1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT

34 9 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Vật Liệu Nội Thất
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Vật Liệu Nội Thất
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Vật liệu nội thất gốm sứ: Là những loại vật liệu nội thất được làm chủ yếu bằng gốm sứ, được dùng làm đồ mỹ thuật trang sức, trưng bày, hay các loại gạch men tường nội thất… - Vật liệu

Trang 1

BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT Interior Material

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NỘI THẤT 1.1 Vai trò của vật liệu dùng trong nội thất

Vật liệu trang trí nội ngoại thất có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả mỹ quan và công năng của vật liệukiến trúc Hiệu quả thiết kế của một vật kiến trúc không chỉ có quan hệ với thủ pháp thiết kết kiến trúc tạo hình mặtđứng, tỷ lệ kích thước và công năng của từng khối mà còn có quan hệ mật thiết với việc lựa chọn vật liệu trang sức

Hiệu quả trang sức lớp bề mặt của vật kiến trúc thông thường thể hiện trên ba khía cạnh: màu sắc, cảm giác và đường nét Vai trò của vật liệu trang sức chính là làm đẹp cho vật kiến trúc, làm đẹp cho môi trường xung quanh Ngoài ra, do các vật liệu trang sức hầu như là vật liệu trang sức bề mặt của vật kiến trúc nên cần có tính chất bảo vệ vật kiến trúc, kéo dài tuổi thọ của vật kiến trúc Các vật liệu trang sức hiện đại còn có những tính năng khác nữa

như: chống cháy, chống mốc, giữ nhiệt, cách nhiệt và cách âm Tóm lại, vật liệu trang sức nội ngoại thất có vai tròlàm đẹp, bảo vệ và những tính năng khác cho vật kiến trúc

1.2 Phân loại vật liệu nội thất

Vật liệu trang sức nội ngoại thất hiện có hàng trăm, thậm chí hàng vạn loại, hơn nữa tốc độ đổi mới của dạngvật liệu này cũng vô cùng nhanh chóng Có rất nhiều cách phân loại vật liệu trang sức nội ngoại thất, thông thường

có các loại sau:

1.2.1 Phân loại theo chất liệu của vật liệu

a Vật liệu vô cơ: Đá, sành sứ, kính, thép không rỉ, hợp kim, nhôm

- Vật liệu nội thất từ đá: Là những loại vật liệu nội thất được tạo thành chủ yếu từ các loại đá như đá tự

nhiên, đá nhân tạo

+ Đá tự nhiên: Bao gồm đá trầm tích, nham thạch, đá phong hoá Là loại vật liệu có khả năng chịu nén cao,

bền lâu, tính trang sức tốt, thường dùng trong trang sức công trình

+ Đá nhân tạo: Hiện nay người ta thường sử dụng các loại đá nhân tạo nhựa tổng hợp như đá nhựa tổng hợp,

đá phức hợp, đá xi măng, đá nung Chúng có đặc điểm là nhẹ, cường độ cao, chống axit, kiềm cao và dễ gia công, giáthành hạ

- Vật liệu nội thất thuỷ tinh: Là những loại vật liệu nội thất được làm chủ yếu bằng thuỷ tinh bao gồm thuỷ

tinh cứng, thuỷ tinh chịu nhiệt, thuỷ tinh thạch anh…Được dùng làm kính, cửa sổ…trong các công trình kiến trúc

- Vật liệu nội thất gốm sứ: Là những loại vật liệu nội thất được làm chủ yếu bằng gốm sứ, được dùng làm đồ

mỹ thuật trang sức, trưng bày, hay các loại gạch men tường nội thất…

- Vật liệu nội thất kim loại: Vật liệu chủ yếu là kim loại dạng ống tròn (như các loại ống sắt, hợp kim nhôm,

gang thép không gỉ hay cũng có thể là những loại ống dạng vuông), vật liệu dạng sợi, dạng tấm, dạng địnhhình….được làm thành các đồ gia dụng…

b Vật liệu hữu cơ: Gỗ và vật liệu từ gỗ; nhựa

- Vật liệu nội thất từ gỗ: Chủ yếu là chỉ những loại vật liệu nội thất được làm từ gỗ tự nhiên hay ván nhân

tạo

+ Vật liệu nội thất từ gỗ tự nhiên: Vật liệu nội thất làm từ gỗ tự nhiên, chủ yếu sử dụng các loại gỗ từ nhóm

I đến nhóm IV Là các loại gỗ có màu sắc, vân thớ đẹp, quí hiếm và có độ bền cơ học cao một số loại nổi bật như:Cẩm Lai, Giáng Hương, PơMu, Gõ Đỏ, Hoàng Đàn…

