1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Chủ đề Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ phản đối ý kiến trên

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 314,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM Chủ đề Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ phản đối ý kiến trên

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

Môn: LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

-* -Chủ đề 01:

Để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, có ý kiến cho rằng cần thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam Với kiến thức về Luật hiến pháp, hãy lập luận để ủng hộ/phản đối ý kiến

trên.

Lớp niên chế:

Lớp tín chỉ:

Nhóm: 01 (Quan điểm ủng hộ)

Hà Nội - 2021

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QỦA THAM GIA LÀM

BÀI TẬP NHÓM

Ngày: Địa điểm:

Nhóm: Lớp: Khóa: Khoa:

Tổng số sinh viên của nhóm:

+ Có mặt: + Vắng mặt: Nội dung: xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm Tên bài tập: Môn học: Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số 2 Kết quả như sau: STT Mã SV Họ và tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của GV A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV ký tên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 - Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày tháng năm 2021 + Giáo viên chấm thứ nhất: TRƯỞNG NHÓM + Giáo viên chấm thứ hai:

- Kết quả điếm thuyết trình

- Giáo viên cho thuyết trình:

- Điểm kết luận cuối cùng:

- Giáo viên đánh giá cuối cùng:

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy liên hợp quốc về quyền con người thì

“Quyền con người” là “những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”1 Hiểu đơn giản

và phổ quát hơn, “Quyền con người” là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền vốn

có của con người – nói cách khác, đó là khả năng tự do được thực hiện các hành vi, việc làm bất kỳ nhằm tồn tại hay thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản nhất của con người Đây là những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do tạo hóa ban cho và bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng phải tôn trọng như một lẽ tất yếu Hiện nay, công tác thúc đẩy cũng như bảo vệ quyền con người đều được các quốc gia, chính phủ quan tâm chú trọng và đã xây dựng nhiều chính sách, phương pháp bảo vệ hiệu quả Thậm chí trong Hiến pháp của nhiều nước (như Thái Lan, Phi-lip-pin, Nam Phi…) đã quy định một thiết chế (hay một cơ quan) riêng,

chuyên phụ trách công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại đất nước đó Thiết chế này thường được gọi là Cơ quan (hoặc Ủy ban) Nhân quyền quốc gia (hay được viết tắt là NHRI), tồn tại bên cạnh các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp khác và có sự độc lập tương đối với các cơ quan này

Thiết chế NHRI được nhiều nhà khoa học đánh giá là xu thế tất yếu của thời đại,

đã có ở nhiều nước trên thế giới Thế nhưng tại Việt Nam hiện chưa có cơ quan nhân quyền quốc gia nào Bài luận sau đây của nhóm sẽ phân tích, đánh giá tính cấp thiết của việc thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia trong công tác thúc đẩy và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam, dựa trên góc độ khoa học pháp lý của luật hiến pháp

Cooperation, New York and Geneva, 2006, trang 03.

Trang 4

NỘI DUNG

1 Lý thuyết chung về quyền con người và cơ quan nhân quyền quốc gia.

1.1 Lý thuyết chung về quyền con người

1.1.1 Khái niệm và phân loại quyền con người

Có thể định nghĩa quyền con người theo nhiều cách khác nhau xuất phát từ các góc tiếp cận khác nhau, bởi đây là một phạm trù đa diện Theo PGS TS Vũ Công Giao, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc

tế2 Như vậy, quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ, nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đều đồng tình cho rằng, có thể chia quyền con

người thành hai nhóm chính theo lĩnh vực của đời sống nhân loại: các quyền dân

sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Cách phân loại này cũng giống

với cách phân loại của các nhà khoa học khi soạn thảo hai công ước quốc tế cơ bản

về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1996 (Công ước về các quyền chính trị, dân sự; và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa)

Trong hai nhóm này, lại có thể chia nhỏ chi tiết ra hơn: các quyền dân sự gồm

quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm; quyền tự do đi lại

Các quyền chính trị gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý xã hội Các quyền kinh tế gồm quyền tự do kinh doanh; quyền lao động Các quyền

xã hội gồm quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền lập hội, nhóm Các quyền văn hoá gồm quyền được giáo dục, tham gia và hưởng thụ đời sống văn hoá

