĐỊNH

Lý thuyết đạo đức học của Kant thường được gọi là đạo đức học nghĩa vụ (deontological ethics) – vốn nhấn mạnh tới nguyên tắc tự trị của lương tâm đạo đức – đối lập với lý thuyết đạo đức học định chế

của Hegel (Bùi Văn Nam Sơn, 2010, tr 35) cũng như các lý thuyết đạo đức học vốn

dựa trên hậu quả (consequentialist ethics) hay dựa trên mục đích (teleological ethics)

để định nghĩa một hành vi đạo đức (Bùi Văn Nam Sơn, 2007, tr XIII)

Chúng tôi cho rằng trong hoàn cảnh thực

tế của Việt Nam ngày nay, cần xác lập lại

Trang 9

quan niệm về đạo đức nghề nghiệp theo

hướng đạo đức học nghĩa vụ của Kant,

nghĩa là chú trọng tới động cơ chủ quan

của người lao động, tới lương tâm của cá

nhân, tới sự "tôn kính" các quy tắc của bổn

phận nghề nghiệp, tận tụy với công việc vì

chính công việc, chứ không phải vì bất cứ

mục đích ngoại tại nào khác, như để được

lòng người khác, để có tiền, hay để được

khen thưởng – những điều này, nếu có,

chỉ là (và phải được coi là) hệ quả của quá

trình lao động, chứ không phải là mục tiêu

Có lẽ cần hiểu câu "nhất nghệ tinh, nhất

thân vinh" theo nghĩa đó, chứ không phải

"nghệ tinh" là để được "vinh thân" hay "phì

gia"!

Một câu hỏi có thể được đặt ra ở đây là

phải chăng tình trạng xem nhẹ đạo đức

nghề nghiệp khá phổ biến hiện nay chính

là hệ quả của tình trạng suy thoái về đạo

đức xã hội nói chung? Theo thiển ý chúng

tôi, suy cho cùng, cả hai thực trạng này

thực ra đều bắt nguồn từ hai nguyên nhân

chính: đó là sự khủng hoảng của triết lý

đạo đức xã hội, cũng như sự rạn nứt trong

trật tự luật pháp

Triết lý về đạo đức xã hội ở Việt Nam trong

nhiều thập niên qua mang đậm xu hướng

chính tr ị hóa trong mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội và văn hóa Nếu nói theo ngôn

từ của Kant thì đó là một triết lý đạo đức

đặt nền tảng trên sự ngoại trị, chứ không

dựa trên sự tự trị Xu hướng này coi trọng

tiêu chuẩn "chính trị" hơn là năng lực

chuyên nghiệp (trọng "hồng" hơn "chuyên"),

đề cao chiều kích chính trị hơn là chiều

kích đạo đức, quan tâm tới mục đích hơn

là phương tiện (mục đích biện minh cho

phương tiện), chú trọng kết quả và thành

tích hơn là thái độ và hành vi đi đến kết

quả, do đó không quan tâm tới động lực

nội tâm và tiếng nói của lương tâm Hệ

quả sâu xa của xu hướng này trong triết lý giáo dục là chỉ nhằm mục tiêu đào tạo ra

những con người công cụ, chứ không

nhắm đến mẫu người tự do biết độc lập tư duy và phán đoán

Hậu quả nghiêm trọng của thứ triết lý đạo đức "ngoại trị" ấy là những căn bệnh mà

hiện nay đã xâm thực vào hầu hết các lĩnh

vực và các định chế xã hội, như bệnh thành tích, bệnh thi đua(5), bệnh giả dối,

bệnh sống hai mặt, bệnh chạy chọt, tệ mua quan bán chức, thói làm ăn gian dối, hay tệ phe cánh điển hình cho một thứ chủ nghĩa

tư bản bè phái thân hữu (cronyism)… (xem thêm Trần Hữu Quang, 2012)