+ Vật liệu nội thất từ ván nhân tạo: Vật liệu nội thất làm từ ván dăm, ván ghép thanh, ván sợi…được sản

xuất từ loại gỗ rừng trồng và được sử dụng làm đồ mộc, trang trí nội thất, làm ván sàn…

- Vật liệu nội thất phi lâm sản: Là những loại vật liệu nội thất được làm chủ yếu từ nguyên liệu song mây

hay tre nứa là loài sinh trưởng nhanh, dễ gia công, dễ sử dụng, dễ đánh bóng và khả năng chịu kéo dọc thơ, xoắn rấtlớn Được dùng làm hàng mộc, đồ mỹ nghệ, nhà cửa…có giá trị

- Vật liệu nội thất dạng lỏng: Vật liệu chủ yếu là các loại sơn nội thất như sơn quét tường, sơn quét nền, các

loại chất phủ dùng để trang trí nội thất…

Trang 2

Vật liệu nội thất từ một số chất liệu khác

Vật liệu nội thất được làm từ nhựa, thảm, thạch cao, giấy dán tường, v.v

Vật liệu phức hợp vô - hữu cơ: Đá hoa cương nhân tạo, tấm kim loại, sơn

1.2.2 Phân loại sự theo bố trí trong công trình kiến trúc của vật liệu trang sức

Vật liệu trang sức tường bên ngoài: Đá tự nhiên, đá nhân tạo, đồ sành sứ, kính xây dựng, xi măng, vữa bê

tông trang sức, sơn quét tường ngoài trời, hợp kim nhôm

Vật liệu trang sức bên trong: Đá, sơn quét tường trong nhà, giấy dán tường, vải dán tường, kính và gỗ Vật liệu trang sức nền: Thảm, ván sàn nhựa, gạch men, đá, ván sàn gỗ, sơn quét nền, ván chống tĩnh điện Vật liệu trang sức trần: Thạch cao, tấm lợp trần hợp kim, kính hữu cơ và các loại vật liệu khung giá đỡ khác 1.2.3 Phân loại theo mức độ bắt cháy của vật liệu trang sức

Cấp độ A: Là những vật liệu không mang tính bắt cháy như thạch cao, đá hoa cương

Cấp độ B1: Là những vật liệu khó cháy như ván trang sức chống cháy, giấy dán tường chống cháy

Cấp độ B2: Là những vật liệu có thể cháy như ván dán, vải dán tường

Cấp độ B3: Là những vật liệu dễ cháy như sơn dầu, cồn

1.3 Nguyên tắc sử dụng vật liệu nội thất

Đủ: Ngôi nhà không phải là nơi tập hợp, phô trương các chủng loại vật liệu, nhất là vật liệu hoàn thiện, ví dụ

như quá nhiều mẫu gạch ốp lát, nhiều loại gỗ khác nhau Chọn vật liệu vừa đủ, khai thác hết khả năng của vật liệu

sẽ giúp nội khí toàn nhà luôn quân bình hơn là vật liệu chắp vá, thiếu đồng bộ hoặc quá dư thừa Vật liệu phải dùngđúng chỗ đúng nơi, thuận tiện cho bảo dưỡng, sửa sang

Đúng: Vật liệu phải dùng đúng nơi đúng chỗ, trong - ngoài rạch ròi, tránh lẫn lộn hoặc dùng các vật liệu

thiếu bền vững mà lại để tiếp xúc với môi trường khắc nghiệt, vật liệu phải tương thích với không gian, ví dụ nhưphòng karaoke nên dùng vật liệu hút âm tốt như gỗ, tấm xốp, vải hơn là dùng đá hay kính

Đáng: Dùng vật liệu phù hợp với nhu cầu, điều kiện kinh tế, nếu không đáng phải sử dụng vật liệu đắt tiền

thì nên cân nhắc Đây cũng là yếu tố ngũ hư trong phong thủy truyền thống Cha ông ta ngày xưa chọn vật liệu rấtthích đáng, bền chắc mà vẫn rất giản dị theo quan điểm "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" Cần giảm thiểu các tác động chephủ, ví dụ như lợp mái ngói, nếu không cần thiết mà lại đóng thêm trần thì vật liệu ngói chỉ còn tác dụng về mặtche chắn bên ngoài

Đẹp: Vẻ đẹp vật liệu làm nên vẻ đẹp ngôi nhà Vật liệu đẹp trước tiên là vật liệu chân thực, được xử lý và tạo

ra được các tố chất cơ bản của loại vật liệu đó, ví dụ như gỗ có vân hay vải có sớ Mặt khác, vẻ đẹp vật liệu phải cómột giá trị lưu giữ nhất định qua thời gian, đồng thời phải thuận tiện cho việc sử dụng và bảo trì sửa chữa Và cũngkhông lẫn lộn vật liệu xây dựng với vật liệu làm đồ mỹ nghệ

