1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Chủ đề Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ ý kiến trên

15 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 354,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Chủ đề Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ ý kiến trên BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Chủ đề Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ ý kiến trên

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM Môn: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

-* -Chủ đề 03:

Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ

ý kiến trên.

Lớp niên chế: 4624 Lớp tín chỉ: 4624 Nhóm: 05 (Quan điểm ủng hộ)

Hà Nội - 2021

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM

BÀI TẬP NHÓM

Ngày: 24/12/2021 Địa điểm: Nền tảng họp trực tuyến Teams

Nhóm: 5 Lớp: 4624 Khóa: K46 Khoa: Luật Thương Mại Quốc Tế

Tổng số sinh viên của nhóm: 10

+ Có mặt: 10

+ Vắng mặt: 0

Nội dung: xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm

Tên bài tập: Có ý kiến cho rằng nên công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ ý kiến trên.

Môn học: Luật Hiến pháp

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập

nhóm

Kết quả như sau:

Đánh giá của

ký tên

Đánh giá của GV

A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV ký tên

1 462445 Mai Thị Minh Phương X Phương

2 462448 Nguyễn Phương Thảo X Thảo

3 462446 Trần Thị Trúc Quỳnh X Quỳnh

4 462440 Phạm Trọng Nghĩa X Nghĩa

5 462443 Phan Thảo Nguyên X Nguyên

6 462444 Phạm Hồng Nhung X Nhung

7 462439 Hoàng Lê Việt Nga X Nga

8 462441 Lê Thị Ngọc X Ngọc

9 462442 Nguyễn Thái Ngọc X Ngọc

10 462447 Lê Thị Thảo X Thảo

- Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2021

+ Giáo viên chấm thứ nhất: TRƯỞNG NHÓM

+ Giáo viên chấm thứ hai: Phương

- Kết quả điếm thuyết trình Mai Thị Minh Phương

- Giáo viên cho thuyết trình:

- Điểm kết luận cuối cùng:

- Giáo viên đánh giá cuối cùng:

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đồng tính, song tính luyến ái, chuyển giới, người có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ giới tính nào, hoặc những người đang trong giai đoạn tìm hiểu bản thân (viết tắt tiếng Anh là: LGBTQ+) là vấn đề không còn xa lạ trong đời sống xã hội hiện nay nhất là khi các phương tiện truyền thông ngày càng trở nên phổ biến và việc trao đổi thông tin giữa các cá nhân, tổ chức, quốc gia diễn ra một cách thuận tiện Tuy nhiên việc nhận thức một cách đầy đủ về cộng đồng người LGBTQ+ trong xã hội còn nhiều điều hạn chế Tuỳ thuộc vào từng quốc gia có các yếu tố kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá,… mà quyền lợi của những người thuộc cộng đồng LGBTQ+ được nhận

và đời sống của họ cũng khác nhau Trong đó, một vấn đề gây tranh cãi trong quá

trình xây dựng quy định pháp luật ở nhiều quốc gia đó là “quan hệ hôn nhân của

các cặp đôi đồng tính” Tính đến ngày 7/12/2021 đã có 30 quốc gia trên toàn thế

giới thừa nhận hôn nhân đồng giới, nhiều quốc gia đưa ra điều khoản cấm đoán hôn nhân đồng giới, cũng có các quốc gia giữ thái độ trung lập, lấp lửng trong luật pháp ở vấn đề này và chỉ dừng ở việc không thừa nhận trong đó có Việt Nam Cụ

thể tại Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định “Nhà

nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Theo đó sẽ

không cấm hôn nhân đồng giới, nhưng đồng thời cũng không thừa nhận Trên thực

tế, tại Việt Nam, vẫn có nhiều cặp đôi đồng tính tổ chức đám cưới mà pháp luật không can thiệp, vô hình chung đã đẩy hôn nhân cùng giới ra ngoài pháp luật, dẫn đến những ảnh hưởng quyền lợi trong cuộc sống hôn nhân của các cặp đôi cùng

giới Đứng trước vấn đề đó có ý kiến cho rằng: “Nên công nhận hôn nhân đồng

giới ở Việt Nam”

Trang 4

NỘI DUNG

A Khái niệm chung về hôn nhân đồng giới.

Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính (LGBTQ+) là hôn nhân giữa hai

người có cùng giới tính sinh học Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn

nhân bình đẳng" hay "bình đẳng hôn nhân", thuật ngữ này thường được sử dụng

phổ biến từ những người ủng hộ Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới còn được

mô tả bằng thuật ngữ "định nghĩa lại hôn nhân" từ các trường phái có quan điểm

đối lập

“LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyển giới) và Queer (có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạn tìm hiểu bản thân) Dấu + thể hiện sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như: Non-binary (phi nhị nguyên giới), Intersex (liên giới tính) ”

B VẤN ĐỀ ỦNG HỘ VIỆC HỢP PHÁP HOÁ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI HIỆN NAY

LUẬN ĐIỂM 1: Công nhận hôn nhân đồng giới phù hợp với quyền con người.

Cơ sở lập luận:

Khoản 1 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Mọi cá nhân, pháp nhân đều

bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.”

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" - Trích Bản tuyên ngôn độc lập đầu

tiên của nước Việt Nam năm 1945

Điều 3 Luật Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước đảm bảo và phát huy quyền làm

chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”

Trang 5

Phận tích lập luận: Tư tưởng chủ đạo để các quốc gia xây dựng pháp luật của đất

nước mình là quyền tự nhiên, quyền con người

Nếu Việt Nam đã bước từng bước từ cấm đến không thừa nhận vậy thì sao không tiến tiếp đến công nhận hôn nhân đồng tính để quyền công dân gần hơn với quyền con người? Ở Việt Nam tư tưởng đó đã được cụ thể hóa ngay trong điều 3 Luật Hiến Pháp Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948 sau

đó đã được cụ thể hoá bằng hai công ước quan trọng về nhân quyền có giá trị ràng

buộc pháp lý: Công ước Quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá và Công

ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị Hai Công ước này đều đã được

Việt Nam ký và phê chuẩn vào năm 1982 Tập hợp ba văn kiện quốc tế này được

gọi bằng cái tên chung là Bộ luật Quốc tế về Nhân quyền Khi một quốc gia gia

nhập vào những công ước này, đồng nghĩa với quốc gia đó chấp thuận các nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền, đảm bảo sự tôn trọng quyền trong các chính sách, pháp luật và thực thi của quốc gia mình

Theo tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, con người có ba nhóm quyền cơ bản bao gồm: Quyền dân sự, Quyền chính trị và Quyền kinh tế, xã

hội và văn hoá Trong nhóm Quyền dân sự có “Quyền kết hôn với sự thuận tình hoàn toàn tự do của hai bên và bình đẳng trong hôn nhân”

Những người mang thiên hướng tính dục đồng tính cũng là con người như bao người mang xu hướng dị tính khác nên với tư cách là một con người, họ cũng hưởng những quyền lợi mà tất cả mọi người đều có, trong đó có quyền kết hôn Nếu hợp pháp hóa hôn nhân của những người đồng tính, việc đó thể hiện được sự công bằng và họ được hưởng quyền lợi của chính mình, nhà nước nên công nhận chứ không phải là thừa nhận

Việc công nhận hôn nhân đồng giới góp phần nhằm bảo toàn giá trị xã hội của pháp luật, vừa mang tính nhân văn, vừa mang tính nhân đạo vừa đảm bảo quyền con người của những người thuộc cộng đồng LGBTQ+ (Đặt câu hỏi ở chỗ này – tìm hiểu về số lượng người trong LGBT tại VN và trên toàn TG so vói tổng số dân) Việc xác lập các quan hệ pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội của những người thuộc cộng đồng LGBTQ+, ta phân tích sự cần thiết của hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới ở một số yếu tố như sau:

