1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập nhóm môn luật dân sự việt nam 1

18 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 49,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại điều 134 BLDS quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặ

Trang 1

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI 1

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 2

1) Anh B có quyền làm như vậy không? Vì sao? 2

a)Trường hợp thứ nhất 2

b) Trường hợp thứ hai 4

2. Giao dịch giữa A và B có hiệu lực pháp luật hay không? Nêu căn cứ pháp lý? 5

a)Trường hợp thứ nhất 5

b) Trường hợp thứ hai 7

3) Giả sử: B dùng hợp đồng ủy quyền giữa mình và A để ký kết hợp đồng chuyển nhượng với Y, hợp đồng đó có hiệu lực hay không? Nêu căn cứ pháp lý? 7

a)Trường hợp thứ nhất 7

b)Trường hợp thứ hai 8

4 Hãy giải quyết hậu quả pháp lý của từng loại hợp đồng trên? Nêu căn cứ pháp lý? 9

a) Đối với hợp đồng ủy quyền của A và B 9

b)Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất giữa A và công ty Y 12

5) Nhóm hãy đưa ra bình luận, đánh giá về những bất cập đồng thời kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật liên quan tới tình huống nói trên? 12

Trang 2

ĐỀ BÀI

Ông A và B là hai anh, em ruột của dòng họ Nguyễn A có vợ là M và con là T.

B có vợ là N và con là Q Trước khi qua đời, bố, mẹ A, B có để lại toàn bộ phần tài sản là giá trị quyền sử dụng 500m2 đất tại Quận X Một hôm, B đến nhà A gặp M đang ở nhà, B trình bày việc muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho Công ty Y và chia đôi khoản tiền đó trong khi A đang nằm ngủ trên tầng vì say rượu từ tối hôm trước Tuy nhiên, yêu cầu của B bị M từ chối vì cho rằng đây là đất tổ tiên, ông cha nên không muốn bán mà để lại cho các con, cháu B liền chìa

tờ giấy có ghi rõ nội dung B được A ủy quyền mua bán mảnh đất cho mình và lập luận với M rằng: Đất là của dòng họ Nguyễn nên các con dâu không có quyền đồng ý hay không, bên cạnh đó anh đã được anh A ủy quyền toàn bộ cho việc bán mảnh đất này nên anh có toàn quyền quyết định Chị M xem giấy và quả quyết: Anh A không bao giờ làm như vậy mà không bàn bạc với chị, đồng thời nhấn mạnh hôm qua A đi đám cưới với B về say khướt không biết gì Nên tờ giấy này không có giá trị pháp lý.

Hỏi:

1) Anh B có quyền làm như vậy không? Vì sao?

2) Giao dịch giữa A và B có hiệu lực pháp luật hay không? Nêu căn cứ pháp lý? 3) Giả sử: B dùng hợp đồng ủy quyền giữa mình và A để ký kết hợp đồng chuyển nhượng với Y, hợp đồng đó có hiệu lực hay không? Nêu căn cứ pháp lý?

4) Hãy giải quyết hậu quả pháp lý của từng loại hợp đồng trên? Nêu căn cứ pháp lý?

5) Nhóm hãy đưa ra bình luận, đánh giá về những bất cập đồng thời kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật liên quan tới tình huống nói trên?

Trang 3

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1) Anh B có quyền làm như vậy không? Vì sao?

a)Trường hợp thứ nhất: Anh B không có quyền làm như vậy

Trước khi qua đời, bố, mẹ A, B có để lại toàn bộ phần tài sản là giá trị quyền sử dụng 500m2 đất tại Quận X Điều đó chứng tỏ rằng A và B là đồng chủ sở hữu mảnh đất đó (Trường hợp không xét đến di chúc), Mà theo khoản 1 điều 223

BLDS năm 2005 quy định về định đoạt tài sản chung: “Mỗi sở hữu chung theo phần có phần quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định trên và căn cứ vào tình huống thì ta thấy B nói rằng B đã được A

ủy quyền cho B để bán mảnh đất 500m2 đó cho công ty X Nhưng để giấy đó có hiệu lực pháp lí thì :

Thứ nhất: Giấy ủy quyền đó phải có công chứng của cơ quan có thẩm quyền,

không thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu về hình thức về đây là vấn đề liên quan đến đất đai nên bắt buộc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Tại điều 134 BLDS

quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”

Và việc xin công chứng đều phải có mặt trước sự chứng kiến của hai người đó là A

và B

Thứ hai: Khi A ủy quyền cho B thì lúc đó A phải hoàn toàn tỉnh táo vì nếu A đang

trong trạng thái say sỉn không nhận thức được những việc mình làm thì giấy ủy quyền đó cũng không có hiệu lực pháp luật, điều đó được quy định tại Điều 133 BLDS về Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ

