Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các khoản tiềnnhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảoquản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.- Nghiệp vụ phát hàn
Trang 1-e²f -TRẦN ĐỨC PHƯƠNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2016
Trang 2- e²f
-TRẦN ĐỨC PHƯƠNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Trang 3qua, số liêu nêu trong luân văn là trung thưc và chưa tưng đươc ai công bố trong bâtkỳ tài liêu nào khac.
Tac gia
Trần Đức Phương
MỤC LỤC
Trang 41.1 CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1 Hoạt động huy động vốn 3
1.1.2 Hoạt động về sử dụng vốn 5
1.1.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán 6
1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV 6
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng và mở rộng tín dụng ngân hàng 6
1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng với DNNVV 7
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV 7
1.2.4 Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV 10
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV 15
1.2.6 Tiêu chí đánh giá mở rộng tín dụng DNNVV 26
1.3 DNNVV TRONG NỀN KINH TẾ 21
1.3.1 Khái niệm DNNVV 21
1.3.2 Đặc điểm của DNNVV 22
1.3.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 31
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 31
2.2 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA.32 2.2.1 Cơ cấu tổ chứ của Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đống Đa 32
2.2.2 Mô hình tổ chức tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đống Đa… 32
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 36
2.2.1 Tình hình huy động vốn 37
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn 39
2.2.3 Các hoạt động khác 43
Trang 5TMCP Quân Đội - Chi nhánh Đống Đa 44
2.3.2 Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay 45
2.3.3 Dư nợ tín dụng đối với DNNVV 46
2.3.4 Cơ cấu tín dụng đối với DNNVV 47
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 50
2.4.1 Những thành công đạt được 50
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 60
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV 60
3.1.1 Định hướng phát triển DNNVV của thành phố Hà Nội 60
3.1.2 Định hướng phát triển tín dụng DNNVV của Ngân hàng TMCP Quân Đội 61
3.1.3 Định hướng của Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đống Đa 62
3.2 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TD ĐỐI VỚI DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 63
3.2.1 Xây dựng chiến lược phù hợp đối với DNNVV 63
3.2.2 Xây dựng mô hình tổ chức chuyên nghiệp, chuyên sâu phục vụ các DNNVV 64
3.2.3 Chuẩn hóa về các quy chế cho vay, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng là DNNVV 64
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin 65
3.2.5 Tăng cường hoạt động tư vấn và hỗ trợ phi tài chính với khách hàng DNNVV 65
3.2.6 Thực hiện chính sách Marketing trong việc tiếp cận DNNVV 66
3.2.7 Đa dạng hóa các hình thức tín dụng cho các DNNVV 67
3.2.8 Xây dựng chính sách lãi suất linh hoạt đối với các DNNVV 69
Trang 63.2.10 Không ngừng nâng cao trình độ của cán bộ tín dụng 71
3.3 KIẾN NGHỊ 72
3.3.1 Đối với các DNNVV 72
3.3.2 Đối với NHNN 73
3.3.4 Đối với Nhà nước 74
KẾT LUẬN 78
Trang 76 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
7 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
8 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
28 TTQT Thanh toán quốc tế
29 VĐTNN Vốn đầu tư nước ngoài
30 VLĐ Vốn lưu động
Trang 8Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh 36
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn tại MB Đống Đa 37
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay MB Đống Đa 39
Bảng 2.4: Tình hình tín dụng tại chi nhánh theo thời hạn cho vay 40
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế tại MB Đống Đa 40
Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ vay theo tài sản bảo đảm 41
Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay theo phương thức cho vay 42
Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ theo nền kinh tế 42
Bảng 2.9: Dư nợ bảo lãnh giai đoạn 2013 - 2015 43
Bảng 2.10: Cơ cấu DNNVV có quan hệ tín dụng với chi nhánh 44
Bảng 2.11: Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay đối với các DNNVV 45
Bảng 2.12: Dư nợ tín dụng đối với DNNVV của chi nhánh 46
Bảng 2.13: Dư nợ cho vay các DNNVV phân theo các tiêu thức tại MB Đống Đa 48
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm vừa qua tại Việt Nam, DNNVV đang ngày càng phát triển
và khẳng định vài trò đối với nền kinh tế Theo thống kê, DNNVV chiếm tới 95%trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50%tổng số lao động, chiếm hơn 17% tổng nộp ngân sách nhà nước Sự phát triển củacác DNNVV đã cung ứng việc làm cho người lao động, góp phần vào tăng trưởngGDP cho đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng của đất nước
Một trong những động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV đóchính là nguồn tín dụng đối với các DNNVV và Chính phủ Việt Nam đã có rấtnhiều chính sách ưu đãi nhằm nâng đỡ, hỗ trợ nguồn vốn cho các DNNVV, giúp cácDNNVV đứng vững và vươn tầm ra các nước trong khu vực
Trong giai đoạn hiện nay tín dụng đối với DNNVV là một trong những cơ sởnền tảng đưa hoạt động của ngân hàng thương mại nước ta từ quy mô nhỏ bé, nănglực tài chính thấp từng bước trở thành những ngân hàng có quy mô lớn, công nghệhiện đại và có khả năng tài chính vững mạnh Bởi vì với số lượng lớn trong tổng sốdoanh nghiệp cả nước, tạo một thị trường rộng lớn, mang lại nhiều tiềm năng vềdoanh thu từ hoạt động cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng Đối vớiNgân hàng, hoạt động tín dụng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động kinhdoanh, nên đã không ngừng mở rộng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tín dụng phục
vụ nhu cầu các DNNVV
Tuy nhiên, một thực trạng hiện nay là hoạt động tín dụng đối với cácDNNVV vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập, các DNNVV vẫn gặp khó khăn trongviệc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng Hỗ trợ tín dụng đối với DNNVV đã
và đang là một yêu cầu khách quan cấp bách hiện nay
Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này đối với hoạt động kinh doanhcủa Ngân hàng TMCP Quân Đội nói chung và của Ngân hàng TMCP Quân Đội –
chi nhánh Đống Đa nói riêng, em lựa chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động
Trang 10tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – chi nhánh Đống Đa”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn về hoạt động tín dụngDNNVV của ngân hàng thương mại
Nguyên cứu thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàngTMCP Quân Đội
Đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đốivới DNNVV tại Ngân hàng TMCP Quân Đội nói chung cung như tại Ngân hàngTMCP Quân Đội – chi nhánh Đống Đa nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trong hoạt động tín dụng đối với DNNVV, đề tài tập trung nghiên cứu sâuhoạt động cho vay Đây là hoạt động chủ yếu trong hoạt động tín dụng cũng nhưhoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánhĐống Đa
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, bằng phương pháp thống kê và so sánhgiữa các năm, các chỉ tiêu, để thấy được những kết quả đạt được và hạn chế tronghoạt động tín dụng đối với DNNVV Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương phápphân tích tổng hợp và các phương pháp liên quan khác, đánh giá thực trạng, rút ranguyên nhân và tìm hướng giải quyết
5 Bố cục của đề tài:
Đề tài được chia làm 3 phần:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàngTMCP Quân Đội – chi nhánh Đống Đa
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngânhàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Đống Đa
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sựphát triển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã
có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa,ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường –thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những địnhchế tài chính không thế thiếu được
Theo luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ cức kinh doanh tiền tệ mà hoạtđộng chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khẩu và làmphương tiện thanh toán
Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trongnền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗiđược huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay và phát triểnkinh tế
Là một chủ thế kinh tế đặc biệt trong nền kinh tế, NHTM có những nghiệp vụ
cơ bản đặc trưng:
1.1.1 Hoạt động huy động vốn
NHTM huy động vốn dưới các hình thức như nhận tiền gửi của tổ chức, cánhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ
có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước Bêncạnh đó, khi cần vốn, NHTM có thể vay vốn của các TCTD khác hoạt động trong vàngoài nước hoặc vay vốn ngắn hạn của NHNN Nghiệp vụ này phản ánh quá trìnhhình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể như sau:
- Nghiệp vụ tiền gửi:
Trang 12Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từcác doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đóNHTM có thể huy động được Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các khoản tiềnnhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảoquản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
- Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tínhthời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cungcấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế Hơn nữa,nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro thanh khoản và tăng cườngtính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh
- Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạovốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ
và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trongđiều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốntrên cơ sở khai thác tại chỗ
- Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốnkinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước Đây là khoản vốn huy động không thường xuyêncủa NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập racác dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng cáckhoản vay
- Vốn chủ sở hữu của NHTM :
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM Lượng vốn này chiếm tỷ trọngnhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khibắt đầu thành lập ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể
Trang 13sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, muasắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham giađầu tư góp vốn liên doanh Trong thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên
từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại
1.1.2 Hoạt động về sử dụng vốn
Là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đíchkhác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận Nghiệp
vụ tài sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
- Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mụcđích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năngthanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngânhàng Nhà nước đề ra
- Nghiệp vụ cho vay:
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại NHTM đivay để cho vay, do đó có cho vay được hay không là vấn đề mà mọi NHTM đềuphải tìm cách giải quyết Thông thường lợi nhuận từ hoạt động cho vay này chiếmtới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của ngân hàng Nghiệp vụ cho vay có thể đượcphân loại bằng nhiều cách: theo thời gian có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn vàdài hạn, theo hình thức đảm bảo có cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo,theo mục đích có cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay cá nhân, chovay nông nghiệp, cho vay thuê mua
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được từdân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thứcnhư : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thulợi nhuận trên các khoản đầu tư đó
- Nghiệp vụ khác
Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động king doanh như: kinh doanh
Trang 14ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngânquỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm
Ngoài các hoạt động chính, NHTM còn tham gia vào nhiều hoạt động khác,nhằm đa dạng hóa hoạt động như: tham gia thị trường tiền tệ thông qua hình thứcmua bán các công cụ của thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận
ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá,…
1.1.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán.