1.1.2 Đặc điểm, tính chất của quyền con người

2 PGS TS Vũ Công Giao, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 2011, trang 38.

Trang 5

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất

cơ bản là: tính phổ biến; tính không thể tước bỏ; tính không thể phân chia; tính

liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau 3

Tính phổ biến thể hiện ở việc quyền con người mang tính bẩm sinh, vốn có và là

bình đẳng với tất cả mọi người Tính không thể tước bỏ hàm ý các quyền con

người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể, cá

nhân, tổ chức hay cơ quan, nhà nước… nào Tính không thể phân chia bắt nguồn

từ quan điểm cho rằng, các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau,

không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn hay thấp hơn quyền nào Tính

liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người,

toàn bộ hay một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

1.1.3 Các cách thức bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Do các quyền con người rất phong phú và những vi phạm quyền con người cũng rất đa dạng, được thực hiện bởi nhiều đối tượng nên việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chủ thể, thông qua nhiều biện pháp, từ phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đến theo dõi, giám sát và xử

lý các hành vi vi phạm về quyền con người theo các quy định của pháp luật…

Ở cấp độ quốc gia, có hai cách thức chính để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Cách đầu tiên được coi là phổ biến nhất mà hầu như ở quốc gia nào cũng

có, đó là thiết lập các hành lang pháp lý, xây dựng các bộ luật để quy định các biện pháp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Cách thứ hai hiện đang được coi là xu thế tất yếu mới của tương lai toàn cầu Đó là xây dựng một cơ quan chuyên trách,

có sự độc lập tương đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp khác; trao quyền hạn đủ để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Cơ

quan chuyên trách này thường được gọi là Cơ quan Nhân quyền quốc gia.

Trang 6

1.2 Cơ quan nhân quyền quốc gia

1.2.1 Khái niệm và phân loại cơ quan nhân quyền quốc gia

Cơ quan Nhân quyền quốc gia (tiếng Anh là National Human Rights Institution, viết tắt là NHRI) là cơ quan do nhà nước thành lập, được trao thẩm quyền trong Hiến pháp hoặc một đạo luật cụ thể để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Cơ quan này là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước và được ngân sách nhà nước chi trả4

Theo PGS TS Vũ Công Giao, hiện không có một kiểu mẫu thống nhất về mô hình cơ quan nhân quyền cho các quốc gia, tuy nhiên trong thực tế có ba dạng chủ yếu đó là: Ủy ban nhân quyền quốc gia (National Human Rights Committee); Cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman); Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụ thể (Specialized Institutions)5

1.2.2 Đặc điểm của cơ quan nhân quyền quốc gia

Theo Nguyên tắc Paris 1993 – văn kiện được coi là nền tảng và thước đo tiêu chuẩn để đánh giá các cơ quan nhân quyền quốc gia của Liên hợp quốc, thì các cơ quan nhân quyền quốc gia (CQNQQG) có các đặc điểm cơ bản sau:

+ Về địa vị pháp lý: CQNQQG được quy định trong Hiến pháp hoặc một văn

bản pháp luật cụ thể, đảm bảo có sự độc lập tương đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp khác

+ Về chức năng, quyền hạn: CQNQQG được giao quyền hạn, chức năng càng

rộng rãi càng tốt, từ tư vấn, giám sát, giáo dục cho đến tiếp nhận, xử lý các khiếu nại về những vi phạm nhân quyền…

+ Về cơ cấu nhân sự: CQNQQG có sự đa dạng về thành phần, gồm nhiều tầng

lớp và nhóm lợi ích trong xã hội nhằm tạo điều kiện cho mọi cá nhân, tổ chức có

cơ hội tham gia vào việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người

19/10/2021

http://www.xaydungdang.org.vn/Home/nhan_quyen/2021/15891/Cac-mo-hinh-co-quan-nhan-quyen-tren-the-gioi.aspx

Trang 7

1.2.3 Hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thúc đẩy quyền con người là các hoạt động nhằm phổ biến thông tin và kiến

thức về quyền con người tới các cá nhân, tổ chức trong xã hội6 Trên thực tế, việc thiếu hiểu biết về quyền là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hành vi vi phạm CQNQQG có thể thúc đẩy quyền con người bằng nhiều phương thức như:

+ Thúc đẩy giáo dục và đào tạo về quyền con người trong hệ thống nhà trường hoặc ngoài nhà trường

+ Nâng cao nhận thức của công chúng qua các chiến dịch vận động, thông tin đại chúng, xuất bản các ấn phẩm…

+ Tổ chức các hội thảo, hội nghị hay cuộc thi nhằm khuyến khích thảo luận, nâng cao hiểu biết của cộng đồng về các quyền con người

Bảo vệ quyền con người là các hoạt động tiếp nhận, điều tra và xử lý các hành vi

vi phạm quyền con người, buộc chủ thể vi phạm phải bồi thường cho nạn nhân, chịu trách nhiệm pháp lý và khôi phục lại trạng thái ban đầu7