được hành vi của mình :“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Trang 4

Mà theo lời của chị M vợ anh A thì chị khẳng định A không bao giờ làm như vậy

mà không bàn bạc với chị, đồng thời nhấn mạnh hôm qua A đi đám cưới với B về say khướt không biết gì Vậy từ tình tiết trên có thể suy đoán rằng trong lúc anh A đang say xỉn không biết gì thì anh B đã lợi dụng tình trạng đó để anh A làm giấy

ủy quyền bán mảnh đất đó cho công ty

Thứ ba, không có sự thỏa thuận giữa B và A nên không đảm bảo được lợi ích cho

A, vì vậy vi phạm đến lợi ích của A

Thứ tư: Hơn nữa mảnh đất đó khi bố mẹ A và B qua đời để lại mảnh đất cho hai

anh em, khi đó A và B đã lấy vợ thì chị M cũng thuộc diện có phần quyền sử dụng đất mà bố mẹ chồng để lại vì vậy việc làm giấy ủy quyền phải có sự đồng ý của chị

M (vợ của anh A), vì tài sản của bố mẹ để lại nếu di chúc không ghi rõ là cho riêng

ai thì đó là tài sản chung của vợ chồng A, B, Việc sử dụng và định đoạt tài sản chung đó phải có sự đồng ý của cả hai bên Điều đó được quy định tại khoản 3 điều

219 BLDS quy định về sở hữu chung của vợ chồng: “ Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Xét trong tình huống này thì chị M hoàn toàn không biết gì về việc chồng mình ủy quyền cho B bán mảnh đất đó hơn nữa A lại đang trong trạng thái không được tỉnh táo nên giấy ủy quyền đó không có hiệu lực pháp luật

Kết luận: Vậy từ những phân tích trên có thể thấy B không có quyền bán mảnh

đất đó cho công ty Y vì vi phạm những điều mà luật pháp đã quy định

b) Trường hợp thứ hai, B có quyền định đoạt một phần hoặc toàn bộ khối tài sản

chung đó tùy thuộc vào các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, Bố mẹ A, B không để lại di chúc hoặc để lại di chúc nhưng không ghi rõ

mỗi người được hưởng bao nhiêu di sản , vậy nên mặc định hiểu là thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản cho A và B mỗi người có quyền định đoạt đối với 250m2 Theo khoản 1 điều 223 BLDS năm 2005 quy định về định đoạt tài sản

chung: “Mỗi sở hữu chung theo phần có phần quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.” Do vậy, Anh B có

quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình

Thứ hai,B đã được A ủy quyền, xét 1 trường hợp:

Trang 5

Giấy ủy quyền có hiệu lực pháp lí khi: Giấy ủy quyền đó phải có công chứng của cơ quan có thẩm quyền; việc xin công chứng đều phải có mặt trước sự chứng kiến của hai người đó là A và B.Khi A ủy quyền cho B thì lúc đó A phải hoàn toàn tỉnh táo , phải có năng lực hành vi dân sự hay nói cách khác là trong trường hợp trên A phải nhận thức được hành vi của mình Vậy nếu giấy ủy quyền có giá trị pháp lí thì B hoàn toàn có quyền định đoạt quyền sử dụng đối với 500m2 đất đó vì

đã có sự thỏa thuận và đảm bảo lợi ích giữa hai người

Kết luận: Do vậy, B luôn có quyền định đoạt đối với phần đất 250m2 mà mình

được thừa kế, việc có được định đoạt chuyển quyền sử dụng đối với 500m2 đất hay không sẽ phụ thuộc vào giấy ủy quyền Nếu giấy ủy quyền đó có giá trị pháp lí như phân tích ở trên thì B có quyền định đoạt đối với 500m2 đất Còn không có giá trị pháp lí thì B chỉ có quyền định đoạt đối với phần đất của mình là 250m2 đất

2 Giao dịch giữa A và B có hiệu lực pháp luật hay không? Nêu căn cứ pháp lý?

Theo quy định tại điều 121 BLDS năm 2005 thì quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh,thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự”.

Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định,cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch,với những mục đích và động cơ nhất định

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch(Điều 123 BLDS năm 2005) Mục đích của giao dịch chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch Như chúng ta đã biết việc nói đến mục đích của giao dịch luôn gắn liền với động cơ xác lập giao dịch và động cơ xác lập giao dịch dân sự chính là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia giao dịch,tuy nhiên động cơ của giao dịch không mang tính chất pháp lí và động cơ có thể được xác định hoặc không

a)Trường hợp thứ nhất, Giao dịch giữa A và B không có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ pháp lí: Vì giao dịch giữa A và B không thỏa mãn được tất cả các điều kiện của giao dịch dân sự cụ thể được quy định tại các điểm a,b,c khoản 1 và

khoản 2 Điều 122 BLDS năm 2005 : a) Người tham gia giao dịch có năng lực

Trang 6

hành vi dân sự;b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn

tự nguyện; 2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Và Điều 133 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm

chủ được hành vi của mình :“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Xét trong tình huống trên ta thấy có các điều kiện sau:

Thứ nhất Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự: Trong tính huống

trên thì giao dịch giữa A và B thỏa mãn điều kiện này vì cả A và B đều là người

có năng lực hành vi dân sự và trên 18 tuổi

Thứ hai, Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội:

Mục đích của giao dich dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch,nôi dung của giao dịch là sự tổng hợp các diều khoản

mà các bên đã cam kết thỏa thuận trong giao dịch Như vậy,trong tình huống trên thì giữa A và B không cùng chung mục đích mà chỉ có B muốn nhằm một mục đích nhất định của mình là muốn chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất 500m2 tại quận X cho công ty Y Và hơn nữa trong tình huống này không thỏa mãn nội dung của giao dịch Mặt khác ,để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật ,không trái với đạo đức xã hội Hơn nữa trong tình huống này Vợ của A là chị M đã từ chối vì đây là mảnh đất của tổ tiên ,ông cha nên không muốn bán và để lại cho con cháu mình Như vậy, giao dịch giữa A và B không thoản mãn điều kiện này

Thứ ba, Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện: Bản chất của giao dịch

dân sự là sự thống nhất giữu ý chí và bày tỏ ý chí cho nên tự nguyện bao gồm tự do

ý chí và bày tỏ ý chí và điều này đã được quy định cụ thể tại Điều 4 của Bộ luật dân sự năm 2005 và nếu một trong hai yếu tố này không thống nhất với nhau thì không thể tự nguyện được và tình huống trên do A và B đi ăn cưới cùng nhau mà khi về thì A say khướt không biết gì và vì A đã bị say rượi nên không nhận thức

và làm chủ được hành vi của mình vì vậy giao dịch giữa A và B không được xác lập và giao dịch này không có hiệu lực pháp luật

Trang 7

Thứ tư, Hình thức của giao dịch phải phù hợp với quy định của pháp luật: Hình

thức của giao dịch là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch Theo quy định

tại khoản 2 Điều 124 BLDS năm 2005 : “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản,phải có công chứng hoặc chứng thực,phải đăng kí hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó” Như vậy

trong tình huống trên giấy ủy quyền toàn bộ mảnh đất 500m2 đất của A cho B toàn quyền quyết định, như vậy thì giấy này không có công chứng,chứng thực nên giao dịch này không có căn cứ pháp luật và giấy ủy quyền này là do A bị say rượi mới

có nên giao dịch này không có hiệu lực pháp luật

Thứ năm, Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng

thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu Mặc dù thừa nhận trong tình huống trên A và B đều có năng lực hành vi dân sự , nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm A đang bị say rượu không biết gì hay nói cách khác là đang trong tình trạng không tỉnh táo , không nhận thức được và làm chủ được hành vi của mình nên giao dịch trên là vô hiệu

Kết luận: Như vậy,từ những căn cứ trên ta có thể khẳng định rằng giao dịch

giữa A và B không có hiệu lực pháp luật

b) Trường hợp thứ hai, giao dịch dân sự giữa A và B có hiệu lực pháp luật.

Nếu giao dịch trên là vào thời điểm A tỉnh táo, nhận thức và làm chủ được hành

vi giao dịp giữa A , B là giao dịch có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 122

BLDS và Điều 142 Đại diện theo uỷ quyền “1 Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện;2 Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản”

2) Giả sử: B dùng hợp đồng ủy quyền giữa mình và A để ký kết hợp đồng chuyển nhượng với Y, hợp đồng đó có hiệu lực hay không? Nêu căn cứ pháp lý ?

Theo quy định của pháp luật, quyền sở hữu tài sản của chủ thể này có thể chuyển giao cho chủ thể khác thông qua hợp đồng mua bán, chuyển nhượng Thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định theo sự thỏa thuận của các bên, hoặc

Trang 8

theo quy định của pháp luật Đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, đặt dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ, nên xuất phát từ chính sách nêu trên, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho mỗi người dân, và mỗi người dân chỉ được thực hiện quyền sử dụng đất, chứ không có quyền sở hữu đất

Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định Trong tình huồng trên được chia thành các trường hợp sau:

a)Trường hợp thứ nhất: A làm hợp đồng ủy quyền mua bán mảnh đất cho B trong

tình trạng say khướt và không biết gì

Trước hết, về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì được quy định tại khoản 1 Điều 122 BLDS a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