Yếu tố chính trị: Theo khảo sát của tổ chức WTO, cộng đồng người

LGBTQ+ chiếm khoảng 3% trong xã hội tuy nhiên các quyền của họ chưa được

Trang 6

bảo vệ một cách đầy đủ, cụ thể là ở các quy định của pháp luật Hiện nay, việc công nhận và cho phép kết hôn giữa những người đồng tính được ghi nhận ở 30 quốc gia trên thế giới Con số 30 không phải là lớn nhưng đó là một bước tiến trong quá trình đấu tranh giành quyền bình đẳng của cộng đồng LGBTQ+ Trong

xu hướng hiện nay, xung đột giữa cộng đồng LGBTQ+ với xã hội về yêu cầu được đối xử bình đẳng ngày một tăng nhanh Vì vậy, cần có các quy định pháp luật để điều chỉnh, giải quyết các mâu thuẫn trong duy trì trật tự xã hội đồng thời đảm bảo một cách toàn diện các quyền của cộng đồng người đồng tính Nhiều nước trước khi chưa công nhận đã phải chịu những xung đột, ảnh hưởng đến trật tự xã hội về vấn đề hôn nhân đồng giới Vậy tại sao Việt Nam không hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới trước khi xảy ra những xung đột không đáng có? (Có thật là ở VN đã ko

có xung đột gì xảy ra hay ko? Hay vẫn có những đó là làn sóng ngầm – bởi vì XH

VN ko đi theo hướng phản bác lại chính quyền như các nc dân chủ là Mỹ Vậy nên các bạn đang ko nhìn thấy những cuộc bạo động, những cuộc nổi loạn, biểu tình ác liệt như ở Mỹ chứ kp là ko có)

Yếu tố kinh tế: Khi hôn nhân đồng giới chưa được công nhận, những cặp

đôi đồng tính thường có xu hướng định cư ở các nước đã hợp pháp hoá vì họ được hưởng đầy đủ các quyền lợi khi kết hôn Do đó, ta mất đi một lượng người lao động và nền kinh tế cũng mất đi một nguồn đóng góp Nhiều doanh nghiệp hiểu rằng môi trường làm việc thân thiện cho LGBTQ+ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nhân tài Theo The Intelligence Group, 88% thế hệ Millennialsmong muốn đan xen giữa cuộc sống cá nhân và công việc Thực tế cho rằng, một công ty

có tỷ lệ nhân viên LGBTQ+ ở cả trong nguồn nhân lực sẽ xây dựng môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh, không có thành kiến với người đồng tính (Các bạn

có chắc là việc hợp pháp hoá là cần thiết hay ko vì như với tình hình ở Việt Nam hiện nay, khi VN chưa hề có sự công nhập theo PL nhưng ko cấm đoán, những người LGBTQ+ vẫn đang làm việc 1 cách thoải mái và lành mạnh, thậm chí họ còn là những người truyền cảm hứng, làm những công việc có những tác động rất lớn đến XH: như youtuber, vlogger, content creator hay họ tạo ra những chương trình dành cho LGBT và được phát sóng trên sóng truyền hình quốc gia Vậy phải chăng là họ đang làm việc trong một môi trường “độc hại” hay sao ? Việc hợp pháp hoá không có liên quan đến việc làm thay đổi hay tích cực hoá cái nhìn, cái quan điểm của xã hội dành cho nhóm người này)