NHTM thường xuyên cũng cấp các dịch vụ như thanh toán trong nước chokhách hàng, các dịch vụ thu hộ và chi hộ, dịch vụ thanh toán khác theo quy định củaNHNN, các dịch vụ TTQT khi được NHNN cho phép, dịch vụ thu và phát tiền mặtcho khách hàng NHTM cũng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệthống thanh toán liên ngân hàng trong nước
1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng và mở rộng tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là một trong những chức năng hoạt động của hầu hếtcác định chế tài chính Riêng đối với các NHTM, tín dụng là một chức năng cơbản Tín dụng trong ngân hàng hay còn được gọi là tín dụng ngân hàng và được
hiểu như sau: “Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch về tài sản giữa
hai chủ thể trong đó một bên là người cho vay (ngân hàng) chuyển giao một lượng giá trị (tiền) cho người đi vay (cá nhân doanh nghiệp, và các chủ thể khác) sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận đồng thời bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện vốn gốc kèm theo một khoản lợi tức khi đến hạn thanh toán”.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng là việc vay và cho vay giữa ngân hàng với cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư được thực hiện thông quaviệc sử dụng tiền tệ lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi khi đến hạnvay
Để đánh giá mở rộng tín dụng DNNVV trong phạm vi này, xin được đưa ra
khái niệm về mở rộng tín dụng DNNVV là sự mở rộng về quy mô (số tuyệt đối)
Trang 15khối lượng tín dụng DNNVV, mở rộng về danh sách cho vay, mở rộng về tỷ trọngcủa tín dụng DNNVV trong tổng tín dụng, mở rộng về chất lượng tín dụng cũng như
mở rộng về các sản phẩm dịch vụ tín dụng cung ứng cho DNNVV, mở rộng về sốlượng khách hàng, đối tượng cho vay…Nói chung, mở rộng tín dụng DNNVV là
mở rộng về cả quy mô số lượng lẫn chất lượng tín dụng DNNVV
1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng với DNNVV
- Thứ nhất: Hầu hết các DNNVV đều thiếu vốn kinh doanh để kinh doanh
và mở rộng kinh doanh nên đều có nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng
- Thứ hai: Do DNNVV có số lượng rất lớn nên món vay nhiều nhưng giá trị
mỗi món vay lại thấp, đối tượng cho vay đa dạng phong phú Mặt khác, xuất phát từđặc điểm kinh doanh của các DNNVV là kinh doanh đa dạng nhiều mặt hàng, giá trịcủa mỗi món vay phụ thuộc vào tính hình tiêu thụ sản phẩm đó trên thị trường, nếusản phẩm tiêu thụ được nhiều phải mở rộng sản xuất, các DN sẽ cần nhiều vốn hơn
và ngược lại
- Thứ ba: Các DNNVV thường có nhu cầu đầu tư trung và dài hạn với lãi
suất thấp Hầu hết các DNNVV muốn vay vốn trung và dài hạn để đầu tư mua sắmcải tạo cơ sở vật chất, nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên khả năng về nguồnvốn của ngân hàng là có hạn
- Thứ tư: Ngân hàng khó cho vay DNNVV vì:
+ Thiếu tài sản đảm bảo, hoặc DN có tài sản đảm bảo nhưng chưa đủ giấy tờ,thủ tục chứng minh quyền sở hữu hợp pháp tài sản đó
+ Báo cáo tài chính của DNNVV chưa chính xác, độ tin cậy chưa cao, gây khókhăn trong việc thẩm định phương án vay vốn cũng như hình thức đảm bảo nợ vay
+ Diễn biến thị trường phức tạp, trong khi đó DNNVV có quy mô hoạt động vàhiệu quả kinh doanh chưa cao do vậy khó xoay sở để vượt qua biến động của thị trường
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện ra đời và phát triển của DNNVV.