A và B làm hợp đồng ủy quyền mua bán mảnh đất 500m2 tại quận X là tài sản của bố mẹ A và B khi chết có để lại cho hai anh em, tại thời điểm làm hợp đồng này A trong tình trạng say khướt và không biết gì Như vậy khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của A trong trường hợp này đã bị hạn chế A là người xác lập hợp đồng không có đủ điều kiện cần thiết để tham gia vào giao dịch dân sự

này.Căn cứ Điều 133 BLDS: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Và Điều 589 BLDS quy định: Hợp đồng ủy quyền chấm dứt trong các trường hợp

sau đây:“1 Hợp đồng ủy quyền hết hạn;2 Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;3 Bên ủy quyền, bên được ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Ðiều 588 BLDS;4 Bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.”

Hợp đồng ủy quyền giữa A và B sẽ bị tuyên vô hiệu theo quy định của pháp luật B không còn là người được A ủy quyền để mua bán mảnh đất mà bố mẹ để lại Do đó B không được phép dùng hợp đồng ủy quyền giữa mình và A để ký kết

Trang 9

hợp đồng chuyển nhượng với Y Hợp đồng chuyển nhượng giữa B và Y sẽ không

có hiệu lực trong trường hợp này

b)Trường hợp thứ hai: A làm hợp đồng ủy quyền mua bán mảnh đất cho B khi A

còn tỉnh táo, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi

Theo quy định tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật Dân sự thì “ hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải lập thành văn bản” Khoản 6 Điều 63 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định “hợp đồng ủy quyền, quản lý, trông coi, sử dụng nhà ở, ủy quyền bán, cho thuê nhà ở phải có công chứng hoặc chứng thực”.

Về hình thức ủy quyền thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, theo quy định tại Điều 115 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất

đai thì: “1.người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất quy định tại điều

2 của nghị định này;2.Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quy định tại khoản 1 điều này được ủy quyền cho người khác theo quy định của pháp luật về dân sự;3.Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là người có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật về dân sự.Việc ủy quyền cho người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quy định tại khoản 2 điều này phải bằng văn bản.;Đối với hộ gia đình, cá nhân thì văn bản ủy quyền phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước”

Theo các quy định trên thì hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực mới có giá trị pháp lý, nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì hợp đồng sẽ vô hiệu

Kết luận: Như vậy xét trong tình huống trên, tại thời điểm A làm hợp đồng ủy

quyền cho B mua bán mảnh đất 500m2 mà A còn tỉnh táo, có khả năng nhận thức

và điều khiển được hành vi, hợp đồng ủy quyền giữa A và B đã có công chứng chứng thực của UBND xã-phường-thị trấn nơi A, B cư trú hoặc đã có chứng nhận của công chứng nhà nước thì hợp đồng đó giữa A và B là hợp pháp Và B sẽ được phép dùng hợp đồng ủy quyền giữa mình và A để ký kết hợp đồng chuyển nhượng với Y theo quy định của pháp luật Còn nếu hợp đồng giữa A và B chưa được công

Trang 10

chứng chứng thực thì hợp đồng ủy quyền này sẽ vô hiệu Do đó hợp đồng chuyển nhượng giữa B và Y cũng sẽ không có hiệu lực

4 Hãy giải quyết hậu quả pháp lý của từng loại hợp đồng trên? Nêu căn cứ pháp lý?( Nguyễn Vân Anh;Nguyễn Hoàng Dương)

a) Đối với hợp đồng ủy quyền của A và B

Hợp đồng ủy quyền theo quy định Điều 581 BLDS “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công viêc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định”

Dựa theo qui định tại điều 121 về giao dịch dân sự, hợp đồng ủy quyền giữa A

và B là 1 giao dịch dân sự Giao dịch dân sự này có hiệu lực khi thỏa mãn 4 điều

kiện sau được quy định tại khoản 1 Điều 122 BLDS: “a) Người tham gia giao dịch

có năng lực hành vi dân sự;b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”

Vậy hợp đồng ủy quyền giữa A và B có thể xảy ra theo một trong số các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hợp đồng ủy quyền của A và B được thiết lập trước khi B quyết

định sẽ chuyển nhượng lại mảnh đất cho công ty Y và hợp đồng ủy quyền của A và

B đã được công chứng, chứng thực theo qui định tại điều 115, Nghị định số

181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai:“1 Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất quy định tại Điều 2 của Nghị định này;2 Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này được ủy quyền cho người khác theo quy định của pháp luật về dân sự;3 Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phải là người

có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật về dân sự Việc ủy quyền cho người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều này phải bằng văn bản; Đối với hộ gia đình, cá nhân thì văn bản ủy quyền phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.”

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w