CQNQQG thực hiện bảo vệ quyền con người qua hoạt động thu thập chứng cứ, điều tra, xác minh các hành vi vi phạm Tất nhiên, điều tra của CQNQQG không thể thay thế cho hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật và hệ thống tư pháp,

mà chỉ là sự bổ sung cho các cơ quan này Với kiến thức chuyên môn của mình, việc điều tra của CQNQQG sẽ bổ sung cho sự thiếu hụt của các cơ quan khác

2 Vấn đề bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và yêu cầu thiết lập cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam hiện nay

2.1 Vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam hiện nay

Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa có điều khoản nào định nghĩa rõ ràng quyền con người là gì, nhưng tất cả các quy định và hành lang pháp

lý đã được xây dựng đều nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, tạo điều kiện

để mọi tổ chức, cá nhân có cơ hội phát triển một cách tốt nhất Thậm chí trong quá

Trang 8

trình xây dựng và ban hành bản Hiến pháp 2013, Việt Nam đã đưa vấn đề quyền con người lên chương II (ngay sau chương Chế độ chính trị) – đây không đơn thuần chỉ là một sự thay đổi về mặt bố cục, mà nó còn thể hiện một bước tiến lớn trong tư duy pháp lý của Đảng và Nhà nước về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu cốt lõi của sự phát triển

Hệ thống thể chế đảm bảo quyền con người ở Việt Nam rất đa dạng, có thể chia

thành hai nhóm chính: nhóm các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư

pháp) và nhóm các cá nhân, tổ chức, đoàn thể xã hội.

Cụ thể trong nhóm các cơ quan nhà nước, với hệ thống cơ quan lập pháp thì có

Quốc hội cùng hệ thống ủy ban thuộc Quốc hội sẽ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy, bảo vệ quyền con người thông qua việc kiến nghị, thẩm tra các dự án luật, thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định Với hệ thống cơ quan hành pháp, Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng có nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm quản lý Về hệ thống cơ quan tư pháp, Toà án bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động tố tụng; và Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều được xử lý theo pháp luật

Đối với nhóm các cá nhân, tổ chức, đoàn thể xã hội, các chủ thể này tham gia

bảo vệ, thúc đẩy quyền con người thông qua việc tập hợp ý kiến, tổ chức trao đổi

và phản ánh ý nguyện của các tầng lớp nhân dân tới cơ quan nhà nước; giám sát các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người…

2.2 Vấn đề Cơ quan nhân quyền quốc gia tại Việt Nam hiện nay

Việt Nam hiện chưa có cơ quan nào có thể coi là CQNQQG mà mới chỉ có một vài cơ quan đang thực hiện một số chức năng của CQNQQG, ví dụ như Ủy ban Dân tộc của Chính phủ; Hội đồng Dân tộc và Ban Dân nguyện của Quốc hội; Cục Trẻ em, Vụ Bình đẳng giới của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội… Các cơ quan này hiện đang trực thuộc dưới các cơ quan lập pháp hay hành pháp, nên chưa

Trang 9

đảm bảo được nguyên tắc hoạt động độc lập theo Nguyên tắc Paris 1993 Chưa kể hiệu quả hay các hoạt động bảo vệ nhân quyền của những cơ quan này chưa thực

sự nổi trội hay có bước tiến đáng kể

2.3 Đánh giá sự cần thiết của cơ quan nhân quyền quốc gia trong việc bảo vệ

và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Ở Việt Nam, thành lập CQNQQG nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người hiện đang là một nhu cầu cấp thiết, xét từ cả góc độ trong nước và quốc tế

* Yêu cầu và tình hình trong nước:

(1) Giống như nhiều nước khác, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phải giải quyết ngày càng nhiều hơn các vấn đề về nhân quyền ở tất cả các cấp độ, quốc gia, khu vực và quốc tế, đòi hỏi phải sớm hoàn thiện cơ chế, bộ máy hiện có về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền mà hiện đang thiếu một cấu phần cơ bản là các CQNQQG Ngoài ra, quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, nhận thấy việc thành lập CQNQQG trước hết

và trên hết xuất phát từ nhu cầu bảo đảm tốt hơn quyền của người dân, vì thế, việc thành lập CQNQQG tại Việt Nam là cần thiết

(2) Với vị thế đặc biệt của mình, CQNQQG sẽ là cơ quan hữu ích giúp cho nhà nước thúc đẩy quyền con người thông qua việc cung cấp những tư vấn và trợ giúp độc lập, khách quan, có tính xây dựng cho nhà nước, cũng như giúp nhà nước giám sát, xử lý các hành vi vi phạm nhân quyền Hơn nữa, đây sẽ là cơ quan trung gian giúp hòa giải những bất đồng giữa chính phủ với xã hội dân sự, hay giữa chính những người dân trong vấn đề quyền con người một cách thực sự hiệu quả