Ngân hàng hỗ trợ cho DNNVV từ lúc bắt đầu khởi sự và trong suốt quá trìnhhoạt động, phát triển của doanh nghiệp Nếu không có sự hỗ trợ này, các DNNVV
Trang 16sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt độngsản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được Nhiều doanh nghiệp ra đời,song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đạidẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thiếu sức cạnh tranh vàkhó đứng vững trên thương trường
Để có thể hoạt động thường xuyên, liên tục, các DNNVV phải có đủ vốn đểđáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn vốn tự có và vốn vay khôngchính thức của doanh nghiệp rất hạn chế Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giảipháp hữu hiệu Tín dụng ngân hàng còn giúp các DNNVV tái sản mở rộng, pháttriển các ngành nghề mũi nhọn
1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng là giải pháp tốt nhất giải quyết vốn tạm thời thiếu hụt cho DNNVV
Trong quá trình hoạt động do đặc điểm luân chuyển vốn trong quá trình kinhdoanh luôn tạo ra sự không ăn khớp về thời gian và quy mô giữa nhu cầu vốn và khảnăng tài trợ nên dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn giúpcho các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề cung ứng vốn lưu động để đảm bảo chocác hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục Đặc biệt đốivới các DNNVV với nguồn vốn khởi sự kinh doanh thấp thì việc tận dụng nguồnvốn này là rất quan trọng
1.2.3.3 Tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ quan trọng, giúp DNNVV nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Tín dụng ngân hàng như một công cụ để thúc đẩy kinh tế phát triển, đồngthời phát huy vai trò kiểm soát bằng đồng tiền của nó, mặt khác có thể tham mưucho DN trên lĩnh vực mà ngân hàng biết, cũng bởi ngân hàng có quan hệ với rấtnhiều chủ thể kinh tế khác nhau nên tận dụng được cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn tín dụng của các thành phần kinh tế trong đó có DNNVV
1.2.3.4 Tín dụng ngân hàng giúp DNNVV nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV trên thị trường
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà còn phải đảm
Trang 17bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Do vậy, khi sử dụng vốn vay, các doanh nghiệpkhông phải chỉ thu hồi đu vốn mà còn phai ttim mọi biên phap sử dụng vốn sao cho
có hiệu quả nhất Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay khi đã thẩm định đầy đủ, kỹcàng mọi yếu tố liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là tính hiệu quả vàkhả thi của phương án, dự án kinh doanh cần tài trợ vốn Vì vậy, ngay từ khi thiếtlập phương án sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đă phải nghiên cứu và phântích kỹ nhằm tăng tính khả thi của phương án, tăng cường sự tin tưởng của ngânhàng khi quyết định tài trợ
Trong quá trình cấp tín dụng, ngân hàng còn tư vấn giúp cho các doanhnghiệp đưa ra các quyết định đầu tư tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanhnghiệp Đồng thời công tác kiểm tra định kỳ của các ngân hàng đã buộc các doanhnghiệp phải làm ăn đứng đắn, minh bạch, tuân thủ pháp luật Trên cơ sở đó năng lựccạnh tranh lành mạnh của DNNVV sẽ ngày càng được nâng cao trên thị trường
1.2.3.5 Tín dụng ngân hàng giúp DNNVV tiếp cận nguồn vốn nước ngoài
Tín dụng ngân hàng giúp các DNNVV có khả năng tiếp cận vốn nước ngoàithông qua các dịch vụ như: sử dụng hạn mức L/C, thông qua bảo lãnh cho cácDNNVV trong việc mua sắm máy móc thiết bị Qua nguồn vốn vay này cácDNNVV có thể xác định cơ cấu vốn tối ưu, đảm bảo kết hợp hiệu quả giữa nguồnvốn đi vay cũng như nguồn vốn tự có, sản xuất sản phẩm tại giá vốn bình quân rẻnhất nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hàng hóa và được thị trường chấp nhận
Có như vậy DN mới đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
1.2.3.6 Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng hai nhómnguồn vốn là: vốn tự có và vốn đi vay Tuy nhiên, vốn của doanh nghiệp thường khôngđược đáp ứng đủ nhu cầu và phải đi vay, quy mô của khoản vay còn tùy thuộc vào cácđiều kiện của doanh nghiệp, các quy định vay vốn của ngân hàng, pháp luật của Nhànước… Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lãi dẫn đến tănggiá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy buộc doanh nghiệpphải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu Đây là sự kết hợp tốt nhất các nguồn tài trợ cho hoạt
Trang 18động kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa giá trị thị trường củadoanh nghiêp tại mưc gia vốn btinh quân rẻ nhât.
1.2.4 Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV.
Đáp ứng nhu cầu vốn đa dạng của các DNNVV, NHTM thường thiết kế cácsản phẩm tín dụng khác nhau phù hợp với nhu cầu của DN Có nhiều tiêu thức đểphân loại hình thức cấp tín dụng, cụ thể như sau:
1.2.4.1 Căn cứ vào thời hạn vay, tín dụng được chia thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại cho vay dưới 12 tháng nhằm bổ sung vốn lưu
động tạm thời của DN DNNVV có thể vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu về vốncho hoạt động sản xuất, kinh doanh Cũng như các khoản vay trung và dài hạn, cácdoanh nghiệp không được vay để đáp ứng các nhu cầu như: mua sắm các tài sản vàchi phí hình thành nên các tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng,chuyển đổi; thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luậtcấm Căn cứ vào điều kiện cụ thể, DNNVV có thể lựa chọn trong số các hình thứcvay ngắn hạn sau:
+ Cho vay từng lần:
Hình thức tín dụng này thường xuyên được áp dụng đối với doanh nghiệpkhông có nhu cầu vay vốn thường xuyên, cần vay vốn cho hoạt động kinh doanh cụthể Theo hình thức này, mỗi lần vay doanh nghiệp và ngân hàng thực hiện thủ tụcvay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Theo hình thức này, doanh nghiệp và ngân hàng căn cứ vào phương án, kếhoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ vay vốn tối đa
so với tài sản bảo đảm, để xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trìtrong một khoảng thời gian nhất định Nội dung thoả thuận được thể hiện và ký kếtbằng hợp đồng tín dụng Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường được ápdụng đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn - trả nợ thường xuyên, có đặc điểmsản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từnglần, có uy tín với ngân hàng
Trang 19So với hình thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng tạo điềukiện cho DNNVV linh hoạt và chủ động hơn trong việc sử dụng vốn vay Nhưngnếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thì không cần vay theo hìnhthức này vì khi vòng quay vốn quá thấp trong hạn mức tín dụng có thể làm cho ngânhàng khắt khe hơn trong các hợp đồng tín dụng mới.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi:
Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuậncho doanh nghiệp chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệptrên cơ sở các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toánqua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
So với cácc hình thức vay trên, vay theo hạn mức thấu chi tạo điều kiện chodoanh nghiệp chủ động và linh hoạt hơn trong việc sử dụng vốn
+ Chiết khấu chứng từ có giá:
Đây là hình thức mà qua đó ngân hàng mua các giấy tờ có giá ngắn hạn củangười thụ hưởng trước khi các giấy tờ này đến hạn thanh toán Đối tượng chiết khấu
là các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổtiết kiệm, thương phiếu, bộ chứng từ hàng xuất, các trái phiếu có thời hạn lưu hànhcũng lại từ trên 12 tháng, các giấy tờ khác trị giá bằng tiền
+ Bao thanh toán:
Bao thanh toán là hình thức cho vay mà ngân hàng đứng ra thanh toán ngaycho doanh nghiệp xuất khẩu một phần tiền về hàng hoá bán cho doanh nghiệp nhậpkhẩu nước ngoài và sau đó sẽ thu hồi lại vốn cho vay từ doanh nghiệp nhập khẩunước ngoài
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Theo hình thức này, ngân hàng chấp nhận cho doanh nghiệp được sử dụng sốvốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán mua hàng hoá, dịch vụ và rúttiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.Khi vay để phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp phải tuântheo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và
Trang 20sử dụng thẻ tín dụng.