Trở lại của chủ đề đạo đức nghề nghiệp, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng trong mối quan hệ giữa trật tự đạo đức và trật tự pháp lý trong lĩnh vực nghề nghiệp, trật tự pháp lý phải có trước – nghĩa là phải điển

chế hóa một cách chặt chẽ và thực thi nghiêm túc các quy chuẩn của từng nghề nghiệp nhất định Bởi lẽ trật tự đạo đức chỉ

có thể hình thành trên cơ sở một trật tự pháp lý lành mạnh và ổn định Vụ bác sĩ

thẩm mỹ bị nghi ném xác bệnh nhân xuống sông, theo chúng tôi, là một sự kiện điển hình cho tình trạng khủng hoảng trong trật

tự pháp lý – nói cách khác, sự kiện này tuy

cá biệt nhưng là dấu hiệu phản ánh một tình hình xã hội nghiêm trọng hơn nhiều so

với chuyện suy thoái y đức

Chỉ khi nào xác lập được vững chắc một

nền kỷ luật nghề nghiệp và ý thức nghĩa vụ nghề nghiệp (trật tự pháp lý), thì lúc đó

mới có thể nói đến đạo đức nghề nghiệp

Trang 10

(trật tự đạo đức) cũng như lòng yêu nghề

Nếu trật tự pháp lý bị rạn nứt thì có nói đạo

đức nghề nghiệp đến mấy cũng bằng thừa

Tuy nhiên, trật tự pháp lý chỉ là một chiều

kích tối thiểu Muốn xây dựng được một

nội lực mạnh (trong một công ty nói riêng

hay trong một xã hội nói chung) thì lại phải

cần đến chiều kích đạo đức nghề nghiệp

Những câu chuyện về lòng yêu nghề và ý

thức đạo đức nghề nghiệp của những người thợ thủ công cổ truyền Nhật Bản là

những bằng chứng minh họa sinh động cho điều này

Ý thức đạo đức nghề nghiệp là một trong

những động lực và những nền tảng tinh

thần của một nền kinh tế hiện đại cũng như của một xã hội hiện đại 

GHI CHÚ

(1)

Trong tập Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, Karl Marx viết như sau: "Do đó, sự vĩ đại của 'Hi ện tượng học' của Hê-ghen [tức quyển Hiện tượng học tinh thần – chú thích của chúng tôi, THQ]

thúc đẩy và sản sinh – là ở chỗ Hê-ghen xem xét sự tự sản sinh của con người như là một quá trình, xem xét sự đối tượng hóa như là sự phân hóa đối tượng, như là sự tha hóa và sự tước bỏ

người chân chính, vì có tính chất hiện thực, là kết quả của lao động của bản thân con người" (Karl

Marx)

(2)

2007, tr xxx

(3)

ngày 19/11/2009, tr 16

(4)

Xem Binh Nguyên Đi tìm mùa len trâu Tuổi Trẻ cuối tuần, ngày 1/12/2013, tr 20-21

(5)

Xem ch ẳng hạn những ý kiến lên án bệnh phong trào và bệnh thi đua trong Tuổi Trẻ, ngày

6/1/2014, tr 12

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

1 Báo Tuổi Trẻ ngày 22/10/2013

2 Bùi Văn Nam Sơn 2007 ‘Phê phán lý tính thực hành' và sự phản tư đạo đức học, trong I Kant Phê phán lý tính th ực hành (Đạo đức học) Hà Nội: Nxb Tri thức

3 Bùi Văn Nam Sơn 2010 'Các nguyên lý của triết học pháp quyền': từ pháp quyền tự

nhiên-lý tính đến pháp quyền tự nhiên-tư biện, trong G.W.F Hegel Các nguyên nhiên-lý của triết học pháp

4 Hegel, Georg W.F 2006 Hi ện tượng học tinh thần (1807) Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú

giải Hà Nội: Nxb Văn học

5 Hegel, Georg W.F 2010 Các nguyên lý c ủa triết học pháp quyền (1821) Bùi Văn Nam Sơn

(Xem ti ếp trang 42)

Ngày đăng: 03/10/2020, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w