Điểm khác nhau giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. bình luận các sự kiện pháp lý trong luật thương mại. Hợp đồng ban đầu giao kết bằng lời nói, hợp đồng sửa đổi bằng văn bản có hợp pháp.
Trang 1Bộ Luật Dân sự 2015 Luật Thương mại 2005
Phạt vi
phạm
Khái niệm
Phạt vi phạm là sự thỏa thuận
giữa các bên trong hợp đồng, theo
đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp
một khoản tiền cho bên bị vi phạm
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền do vi phạm hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm sau:
Trường hợp miễn trách nhiệm các bên đã thỏa thuận;
Sự kiện bất khả kháng
Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
Mức phạt vi phạm
Do các bên tự do thỏa thuận và
không khống chế mức tối đa
Do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng khống quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Trừ trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi
vô ý hoặc cố ý thì phải thực hiện bồi thường nên có thể lên đến 10 lần thù lao giám định hoặc bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định
(Lưu ý: 8% ở đây là 8% của phần giá trị hợp đồng bị vi phạm chứ không phải là 8% giá trị hợp đồng, các bên cần lưu ý khi thỏa thuận để tránh việc hợp đồng giao kết bị vô hiệu
Mục đích
Bảo vệ quyền lợi của cả hai bên
Ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm hợp đồng có thể xảy ra
Tăng ý thức của các bên phải thực hiện nghiêm túc các thảo thuận
Trang 2Căn cứ áp dụng chế tài
Có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng (Nếu hai bên không thỏa thuận thì sẽ không phát sinh
Có hành vi vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng
Không cần thiết phải có thiệt hại xảy ra
Căn cứ pháp luật
Điều 418; Khoản 4, Điều 482 Bộ
Luật Dân sự 2015
Điều 266, 300, 301 Luật Thương mại 2005
Bồi
thường
thiệt hại
Khái niệm
Bồi thường quyền dân sự bị xâm
phạm
Bồi thường cho lợi ích mà lẽ ra
mình sẽ được hưởng do hợp đồng
mang lại
Bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ gây ra
Bồi thường thiệt hại tinh thần cho
người có quyền
Bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên
vi phạm
Mức bồi thường
Tổn thất tinh thần: hai bên thỏa
thuận nếu có yêu cầu thì do Tòa án
quyết định căn cứ vào nội dung vụ
việc
Tổn thất vật chất: căn cứ vào giá trị
tổn thất thực tế, tuy nhiên cũng có
thể thay đổi tủy thuôc vào yếu tố
lỗi và khả năng tài chính của bên vi
phạm
Giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp
mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
Căn cứ áp dụng chế tài
Tuân theo các quy định của pháp
luật:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng
- Có thiệt hại thực tế, bao gồm thiệt
hại về vật chất và tổn thất về tinh
thần
Tuân theo các quy định của pháp luật:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng
- Có thiệt hại thực tế
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Mục đích
- Bảo vệ quyền lợi bên bị vi phạm - Bảo vệ lợi ích bên bị vi phạm
Trang 3- Ngoài khôi phục, bù đắp các tổn
thất về vật chất, còn các tổn thất về
tinh thần
- Nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên vi phạm
Căn cứ pháp luật
Điều 419, Chương XX Bộ luật Dân
sự 2015
Điều 302, Điều 303 Luật Thương mại 2005
Hợp đồng ban đầu giao kết bằng lời nói, hợp đồng sửa đổi bằng văn bản có hợp pháp.
Căn cứ theo Điều 420 Bộ Luật Dân sự 2015:
Điều 420 Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1 Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng
2 Hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này
3 Hợp đồng sủa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu
Hình thức ghi nhận việc sửa đổi hợp đồng phải phù hợp với hình thức của hợp đồng đã giao kết Nghĩa là đối với các hợp đồng thông thường thì việc sửa đổi hợp đồng được ghi nhận bằng hình thức nào là do các bên thoả thuận Đối với những
“hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng kí hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó”
Câu tình huống: Bình luận các sự kiện pháp lý
1 Sự kiện 1:
Công ty cổ phần A cho công ty TNHH B mượn căn nhà.
Việc cho công ty A cho công ty B mượn căn nhà để làm trụ sở kinh doanh là hợp pháp
Điều 494 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.”
Trường hợp này giữa hai công ty đã xuất hiện hợp đồng mượn tài sản trong đó
công ty A là bên cho mượn, công ty B là bên mượn
2 Sự kiện 2:
Trang 4Công ty A đã dùng căn nhà của mình đem thế chấp ngân hàng để vay tiền kinh doanh.
Khoản 1 Điều 499 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.”
Căn nhà vẫn đang trong hợp đồng mượn tài sản Để có thể đem căn nhà thế chấp ngân hàng, công ty A cần yêu cầu công ty B trả lại nhà nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý
3 Sự kiện 3:
Công ty A và công ty B đã lập 4 văn bản mua bán căn nhà có đầy đủ chữ kí của các bên nhưng không đem đi công chứng chứng thực.
TH1: Văn bản mua bán căn nhà có hiệu lực
Khi các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch và nộp đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của văn bản mua bán nhà
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015: "Giao dịch dân sự đã được xác
lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực"
Theo đó, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một loại giao dịch dân sự cụ thể mà không công chứng thì vẫn được công nhận nếu có đủ điều kiện sau:
- Điều kiện 1: Được xác lập bằng văn bản;
- Điều kiện 2: Một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng (thường sẽ là trả ít nhất 2/3 số tiền chuyển nhượng của thửa đất);
- Điều kiện 3: Bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai bên yêu cầu mà Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó
Trang 5Lưu ý: Khi nộp đơn yêu cầu Tòa án công nhận thì người yêu cầu phải có giấy tờ, chứng minh việc thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng (có thể là giấy giao nhận tiền, biên lai, thông tin chuyển khoản qua ngân hàng…)
TH2: Văn bản mua bán căn nhà không có hiệu lực
Khi các bên chưa thực hiện ít nhất nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch hoặc
đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch nhưng không nộp đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của văn bản mua bán nhà
4 Sự kiện 4:
Đang trong quá trình sang tên sổ đỏ, công ty A làm đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc công ty B phải trả lại nhà
Công ty A vi phạm hợp đồng mua bán căn nhà và phải bồi thường cho công ty B Khoản 5, Điều 427 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại các điều 423, 424, 425 và 426 của Bộ luật này thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.”
Điều 131 427 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:
“Điều 131 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường
5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”
Trang 6Ở đây, công ty A là bên hủy hợp đồng và nếu không xảy ra các trường hợp được quy định tại các Điều 423, 424, 425, 426 Bộ Luật Dân sự 2015 thì công ty A là bên
vi phạm nghĩa vụ
Các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, công ty A là bên có lỗi phải bồi thường cho công ty B nếu gây thiệt hại cho công ty B