Những doanh nghiệp lớn đó có uy tín trên thị trường thường có nhu cầu tiếpcận các khoản vay trung và dài hạn Tuy nhiên đối với các DNNVV, với đặc thù vềquy mô, vốn và hoạt động nên có nhu cầu tiếp cận các khoản vay ngắn hạn để giảiquyết các nhu cầu và giao dịch thường xuyên và trước mắt Việc nắm bắt và sử dụngthành thạo các loại hình dịch vụ nêu trên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trìhoạt động đều đặn của doanh nghiệp
Đối với các DNNVV, sau khi đã tiếp cận được các khoản vay ngắn hạn thìviệc sử dụng các khoản vay trên đúng mục đích đóng vai trò quan trọng Nếu doanhnghiệp sử dụng vốn vay ngắn hạn cho các kế hoạch kinh doanh và đầu tư dài hạn sẽthực sự là một thách thức và tiềm ẩn rủi ro cho chính họ và ngân hàng
- Tín dụng trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên một năm, nhằm
đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây nhà xưởng, mở rộng sản xuất kinh doanh Tíndụng trung - dài hạn cho DNNVV chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các dự án đổimới, mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư cho xây dựng cơ bản Các hình thứctín dụng trung - dài hạn ba gồm:
+ Cho vay theo dự án đầu tư:
Đây là hình thức tín dụng qua đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn đểthực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống
Về bản chất, dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất về nhu cầu vốn, cáchthức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác địnhđối với hoạt động cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định
Về phương pháp cho vay, vay theo dự án đầu tư tương tự như vay từng lần.Ngân hàng và doanh nghiệp thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu
tư của sự án Việc trả nợ được tiến hành theo định kỳ một cách đều đặn, lãi tiền vaythường được tính theo dư nợ đầu kỳ và trả cùng với nợ gốc
+ Cho vay hợp vốn:
Là hình thức tín dụng mà qua đó một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn
Trang 21của doanh nghiệp do một nhóm tổ chức tín dụng cho vay, trong đó có một tổ chứctín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Vay hợp vốnđược thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay và Quy chế đồng tài trợ của các
tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:
Theo hình thức này, ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho doanh nghiệpvay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án Ngân hàng
và doanh nghiệp thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mứcphí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
Hạn mức tín dụng dự phòng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệpcần chủ động về vốn cho việc thực hiện các dự án đầu tư trong tương lai Để đượcngân hàng cam kết cung cấp cho một lượng vốn trong thời gian thực hiện các dự án
đó, doanh nghiệp phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng (kể cảtrường hợp không rút vốn theo hạn mức này)
Tiếp cận vốn trung - dài hạn đóng vai trò quan trọng đối với các doanhnghiệp nói chung và càng trở nên quan trọng hơn với DNNVV Điều kiện cạnhtranh gay gắt đòi hỏi các DNNVV phải có nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư vàthực hiện các kế hoạch kinh doanh lâu dài
1.2.4.2 Căn cứ độ tín nhiệm của Ngân hàng:
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm như thế chấp,
cầm cố, bảo lãnh Các hình thức của cho vay có bảo đảm là:
+ Cho vay trả góp:
Là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp trả gốclàm nhiều lần trong thời hạn cho vay đó thỏa thuận Số tiền trả nợ mỗi kỳ được tínhtoán phù hợp với khả năng của doanh nghiệp Đối với DNNVV, đây là hình thứcđược sử dụng thường xuyên và ngay cả trong trường hợp có đủ vốn thì các doanhnghiệp này vẫn tính đến việc vay trả góp để có thể sử dụng nguồn vốn có sẵn vàocác nhu cầu cấp thiết hơn Để vay vốn thuận lợi, doanh nghiệp thường thế chấp hàngmua trả góp, nhưng với các tài sản có khả năng mất giá trong một thời gian ngắn thì
Trang 22ngân hàng buộc phải đưa ra mức phí cao, vì vậy doanh nghiệp phải tính toán khi lựachọn hình thức tín dụng này.
+ Cầm cố:
Đây là hình thức tín dụng mà qua đó, DNNVV phải chuyển quyền kiểm soáttài sản sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết Điểm cơ bản là cầm cố thíchhợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát, bảo quản tương đối chắc chắn,việc kiểm soát tài sản cầm cố không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của doanhnghiệp Cầm cố cũng có thể được áp dụng với hàng hoá trong điều kiện đó là nhữnghàng hoá ít chịu tác động của môi trường
Đối với DNNVV, cầm cố và thế chấp là những hình thức tương đối dễ ápdụng và trên thực tế được các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên Tuy nhiên, mộttrong những khó khăn đối với DNNVV là phải chứng minh được quyền sở hữu đốivới những tài sản đem cầm cố, thế chấp
- Cho vay không có tài sản đảm bảo (còn được gọi là vay tín chấp): là loại
cho vay không có tài sản đảm bảo, việc cho vay hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm củangân hàng với khách hàng Cho vay không có tài sản bảo đảm được đánh giá là antoàn cho người đi vay, ngược lại có mức độ rủi ro cao với người cho vay Chính vì
lý do này mà người đi vay tín chấp thường phải trả lãi suất khá cao và có lý lịch tíndụng cá nhân chất lượng Tùy từng ngân hàng có khẩu vị rủi ro khác nhau mà hìnhthức cho vay này có được áp dụng hay không
Ngoài những tiêu chí nêu trên, người ta còn dựa theo các tiêu chí khác để
Trang 23phân loại các hình thức cho vay như sau:
1.2.4.3 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp
- Cho vay gián tiếp
1.2.4.4 Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng:
- Cho vay bằng tiền mặt
- Cho vay bằng tài sản
1.2.4.5 Căn cứ vào mục đích vay:
- Cho vay bất động sản: là loại vay liên quan đến mua sắm và xây dựng bất
động sản như nhà ở, đất đai…
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: là khoản cho vay để trang trải các khoản chi phí sản
xuất nông nghiệp
- Cho thuê (bao gồm thuê vận hành và thuê tài chính): cho thuê là hình thức
cấp tín dụng bằng tài sản, trong đó ngân hàng mua máy móc thiết bị về cho DN thuê
để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV
1.2.5.1 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng.
a) Chính sách tín dụng của ngân hàng:
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thànhđịnh hướng cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên mônhóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụngnhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Vì vậy, chính sách tín dụng có tácđộng mạnh tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Trong hoạt động tín dụng đối vớiDNNVV, sự tác động của chính sách tín dụng thể hiện qua các yếu tố sau:
- Thứ nhất, quy trình thủ tục cấp tín dụng:
Do những đặc điểm của DNNVV khác với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, nên việc cho vay phải có những quy định riêng phù hợp với tìnhhình thực tế doanh nghiệp Thời gian qua, các ngân hàng thành công trong việc cho vay
Trang 24DNNVV là những ngân hàng có thay đổi về quy trình, thủ tục cấp tín dụng như: Ngânhàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quốc tế, Ngân hàng TMCP Á Châu
- Thứ hai, lãi suất cho vay: với DNNVV, lãi suất cho vay chính là giá cả của việc
sử dụng vốn, là phần lợi nhuận thu được của DNNVV dùng để trả cho ngân hàng Vìvậy, khi lãi suất ngân hàng cạnh tranh và thấp hơn so với nguồn vốn huy động khác củadoanh nghiệp (phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay cá nhân, vay tín dụng thương mại, vaydoanh nghiệp khác) thì doanh nghiệp mới quyết định vay vốn ngân hàng
- Thứ ba, hình thức cấp tín dụng:
Cấp tín dụng không chỉ đơn thuần là cho vay như các ngân hàng truyền thống,
mà phải hướng tới dịch vụ ngân hàng đa năng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong mọilĩnh vực sản xuất, kinh doanh Đồng thời đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng sẽ tạo cơhội có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