Trang 7

Yếu tố truyền thống, văn hoá, xã hội: Ba yếu tố này có quan hệ mật thiết

đến nhau, cùng chi phối quan niệm hôn nhân đồng giới Mô ̣t câu hỏi luôn được đă ̣t

ra khi xem xét chủ đề hôn nhân đồng giới: “Liê ̣u hôn nhân đồng giới có làm suy

thoái đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không? Hôn nhân đồng giới

có làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị của cuô ̣c sống hay không?” Những

người đưa ra các câu hỏi này không sai vì chính định kiến, sự kỳ thị đã khiến họ

đă ̣t ra những câu hỏi đó Thực chất, viê ̣c chấp nhâ ̣n người đồng tính hay hôn nhân đồng giới là sự thay đổi định kiến chứ không phải thay đổi chuẩn mực sống hay giá trị truyền thống mà đó là điều tất yếu của xã hội loài người và Viê ̣t Nam cũng không phải là ngoại lê ̣ Khi hôn nhân đồng giới được pháp luật công nhận, những người đồng tính sẽ thoải mái chia sẻ cái nhìn của mình hơn, dám đứng lên phản bác lại các quan niệm cũ hay những cái nhìn lệch lạc về cộng đồng của họ Pháp luật có tác dụng định hướng nhận thức của công dân, vì vậy, việc ban hành các chính sách pháp luật sẽ giúp xã hội hiểu rõ về cộng đồng LGBTQ+ và bảo vệ các quyền lợi của họ đặc biệt là quyền kết hôn đồng giới

LUẬN ĐIỂM 2: Quyền lợi mà việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới mang lại.

Cơ sở lập luận:

Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi một bên vợ, chồng

chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của

vợ chồng, trừ trường hợp di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản”.

Khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định:“Một người chỉ được làm con

nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”.

Phân tích lập luận: Pháp luật Việt Nam không thừa nhận hôn nhân đồng giới nhưng cũng không cấm kết hôn đồng giới Mặc dù hôn nhân đồng giới chưa được thừa nhận nhưng hai người đồng giới vẫn có thể tổ chức đám cưới (hình thức) cũng như sống chung với nhau Tuy nhiên khi xảy ra tranh chấp, vấn đề của họ sẽ được giải quyết dựa trên Luật Dân sự, không phải Luật Hôn nhân và Gia đình

Theo một cuộc khảo sát gần đây, 33,7% ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới Về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng

giới tính, số người ủng hộ hình thức sống chung theo dạng "kết hợp dân sự" hoặc

“đăng ký sống chung như vợ chồng” là 41,2% Khi được hỏi về một số quyền cụ

Trang 8

thể được đề cập đến trong Luật Hôn nhân và Gia đình mà các cặp đôi cùng giới nên được pháp luật bảo vệ, có 56% cho rằng cặp đôi cùng giới nên có quyền cùng nhận con nuôi và nuôi con, 51% ủng hộ quyền sở hữu tài sản chung, 47% ủng hộ quyền thừa kế tài sản Chỉ khi công nhận hôn nhân đồng giới, các vấn đề này mới được giải quyết, cụ thể như sau:

Quyền thừa kế tài sản: Đối với tài sản chung (hình thành do sự đóng góp

từ hai phía trong quá trình chung sống hoặc do một bên cho phép bên còn lại trở thành đồng sở hữu) và tài sản riêng (được hình thành bởi cả hai người trước khi đi đến hôn nhân): Khi chưa có di chúc, họ chỉ là người xa lạ không có mối quan hệ ràng buộc về mặt pháp lý nên tài sản của người đã khuất chỉ được chia cho người

có quan hệ thân nhân theo hàng thừa kế trong Luật dân sự về Thừa kế 2015 Nếu công nhận hôn nhân đồng giới, trong trường hợp không kịp để lại di chúc, tài sản của người đã khuất sẽ sẽ được chia cho người kia theo quy định của pháp luật dưới

tư cách là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (vợ, chồng, cha nuôi, mẹ nuôi, con

đẻ, con nuôi của người đã khuất)