(3) Trên thực tế, trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, các cơ quan nhà nước lại chính là chủ thể vi phạm và xâm hại quyền con người Vì vậy, cần một cơ quan tư vấn có tính độc lập tương đối để góp ý, trợ giúp và khắc phục bất cập này; giúp cân bằng giữa hai thái cực: sự quá hữu (bảo thủ, trì trệ…) của các cơ quan nhà nước cũng như sự quá tả (cực đoan, một

chiều…) của xã hội dân sự và dân chúng trong lĩnh vực quyền con người

Trang 10

(4) Ngày 31/12/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1975/QĐ-TTg, giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao để đẩy nhanh tiến trình thành lập CQNQQG tại Việt Nam (theo các khuyến nghị quốc tế) Như vậy, vấn đề không còn là “Việt Nam có nên thành lập CQNQQG hay không?” mà

đã trở thành là “Khi nào thì Việt Nam thành lập CQNQQG xong?”

* Yêu cầu và tình hình quốc tế:

(1) Tính đến năm 2016, đã có hơn 100 CQNQQG trên toàn thế giới Tại khu vực ASEAN, (nếu tính cả Timor Leste) thì đã có 06/11 quốc gia có CQNQQG8 Điều này chứng tỏ CQNQQG đã mang tính phổ biến quốc tế và là xu hướng chung của toàn thế giới Thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền là một yêu cầu khách quan trong bảo đảm sự tồn tại của các chính thể trên thế giới, và để thực hiện tốt công tác này tại Việt Nam thì việc thiết lập một CQNQQG là cần thiết

(2) Vào ngày 27/08/2013, khi ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam đã đưa ra 14 cam kết về nhân quyền trong đó tại cam kết thứ 3 có nhắc đến việc sẽ kiện toàn các thiết chế trong nước về bảo vệ nhân quyền, gồm cả việc

có thể thành lập một CQNQQG9 Ngoài ra, vào các năm 2009, 2014 và 2019, trong báo cáo theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền tại chu kỳ II và III, Việt Nam đã chấp nhận khuyến nghị nghiên cứu và cân nhắc khả năng thành lập một CQNQQG10 Như vậy việc thành lập CQNQQG gần như sẽ là bắt buộc bởi nó liên quan đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Thêm vào

đó, khi đã có một CQNQQG, đây sẽ là đầu mối cung cấp thông tin khách quan, tin cậy cho cộng đồng quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, tránh các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước của các thế lực thù địch

9 TS Hoàng Văn Nghĩa, Việt Nam với Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc và cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, ngày 01/08/2015

http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208454

10 Nguyễn Xuân Sang, Thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia Việt Nam cần thiết và hợp xu thế, Báo Thế giới và Việt Nam, ngày 03/04/2021

https://baoquocte.vn/thanh-lap-co-quan-nhan-quyen-quoc-gia-viet-nam-can-thiet-va-hop-xu-the-140323.html

Ngày đăng: 12/03/2022, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. PGS. TS. Đặng Dũng Chí, Định hướng xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia ở Việt Nam, Báo Thế giới và Việt Nam, ngày 03/06/2021https://baoquocte.vn/dinh-huong-xay-dung-co-quan-nhan-quyen-quoc-gia-o-viet-nam-145319.html Link
1. GS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Khác
2. GS. TS. Thái Vĩnh Thắng, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, 2017 Khác
3. PGS. TS. Vũ Công Giao, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 2011 Khác
4. TS. Nguyễn Duy Phương, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Huế, 2015.* Sách Khác
1. Bộ tư pháp, Việt Nam với vấn đề quyền con người, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 Khác
2. Lã Khánh Tùng, Cơ quan nhân quyền quốc gia, NXB Hồng Đức, 2017.* Tài liệu tiếng nước ngoài Khác
1. OHCHR, National Human Rights Institutions: History, Roles and Responsibilities, 2010 Khác
2. Principles Relating To The Status Of National Institutions (The Paris Principles) Khác
3. United Nations, UNHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006 Khác
4. United Nations, Universal Declaration of Human Rights 1948 Khác
5. United Nations, UN common understanding on human rights based approaches to development, 2003.* Tạp chí, bài báo Khác
1. Nguyễn Thị Thuý Chung, Các mô hình cơ quan nhân quyền trên thế giới, Tạp chí Xây dựng Đảng, ngày 19/10/2021 Khác
1. Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28/11/2013 Khác
2. Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 20/11/2015 Khác
3. Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19/06/2015 Khác
4. Quốc hội, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 19/06/2015 Khác
5. Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, ngày 20/11/2014 Khác
6. Quốc hội, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, ngày 24/11/2014 Khác
7. Quốc hội, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24/11/2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w