b) Công tác tổ chức của ngân hàng:
Ngân hàng phải có một bộ máy được tổ chức thống nhất, linh hoạt, gọn nhẹ,không chồng chéo và có tính chuyên môn hóa cao để hoạt động có hiệu quả Riêngđối với hoạt động tín dụng, nếu công tác tổ chức của ngân hàng phức tạp, thiếu khoahọc, các bộ phận chồng chéo nhau thì sẽ làm chậm quá trình ra quyết định tín dụng
Tổ chức hoạt động không khoa học cũng gây ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính
ỷ lại, thiếu trách nhiệm của cán bộ tín dụng Nếu công tác tổ chức trong hoạt độngtín dụng hợp lý thì sẽ làm giảm thời gian thẩm định tín dụng, kiểm tra thông tinkhách hàng cung cấp chính xác hơn, hạn chế sự gian lận của khách hàng nhờ đó mà
độ an toàn của món vay tăng lên
c) Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là yếu tố không thể thiếu trong công tác quản lý nói chung
và trong hoạt động tín dụng nói riêng Trên cơ sở thông tin đã thu thập được, nhàquản lý có thể đưa ra được quyết định đúng đắn về đầu tư tín dụng và các biện phápcần thiết để theo dõi và quản lý thu hồi nợ Các thông tin đến từ nhiều nguồn khácnhau, các ngân hàng muốn có được thông tin nhanh, chính xác phải có bộ phận phântích và xử lý thông tin, loại trừ những thông tin nhiễu Chất lượng thông tin càngcao thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cànglớn
Trang 25d) Chất lượng của công tác thẩm định:
Thẩm định tín dụng là quá trình cán bộ tín dụng xem xét, đánh giá một cáchkhách quan, toàn diện các vấn đề ảnh hưởng đến tính khả thi và khả năng hoàn trảvốn của một dự án mà khách hàng mang đến trình duyệt, trên cơ sở đó phục vụ choviệc ra quyết định cho vay của ngân hàng Để đảm bảo chất lượng thẩm định, cầnphải có sự nhanh nhạy, tính toán một cách chính xác, thu thập được những thông tintốt, phải được tiến hành đầy đủ các trình tự…Tuy nhiên nếu quy trình thẩm địnhphức tạp sẽ làm chậm việc ra quyết định tín dụng, ảnh hưởng đến mục tiêu sinh lờicủa cả ngân hàng và doanh nghiệp Thẩm định tín dụng phải có sự phối hợp đồng
bộ, chặt chẽ giữa các phòng ban để giảm thời gian thẩm định, hạn chế rủi ro
e) Cơ chế kiểm tra, kiểm soát:
Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải luôn chú trọng đến khâu kiểm trakiểm soát Ngân hàng cần có một bộ phận chuyên trách độc lập thực hiện kiểm trakiểm soát ngân hàng và khách hàng với mục đích nâng cao chất lượng tín dụng.Công tác kiểm tra kiểm soát sẽ giúp ngân hàng nhận ra những sai sót trong quy trìnhthực hiện cho vay, nắm bắt những món vay có vấn đề từ đó có biện pháp xử lý kịpthời Công tác kiểm tra kiểm soát nếu được tiến hành một cách thường xuyên sẽgiúp nâng cao tính an toàn và lành mạnh của món vay
f) Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng:
Sự thành công trong hoạt động tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực,trình độ, kỹ thuật và tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng vì họ làngười thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, có được những thông tinchính xác về doanh nghiệp thì mới có thể ra các quyết định đúng đắn Đồng thời,cán bộ tín dụng còn là người có kỹ năng tư vấn giúp khách hàng lựa chọn hình thứcdịch vụ ngân hàng phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, hỗ trợ khách hànghoàn thiện thủ tục, hồ sơ vay vốn nhanh và đảm bảo đúng quy định
1.2.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
a) Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu: vốn
tự có, khả năng sinh lãi, vòng quay vốn lưu động…Năng lực tài chính của doanh
Trang 26nghiệp càng tốt thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng càng cao, doanhnghiệp có thể tiếp cận vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn.
Ngân hàng khi xem xét cấp tín dụng thường chú trọng đến năng lực tài chính,khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thị trường, khảnăng hoàn trả vốn và lãi của doanh nghiệp
Ngân hàng sẵn sàng cho vay với doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm, sảnphẩm có thương hiệu, có thị trường ổn định Vì vậy để dễ dàng tiếp cận vốn ngânhàng, bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự nâng cao uy tín của mình bằng hiệu quảhoạt động, chiến lược phát triển lâu dài bền vững và thực hiện nghiêm túc các hợpđồng tín dụng với ngân hàng
b) Năng lực quản lý của doanh nghiệp:
Để doanh nghiệp phát triển tốt, người quản lý phải là người có hiểu biết sâusắc về nghề nghiệp, có khả năng tổ chức điều hành doanh nghiệp, có tầm nhìn xatrông rộng, đưa ra những bước đi thích hợp cho doanh nghiệp mình Khi vay vốn,nhà quản lý phải biết xác định số lượng vốn vay phù hợp với công suất, năng lựccủa doanh nghiệp, sử dụng đồng vốn đúng mục đích với hiệu quả cao Năng lựcquản lý của DNNVV là một nhân tố tạo sự tin tưởng của ngân hàng trong quá trình
ra quyết định cho doanh nghiệp vay vốn
c) Đạo đức kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp:
Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp chính là sự thành thật trong các báocáo tài chính hàng năm, trong quá trình khai báo với ngân hàng về mục đích sử dụngtiền vay và sự thiện chí của doanh nghiệp đối với nghĩa vụ hoàn trả nợ cho ngânhàng Nhiều doanh nghiệp vì muốn vay vốn nên đã tìm mọi cách để đánh bóng hìnhảnh của mình trong các báo cáo tài chính, phương án sử dụng vốn vay…Khi đượcvay vốn thì xảy ra tình trạng làm ăn thua lỗ, không trả được nợ cho ngân hàng Nếudoanh nghiệp mất uy tín đối với ngân hàng thì việc tiếp tục các hợp đồng vay vốnrất khó khăn
d) Tài sản đảm bảo.
Theo các quy định hiện hành của Nhà nước về tài sản bảo đảm cho khoản cấptín dụng, doanh nghiệp vay vốn có thể dùng nhiều tài sản khác nhau để đảm bảo cho
Trang 27các khoản vay như: đất đai, nhà xưởng, dây truyền, máy móc thiết bị, các giấy tờ cógiá, nguyên vật liệu tồn kho luân chuyển, quyền đòi nợ, quyền phát sinh từ quyềntác giả, sở hữu trí tuệ Ngoài ra ngân hàng Nhà nước cũng cho phép các tổ chức tíndụng được cho doanh nghiệp vay không có tài sản bảo đảm hoặc cho vay có tài sảnbảo đảm là biện pháp bổ sung.
Xuất phát từ nhận định về mức độ rủi ro cao của hoạt động tín dụng đối vớiDNNVV nên các doanh nghiệp có tài sản là bất động sản thường dễ dàng vay vốnhơn so với doanh nghiệp không có tài sản hoặc tài sản là hàng tồn kho luân chuyển,máy móc, các khoản phải thu Phần nhiều doanh nghiệp Nhà nước được vay vốnkhông cần tới tài sản thế chấp, cầm cố, nhưng với doanh nghiệp tư nhân thì khôngnhận được ưu đãi đó
1.2.5.3 Các nhân tố từ môi trường khách quan
a) Chính sách pháp luật của Nhà nước:
Đây là nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động tín dụng ngân hàng đối vớiDNNVV Với vai trò quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước tác động khuyến khích hoặcđiều chỉnh hoạt động tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp thông qua:
- Công cụ thuế: thông qua thuế, Nhà nước có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệpvay vốn ngân hàng thông qua việc giảm thuế thu nhập, thực hiện hoàn thuế với doanhnghiệp đầu tư tài sản cố định nhưng chưa tạo ra doanh thu Thời gian qua, Nhà nước đãxây dựng chính sách giảm, miễn thuế đối với doanh nghiệp, tuy nhiên mức thuế đưa rachưa tạo thuận lợi cho phát triển DNNVV trong nước phát triển
- Tín dụng nhà nước: là một trong những biện pháp hỗ trợ vốn trực tiếp củaNhà nước cho doanh nghiệp, nguồn vốn này có ưu điểm là lãi suất thấp, thời giancho vay dài tới 15 năm đã tạo điều kiện giảm bớt khó khăn tài chính cho doanhnghiệp, đồng thời tạo điều kiện để ngân hàng đầu tư cho vay các đối tượng này
- Chính sách tiền tệ: như lãi suất tái chiết khấu, tỷ giá, hoạt động trên thịtrường mở Thông qua các công cụ này, Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh tănghoặc giảm tín dụng của ngân hàng với nền kinh tế nói chung và với DNNVV nóiriêng
- Chính sách thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thịtrường lành mạnh, giá cả ổn định, loại bỏ rào cản thương mại để doanh nghiệp kinh
Trang 28doanh có hiệu quả đem lại lợi nhuận bằng con đường kinh doanh đúng pháp luật.