Nhận con nuôi: Nếu một cặp đôi đồng tính muốn nhận con nuôi, một trong

hai người có thể làm thủ tục nhận nuôi trong trường hợp là người độc thân Khi chưa hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới, quyền nhận con nuôi chỉ áp dụng cho một trong hai người Vậy, khi người nhận quyền đó mất đi thì đứa trẻ lại thành trẻ mồ côi và nếu muốn có quan hệ với người còn lại, họ sẽ phải làm thủ tục nhận nuôi thêm một lần nữa, gây ra sự phức tạp về thủ tục pháp lý

LUẬN ĐIỂM 3: Quan niệm “gia đình” truyền thống là chưa hoàn toàn chính xác (con trẻ cần có bố và mẹ)

Cơ sở lập luận: Tâm lý, nhận thức, nhìn nhận của con người.

Phân tích lập luận: Từ trước đến nay, khái niệm kết hôn vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống còn gia đình là tập hợp những người gắn

bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm

phát sinh các nghĩa vụ và quyền với nhau Từ đó, khái niệm “gia đình” cũng được hiểu là của một cặp đôi dị tính Tuy nhiên, “gia đình” mang ý nghĩa một đơn vị

tiêu dùng hơn là đơn vị sản xuất Ngay ở những gia đình dị tính, sinh sản không còn là mục đích tối cao của hôn nhân, họ hạnh phúc dù không có con, nếu vô sinh

mà muốn có con, họ vẫn có thể sử dụng sự trợ giúp của y tế hiện đại hoặc nhận con nuôi Từ một đơn vị đa chức năng trong xã hội truyền thống, giờ đây, các chức

Trang 9

năng ấy đã được tải bớt ra ngoài gia đình (bệnh viện, trường học, nhà trẻ…) Chỉ

có một chức năng mà khó một thiết chế xã hội nào có thể gánh vác được, đó là

chức năng “thỏa mãn tình cảm đôi lứa” Chức năng này vốn bị coi nhẹ trong gia

đình truyền thống, (Điều này là hoàn toàn sai Thứ nhất, thế nào là thoả mãn tình cảm đôi lứa? Chúng ta vẫn thường nói rằng “những đứa trẻ là sự kết tinh, là trái ngọt của tình yêu, là tự nguyện giữa vợ và chồng Vậy theo ý các bạn, đó không phải là sứ mệnh thiêng liêng à? Hay việc có con làm bạn dần mất đi tình cảm dành cho đối phương, là khi cuộc sống bộn bề với cơm áo gạo tiền thì các bạn quay ra

đổ lỗi cho những đứa trẻ đã khiến cho cuộc sống của các bạn không hạnh phúc hay sao? Thứ hai, hầu hết ai khi lập gia định là mong mình không có con cả, chỉ là 1 phần thiểu số rất nhỏ họ mong muốn 1 cuộc sống như vậy, còn việc không muốn

có con nó xuất phát nhiều từ các ngoại cảnh khách quan: vì cuộc sống họ quá khó khăn, áp lực công việc, áp lực xã hội khiến cho họ không còn sức lực mà cáng đáng hết thảy, VD như ở Nhât: cuộc sống họ quá bị áp bức về chi tiêu cuộc sống – mức chi phí quá đắt đỏ, hay như công việc – họ tất bật với công việc của họ từ sáng đến đêm – mà làm việc 1 cách thực chất chứ kp vừa làm vừa chơi như ở 1 số quốc gia nên vì lẽ đó nên họ mới ko muốn đẻ con Thứ ba, nếu không coi trọng việc sinh nở thì ai sẽ là người nối dõi tông đường của họ, các bạn bảo đi nhận con nuôi – những đứa trẻ mồ côi không phải là một món hàng không giới hạn, đó là những đứa trẻ bất hạnh không may bị chính bố mẹ ruột bỏ rơi, nên đừng coi những đứa trẻ đó như là một giải pháp cho sự không muốn đẻ hay việc đẻ không còn là trọng trách cao cả của gia đình) nay đã được đẩy lên hàng đầu Như vậy, sự thay đổi hệ giá trị chức năng của gia đình đã và đang diễn ra ngay ở trong các gia đình

dị tính Hơn nữa, nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi giá trị gia đình nằm ở những biến động của đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa, và không liên quan gì đến liên kết hôn nhân dị tính hay đồng tính Nếu sự phá vỡ những tiêu chí giá trị truyền thống có thể xảy ra ở cả các gia đình dị tính thì việc dự báo rằng hôn nhân đồng tính làm xói mòn giá trị truyền thống gia đình, phải chăng là sự kết án khiên cưỡng?