- Hệ thống văn bản pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV phát triển bìnhđẳng với các doanh nghiệp khác và các ngân hàng tăng cường cho DNNVV vay
- Tuy nhiên, sự can thiệp trong các chính sách của Nhà nước cần đảm bảovừa tạo điều kiện cho DNNVV vừa khuyến khích các ngân hàng phát triển tíndụng đối với DNNVV Kinh nghiệm từ sự thất bại trong chương trình tín dụngSahara đối với DNNVV tại Châu Phi do các tổ chức phát triển đưa ra vào đầunhững năm 1980 là một bài học trong vấn đề này Mục tiêu ban đầu của chươngtrình là cung cấp các khoản tín dụng dài hạn và các dịch vụ tài chính choDNNVV thuộc các lĩnh vực ưu tiên ở nông thôn
Trong các chương trình này, các chính sách được áp dụng bao gồm canthiệp của chính phủ đối với các dòng tín dụng thông qua một hệ thống các khoảntài trợ, áp dụng lãi suất trần, phân bổ tín dụng … Các ngân hàng do vậy không cóđộng lực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như năng lực đánh giá rủi
ro và giám sát các khoản vay Tất cả các yếu tố trên tạo thành kết quả xấu nóichung trong toàn bộ kết quả kinh doanh của các ngân hàng này Tại một số quốcgia tham gia chương trình này, tỷ lệ các khoản vay không hoạt động (non-perforrning loan) đã đạt tới 90% tổng số các khoản vay của ngân hàng
b) Môi trường chính trị xã hội:
- Môi trường chính trị xã hội ổn định là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạtđộng đầu tư và ngân hàng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng của mình
- Nhưng những biến động lớn về chính trị có sự tác động rất lớn đến hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị có thể làmcho ngân hàng gặp rủi ro mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản
- Hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu sự tác động điều chỉnh của Luật Tíndụng, quy định các quy chế cho vay, bảo đảm tiền vay…mà ngân hàng phải thựchiện Một hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, chặt chẽ, không chồng chéo…sẽ
là cơ sở để cả ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả, qua đónâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
- Nhìn chung, sự thay đổi của môi trường kinh tế hay chính sách vĩ mô đều
Trang 29có liên quan tới chất lượng tín dụng Vì vậy, các ngân hàng cần làm tốt công tác dựbáo và khả năng thích ứng nhanh khi có những biến động xảy ra.
- Ngoài ra còn có một số nhân tố bất khả kháng tác động trực tiếp đến chấtlượng tín dụng như thiên tai, dịch bệnh, địch họa… làm giảm khả năng trả nợ củakhách hàng, tăng rủi ro đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng
- Hai là: Sự ngày càng hài lòng của khách hàng về công nghệ và trình độ của cán bộ ngân hàng
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì khoa học công nghệ là một trongnhững yếu tố rất cần thiết và quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnhvực ngân hàng Ngân hàng phải luôn đổi mới trang thiết bị và công nghệ hiện đại,mới có thể đáp ứng các giao dịch với khách hàng được nhánh chóng, thuận tiện,đảm bảo an toàn, chính xác Để tiếp thu được khoa học công nghệ mới cán bộ ngânhàng phải nâng cao trình độ và kỹ thuật nghiệp vụ Trình độ nghiệp vụ của cán bộngân hàng cùng với công nghệ hiện đại sẽ ngày càng thoả mãn hơn những nhu cầucủa khách hàng
Trang 30Trong đó: DN1: là dư nợ cho vay DNNVV năm nay
DN0: là dư nợ cho vay DNNVV năm trước
Tăng trưởng dư nợ là một chỉ tiêu quan trọng của tăng trưởng quy mô tíndụng, để tăng trưởng dư nợ phải tăng doanh số cho vay lớn hơn doanh số thu nợ.Muốn tăng trưởng dư nợ bền vững thì mức tăng trưởng dư nợ phải được duy trì ổnđịnh qua các năm Đồng thời để tăng trưởng dư nợ cần tăng mức đầu tư phù hợp vớitừng dự án kết hợp với mở rộng thêm số lượng khách hàng
KH1 – KH0
+ Tăng trưởng khách hàng = x 100%
KH0
Trong đó: KH1: là số DNNVV vay vốn năm nay
KH0: là số DNNVV vay vốn năm trước
Để tăng trưởng quy mô tín dụng ngoài việc tăng trưởng dư nợ, tăng mức đầu
tư vốn cho từng dự án, thì việc tăng thêm khách hàng là một trong những chỉ tiêuquan trọng để mở rộng tín dụng
TN1 - TN0
+ Tăng trưởng thu nhập từ cho vay DNNVV = x 100%
TN0
Trong đó: TN1 : là thu nhập từ cho vay số DNNVV năm nay
TN0 : là thu nhập từ cho vay DNNVV năm trước
Cần phân biệt rõ thu nhập từ cho vay nói chung, thu nhập thuần từ cho vaysau khi đã trừ đi chi phí vốn, thu nhập thuần tín dụng Thu nhập từ hoạt động chovay DNNVV là thu lãi cho vay sau khi đã trừ đi chi phí về vốn và các chi phí kháccho hoạt động cho vay đối với DNNVV Tăng trưởng thu nhập từ hoạt động tíndụng DNNVV là thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với DNNVV năm sau cao hơnnăm trước
Tổng dư nợ cho vay DNNVV
+ Tỷ lệ cho vay DNNVV = x 100% Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ cho vay DNNVV so sánh qua các năm để đánh giá được mức độ mởrộng cho vay DNNVV so với tổng số cho vay
Trang 31Thu nhập từ cho vay DNNVV
+ Tỷ lệ thu nhập từ cho vay DNNVV = x 100% Tổng thu nhập từ cho vay
Tỷ lệ thu nhập từ cho vay DNNVV so sánh qua các năm để đánh giá đượcmức độ tăng tỷ lệ thu nhập cho vay DNNVV so với tổng thu nhập từ cho vay
Nợ xấu cho vay DNNVV
+ Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV = x 100%
- Chỉ tiêu về mở rộng đối tượng cho vay trong cho vay DNNVV
Mở rộng tín dụng còn được thể hiện thông qua việc mở rộng đối tượng cho vay.Ngân hàng có thể mở rộng số lượng khách hàng thông qua việc lựa chọn nhiều đối tượngcho vay khác nhau, bất kỳ loại đối tượng nào cũng có thể cho vay trừ những đối tượng
mà pháp luật có quy định về cấm giao dịch, mua bán, chuyển nhượng
+ Quy mô tín dụng càng mở rộng, hình thức tín dụng càng đa dạng, phong
phú chứng tỏ tín dụng càng được mở rộng Mở rộng quy mô tín dụng và hình thứctín dụng sẽ góp phần giúp cho ngân hàng có thể khai thác được tiềm năng của mọithành phần kinh tế, mọi ngành nghề cũng như mọi vùng lãnh thổ thúc đẩy nền kinh
tế phát triển
+ Khi mở rộng quy mô, hình thức tín dụng, đối tượng cho vay nhằm mụcđích để mở rộng hoạt động tín dụng thì phải tính đến hiệu quả đầu tư tín dụng, đó
Trang 32chính là chất lượng đầu tư tín dụng Muốn chất lượng đầu tư tín dụng cao, ngânhàng phải có giới hạn mở rộng quy mô tín dụng vì nếu mở rộng quá giới hạn chophép sẽ làm cho chất lượng tín dụng giảm thấp.
+ Chất lượng đầu tư tín dụng là chỉ tiêu để đánh giá việc mở rộng hoạt độngtín dụng DNNVV Mở rộng hoạt động tín dụng phải gắn liền với hiệu quả tín dụng.Nếu mở rộng hoạt động tín dụng mà hiệu quả tín dụng giảm thì không nên mở rộnghoạt động tín dụng
+ Với những yếu tố trên sẽ góp phần làm cho tín dụng ngân hàng được mởrộng nhưng vẫn đảm bảo tốt chất lượng đầu tư tín dụng
1.3 DNNVV TRONG NỀN KINH TẾ
1.3.1 Khái niệm DNNVV
Để nghiên cứu và phân tích về DNNVV, cần nắm được khái niệm về DNtrong nền kinh tế thị trường Theo luật DN năm 2005 thì: “DN là tổ chức kinh tế cótên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản riêng, có đăng ký kinh doanh theoquy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh” Có thể nói
DN là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhấtđịnh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận DN được tổ chức theo nhiều loại hình khácnhau Mỗi loại hình DN có đặc trưng riêng, từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thếcủa doanh nghiệp
- Trên thế giới, khái niệm DNNVV đã được đề cập tới từ những năm đầu củathế kỷ XX Để đưa ra khái niệm về DNNVV đã có rất nhiều ý kiến khác nhau Cáctiêu chí được sử dụng để xác định DNNVV cũng rất phong phú như: số lao động,vốn đầu tư, doanh thu, năng lực sản xuất… Song hầu hết các quốc gia đều coi trọngtiêu chí về số lao động trong DN Ví dụ như:
+ Tại Nhật Bản, DNNVV là DN sản xuất có số lượng lao động dưới 300người và số vốn đăng ký dưới 100 triệu yên; DN bán buôn có số lao dộng dưới 100người và vốn đăng ký là dưới 30 triệu yên ; DN bán lẻ và dịch vụ có dưới 50 người
và số vốn đăng kí là dưới 10 triệu yên
Trang 33+ Tại Hàn Quốc, DNNVV là DN kinh doanh và khai thác có dưới 300 laođộng và có số vốn đăng kí dưới 600.000 USD ; DN bán buôn có dưới 50 lao động
và số vốn dưới 50000USD; DN bán lẻ có dưới 50 người và số vốn dưới 250000USD thì được coi là DNVVN
+ Tại Mỹ, DNNVV là DN có dưới 1000 lao động và có vốn đăng ký dưới 3triệu USD Đồng thời doanh nghiệp được sở hữu độc lập và hoạt động trong nội địa
- Ở Việt Nam, để tạo điều kiện cho việc phát triển DNNVV, chính phủ đãban hành Nghị định 90/ NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp DNNVV, tại Điều 3của Nghị định này định nghĩa:
“ DN nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế
xã hội cụ thể của từng nghành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.”
- Theo khái niệm này, khu vực DNNVV tại Viêt Nam hiện nay bao gồm: + Các DNNN có quy mô vừa và nhỏ kinh doanh độc lập
+ Các hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ đăng ký hoạt động theo luật hợp tác xã.+ Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí hoạt động theo Nghị định số02/2002/NĐ-CP về đăng kí kinh doanh ngày 03/02/2000 của Chính Phủ
So với trước đây, các tiêu chí để xác định DNVVN đều được nâng lên chophù hợp với tình hình thực tế nước ta hiện nay, quy mô của DNVVN đã lớn hơntrước Đồng thời hiện nay chính phủ đang có dự định sửa đổi Nghị định số90/2001/NĐ-CP để phù hợp với quá trình hội nhập WTO, dần đánh giá chính xác vềDNVVN theo tiêu chí của thế giới
1.3.2 Đặc điểm của DNNVV
a) Những đặc điểm thuộc về thế mạnh của DNNVV:
- Thứ nhất, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu
quả Số vốn đăng ký ban đầu của DNNVV không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc
Trang 34độ quay vòng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiệncho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả
- Thứ hai, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành
phần kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước Các DNNVVhoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp,xây dựng, nông – lâm – ngư nghiệp…và hoạt động dưới nhiều hình thức: DNNN,doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể
- Thứ ba, DNNVV có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi
của thị trường; có khả năng chuyển hướng sản xuất, kinh doanh và chuyển hướngmặt hàng nhanh vốn đầu tư ít; quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh Mặt khác, doDNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên khi không thích ứng được với nhucầu cua thị trường, với loại htinh san xuât - kinh doanh này thti doanh nghiêp có thể
dễ dàng chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường
- Thứ tư, DNNVV có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm: xuất phát từ quy
mô nhỏ, vốn đầu tư không lớn nên doanh nghiệp có thể mạnh dạn tham gia vàonhững ngành mới, lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra những sảnphẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt
- Thứ năm, DNNVV có bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ: với quy
mô nhỏ, số lượng lao động ít, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp, quan
hệ giữa người quản lý với người lao động khá chặt chẽ Các quyết định quản lýđược đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và phiền hà nên có thể tiếtkiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp
b) Những đặc điểm hạn chế của DNNVV
- Một là, quy mô vốn và năng lực tài chính còn hạn chế nên DNNVV khó
tiếp cận các kênh huy động vốn Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ,vốn điều lệ ban đầu thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên các DNNVV thường không đáp ứngđược nhu cầu vốn cho đầu tư Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ dẫnđến tỷ lệ vốn từ lợi nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn
Trang 35ra chậm, giá trị tài sản thuần thấp (tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ
đi nợ phải trả), uy tín trên thương trường không cao, nên các nhà đầu tư coi đây làkhu vực nhiều rủi ro Chính vậy DNNVV gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận các kênhhuy động vốn trong nền kinh tế
- Hai là, năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh còn yếu:
Nguồn tài chính hạn chế đă khiến cho các DNNVV không có điều kiện đầu tư quánhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến,hiện đại, càng không thể tập trung nhiều vào công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật
- Ba là, thị trường nhỏ hẹp và năng lực cạnh tranh hạn chế: Do hạn chế về
vốn, công nghệ, lao động, nên các DNNVV chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ, đápứng yêu cầu cho một đoạn thị trường nhất định Việc sử dụng các công nghệ lạc hậudẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém.DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường vàphân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kémhiệu quả
- Bốn là, năng lực quản lý còn thấp: Phần lớn DNNVV mới chỉ hoạt động
trong thời gian ngắn nên trình độ, kỹ năng của chủ doanh nghiệp cũng như củangười lao động còn hạn chế Số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độchuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Một bộ phận lớn chủ doanhnghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh
và quản lý, cũng thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh.Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động cótrình độ, tay nghề cao do không thể trả lương cao kèm theo các chính sách đăi ngộhấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý và những người lao động giỏi
- Năm là, sự liên kết giữa các DNNVV còn hạn chế: Tuy bước đầu đã có một
số hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp ra đời tập hợp các DNNVV nhưng mới chỉ ở mức
độ trao đổi kinh nghiệm, thông tin, cùng đưa ra kiến nghị về chính sách, pháp luật…Phần lớn các DNNVV chưa có sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh theo hướng tổ chức phân công lao động sản xuất sâu, rộng; hỗ trợ nhau về
Trang 36vốn, công nghệ, kỹ thuật; cùng nhau giải quyết những vấn đề phát sinh trong cáckhâu của quá trình sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh Mặt khác, sự liên hợptác, liên kết giữa các DNNVV và các doanh nghiệp lớn còn hạn chế, vì vậy chưakhai thác được lợi thế nhờ quy mô của hai khu vực này.