LUẬN ĐIỂM 4: Sự công nhận của pháp luật có ý nghĩa tinh thần sâu sắc.

Cơ sở lập luận: Khảo sát thực tế, tâm lý nhận thức, nhìn nhận sự việc của con

người

Trang 10

Phân tích lập luận:Thực tế cho thấy, vấn đề kết hôn giữa những người đồng tính

là một vấn đề diễn ra phổ biến, công khai hiện nay Tình trạng những người đồng tính, song tính, chuyển giới khi lấy nhau bị xã hội kỳ thị, phân biệt đối xử, thậm chí xa lánh họ, coi đó là một hiện tượng bất thường cần phải loại trừ ra khỏi xã hội

đã gây ra những tổn thương về mặt thể chất lẫn tinh thần trong cộng đồng LGBTQ+ Các nghiên cứu gần đây thường nhóm các danh tính LGBTQ+ lại với nhau, điều này gây khó khăn cho việc xác định tỷ lệ trầm cảm nhất quán giữa những người đồng tính Một số dữ liệu gần đây bao gồm:

Khảo sát Quốc gia của Dự án Trevor năm 2020 về Sức khỏe Tâm thần Thanh niên LGBTQ+ cho thấy 40% thanh niên đồng giới đã từng nghĩ đến việc tự tử trong nhiều năm, 48% cho biết họ tự làm hại bản thân và 46% nói rằng họ muốn được trị liệu nhưng không thể tiếp cận nó trong cùng thời gian; Điều tra Quốc gia về sử dụng Ma túy và Sức khỏe năm 2015 ước tính rằng những người đồng tính có nguy

cơ mắc bệnh tâm thần cao gấp hai lần những người dị tính; Một nghiên cứu năm

2017 ước tính rằng những người đồng tính nam bị trầm cảm với tỷ lệ cao hơn gấp

ba lần so với tỷ lệ của dân số chung

Luật pháp không thể quy định “không cấm cũng không thừa nhận”, điều đó làm

con người mất niềm tin vào hiệu lực thực thi của pháp luật Cấm là không được làm, không cấm tức là được làm Mà được làm thì Nhà nước phải công nhận Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến một bộ phận người dân không còn coi luật pháp làm hệ thống tham chiếu khi giải quyết các vấn đề Hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới không những tác động đến cá nhân mà còn cả cộng đồng, cụ thể như sau:

Cá nhân : Những người đồng tính sẽ mở lòng hơn, sống thoải mái hơn, hạnh phúc

hơn, tự tin thể hiện bản thân, năng suất lao động của họ sẽ được nâng cao khi giới tính của họ được nhà nước công nhận, tình yêu của họ được hợp pháp hóa Việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới sẽ là động lực, bước đệm để những cặp đôi đồng giới có được những quyền lợi như các cặp đôi dị giới khác Điều đó như tiếp thêm sức mạnh cho cộng đồng LGBTQ+ trên con đường đấu tranh quyền bình đẳng

Gia đình: Đối với gia đình của những người đồng tính, họ sẽ được sự giải tỏa tâm

lý khi biết con mình có cơ hội tiến tới hôn nhân như những người khác trong xã hội.Sự thừa nhận của pháp luật về hôn nhân đồng giới giúp giảm bớt áp lực xã hội lên bố mẹ, giảm căng thẳng trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái Mối quan hệ

Ngày đăng: 12/03/2022, 16:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w