1.3.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường
Thực tế phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định, DNNVV giữ một vị trí, vaitrò hết sức quan trọng nhằm thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh
tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng “DNNVV được coi là xương sống của nền
kinh tế”
1.3.3.1 DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm, dịch vụ đa dạng phong phú, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Theo thống kê thì hiện nay nước ta có số DNNVV chiếm 97% tổng số doanhnghiệp trên cả nước, đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, tạo ra 90% việc làmmỗi năm (Nguồn Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Với một lực lượng sản xuất đông đảo,DNNVV đã tạo ra một khối lượng đáng kể sản phẩm và dịch vụ trong nền kinh tếquốc dân Sự phát triển đa dạng về nghành nghề, quy mô, hình thức tổ chức kinhdoanh DNNVV đã góp phần to lớn cho việc lấp chỗ trống cho những thiếu hụt từkhu vực kinh tế quốc doanh, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhân dân để thu hútvốn đầu tư nền kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người
1.3.3.2 DNNVV góp phần quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương
Hiện nay có rất nhiều tiềm năng trong dân cư chưa được khai thác như tiềmnăng nguyên vật liệu, tay nghề, lao động, vốn, bí quyết sản xuất… Do đó, việc sảnxuất, phát triển nghành nghề ở nông thôn hiện nay là một hướng đi đúng đắn nhằmkhai thác các nguồn lực nói trên
1.3.3.3 DNNVV góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân bằng
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực tế cho thấy rằng, các DN lớn thường tập trung ở các thành phố, thị xã lớn
Trang 37có cơ sở hạ tầng phát triển và nhu cầu sản xuất tiêu dùng cao nhưng không đáp ứngđược nhu cầu của các dân cư ở các vùng nông thôn miền núi Điều này gây ra tình trạngmất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế Vì vậy, các DNNVV với ưu thế
về số lượng và hoạt động trong hầu hết mọi ngành nghề ở khắp các địa phương đã gópphần tạo lập sự cân đối trong sự phát triển giữa các vùng miền
1.3.3.4 DNNVV làm tăng hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Sự ra đời của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế Với
sự tồn tại của nhiều DN hoạt động cùng một ngành, một lĩnh vực làm giảm tính độcquyền và buộc các DN phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để có thểtồn tại và phát triển Với tính linh hoạt của mình, các DNNVV cũng sẽ tạo ra sức épcạnh tranh thậm chí với cả công ty lớn.Vì thế, có thể nói DNNVV đã góp phần xâydựng một nền kinh tế sôi động hơn
1.3.3.5 DNNVV tạo ra thị trường rộng lớn cho hoạt động của các ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng của thị trường tiền tệ.
Trong tiến trình CNH – HĐH đất nước, việc phát triển DNNVV đang thu hút
sự quan tâm của đông đảo dư luận, các nhà tài trợ đặc biệt là các NHTM Bằngchứng là, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho DNNVV là từ kênh ngânhàng Đây có thể coi là nguồn vốn rẻ và dồi dào cho việc huy động vốn ngân hàng.Với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các DNNVV thì nhu cầu về vốn ngàycàng tăng và thị trường hoạt động tín dụng của NH càng được mở rộng, đồng thờiđẩy mạnh sự phát triển dịch vụ NH khác
Như vậy, DNNVV có tiềm năng và lợi thế vô cùng lớn đối với toàn bộ NKTquốc dân
Kết luận Chương 1
Trong chương 1 Luận văn đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của Lý luận về tíndụng ngân hàng và cho vay đối với DNNVV cũng như đưa ra các khái niệm về Tín
Trang 38dụng ngân hàng, khái niệm về DNNVV, đặc điểm vai trò của tín dụng ngân hàngđối với DNNVV
DNNVV là một trong những chủ thể kinh tế quan trọng, có sự đóng góp tolớn vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay Đây không chỉ là đối tượngđược chính phủ dành cho những chính sách để phát triển, mà còn là những đốitượng khách hàng được các ngân hàng hiện nay đặc biệt quan tâm
Tín dụng đối với DNNVV không chỉ đem lại nguồn lợi to lớn cho các ngânhàng, mà còn là nguồn vốn giúp cho các DNNVV hoạt động ổn định, góp phần pháttriển nền kinh tế Việt Nam
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV
TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) được thành lập năm 1994với mục tiêu ban đầu là đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính cho các Doanh nghiệpQuân đội Trải qua hơn 16 năm hoạt động, MB ngày càng phát triển lớn mạnh, địnhhướng trở thành một tập đoàn với ngân hàng mẹ MB (một trong số NHTMCP hàngđầu Việt Nam) và năm công ty con hoạt động kinh doanh có hiệu quả, từng bướckhẳng định là các thương hiệu có uy tín trong ngành dịch vụ tài chính (ngân hàng,bảo hiểm, chứng khoán) và bất động sản tại Việt Nam
Với số vốn điều lệ khi thành lập chỉ có 20 tỷ đồng, sau nhiều lần tăng vốn hiệnnay vốn điều lệ của MB là 16.0000 tỷ đồng (tháng 7/2015), MB có mạng lưới bao phủrộng khắp cả nước với Hội sở chính tại số 21 Cát linh, quận Đống Đa, thành phố HàNội, 02 chi nhánh nước ngoài (01 chi nhánh tại Lào và 01 chi nhánh tại Campuchia), 71Chi nhánh trong cả nước, 148 phòng giao dịch và 02 quỹ tiết kiệm phố trên cả nước(tính đến ngày 31/12/2015) với khoảng 8.000 cán bộ nhân viên
MB có năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh cao, tuân thủ các chỉ tiêu antoàn vốn do NHNN VN quy định, đồng thời đáp ứng nhu cầu mở rộng của Ngânhàng trong tương lai Tổng tài sản của MB ngày càng gia tăng, xét về tổng tài sản vàvốn điều lệ, MB là một trong những NHTMCP trong nước có quy mô lớn đạt gần200.410 tỷ đồng tính đến thời điểm cuối năm 2015 Với dịch vụ và sản phẩm đadạng, MB phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng mở rộng hoạt động của mình ra cácphân khúc thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống ban đầu Trong nhiềunăm qua, MB liên tục được NHNN xếp hạng A - tiêu chuẩn cao nhất do NHNN banhành và luôn nhận được nhiều giải thưởng quan trọng trong nước do các cơ quan, tổchức có uy tín trao tặng,…
Trang 402.2 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
2.2.1 Quá trình thành lập của Ngân hàng TMCP Quân Đội – CN Đống Đa.
* Quá trình thành lập.
Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Đống Đa được thành lập và đi vàohoạt động từ ngày 04/11/2011 (tiền thân là PGD Đống Đa - chi nhánh Điện BiênPhủ) Đây là một trong những hoạt động của MB phát triển nghiệp vụ ngân hàngbán lẻ, lấy phát triển dịch vụ và đem lại tiện ích cho khách hàng làm nền tảng; hoạtđộng theo mô hình giao dịch một cửa với quy trình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại vàcông nghệ tiên tiến, theo đúng dự án hiện đại hoá ngân hàng Việt Nam hiện nay
Việc thành lập chi nhánh Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Đống Đa phùhợp với tiến trình thực hiện chương trình cơ cấu lại, gắn liền với đổi mới toàn diện vàphát triển vững chắc với nhịp độ tăng trưởng cao, đa dạng hoá khách hàng thuộc mọithành phần kinh tế, và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, nâng caohiệu quả an toàn hệ thống theo đòi hỏi của cơ chế thị trường, làm nòng cốt cho việc xâydựng tập đoàn tài chính đa năng, vững mạnh, hội nhập quốc tế
Trụ sở chính của chi nhánh đặt tại đường Xã Đàn cùng với 4 điểm giao dịchđặt trong khu vực rất thuận tiện để cung cấp các sản phẩm ngân hàng tới từng ngườidân
Về cơ sở vật chất trang thiết bị được trang bị khá đầy đủ, phù hợp với tiếntrình hiện đại hoá, thuận tiện cho việc nhận tiền, kí gửi, công tác thanh toán trêntoàn quốc trong cũng như ngoài nước
2.2.2 Mô hình tổ chức hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – CN Đống Đa.
Ngân hàng TMCP Quân Đội - Đống Đa sắp xếp bố trí bộ máy và phương thứchoạt động với cơ cấu sau :
- Ban Giám đốc chịu trách nhiệm điều hành chung mọi hoạt động của chi
nhánh