Độc: Nếu ngôi nhà khi xây dựng đã đạt được tất cả những tiêu chí trên, hãy chọn lựa thêm một chút vật liệu

lạ, độc đáo để làm duyên mà vẫn không gây ảnh hưởng đến cấu trúc cũng như phong cách chung Vật liệu độc đáo

sẽ làm nên phong cách riêng của không gian và giúp nổi bật khí, tạo những điểm nhấn bên trong cũng như ngoàinhà

Tóm lại, sinh khí của ngôi nhà thông qua cách sử dụng vật liệu luôn có sự thay đổi và chuyển biến đáng kể,bắt đầu là sự bình ổn (nhờ dùng đủ và đúng), sau đó là sự hài hòa (nhờ đẹp và xác đáng) và cuối cùng là sự gia tăngkhí (nhờ sự độc đáo)

Trang 3

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU TỪ GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ 2.1 Gỗ dùng trong nội thất

2.1.1 Yêu cầu của gỗ dùng trong các hình thức nội thất

a Các đặc trưng của tính chất vật lý

+ Độ ẩm của gỗ: Là đại lượng đặc trưng nói lên mức độ nước có trong gỗ, là tỷ lệ phần trăm lượng nước có

trong gỗ so với khối lượng của gỗ Liên quan đến độ ẩm của gỗ Bao gồm độ ẩm tương đối, độ ẩm tuyệt đối, độ ẩmbão hoà và độ ẩm thăng bằng

Độ ẩm của gỗ là đại lượng rất quan trọng, nó có liên quan đến các tính chất khác của gỗ như co rút, giãn nởcủa gỗ hay cường độ gỗ Đối với gỗ dùng để sản xuất ván sàn thường có độ ẩm < 14%

+ Tính truyền nhiệt của gỗ: Sàn ghép bằng ván gỗ tự nhiên cho chúng ta cảm giác mát mẻ về mùa hè, ấm áp

về mùa đông là do các nguyên nhân sau:

- Do cấu tạo bên trong của gỗ là rỗng nên sức truyền nhiệt của gỗ là kém, gỗ có khối lượng thể tích nhẹ khảnăng dẫn nhiệt kém, đặc điểm này của gỗ được lợi dụng rất nhiều, nhất là trong xây dựng

- Hệ số truyền nhiệt là nhiệt lượng cần thiết để thông qua một đơn vị diện tích (1 cm2), một đơn vị dài 1cm,một đơn vị thời gian (1 giây) nên ở hai mặt gỗ có nhiệt độ chênh lệch là 10C

- Gỗ là một vật thể hữu cơ, ngoài vách tế bào còn có nước, không khí và các chất khác vì vậy khả năng dẫnnhiệt của nó biến đổi rất nhiều, nhân tố này ảnh hưởng khá phức tạp, trong đó khối lượng thể tích là quan trọng nhất

- Sức truyền nhiệt của gỗ còn khác nhau do chiều thớ gỗ, chiều dọc thớ gấp hai lần chiều ngang thớ rất nhiều.Truyền lực theo chiều ngang thớ còn vấp phải sức cản của khe hở chứa đầy vật chất khác, chiều xuyên tâm truyềnnhiệt lớn hơn chiều tiếp tuyến vì có sự tồn tại của tia gỗ

+ Sự co, giãn của gỗ: Điểm bão hoà thớ gỗ là ranh giới của gỗ phát sinh giãn nở do ẩm và do khô Gỗ là vật

liệu không đồng tính, các phương chiều khác nhau, co rút khác nhau Sự co giãn ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất,trong thực tế sản xuất người ta dùng phương pháp sấy, làm cho gỗ có độ ẩm thăng bằng tương ứng với độ ẩm môitrường

Hiện tượng co giãn không đều theo ba chiều thớ gỗ Sức co giãn theo

- Chiều dọc thớ <1%

- Chiều xuyên tâm 2 - 7%

- Chiều tiếp tuyến 4 - 14%

Bản chất của quá trình co giãn là do sự thay đổi khoảng cách các mixen Do cách sắp xếp các mixen như trênnên gỗ co giãn ngang thớ là chủ yếu Tỷ lệ co giãn theo chiều dọc thớ <1% là vì lý do sau:

Mixenxenlulo lớp trong và lớp ngoài vách thứ sinh của tế bào xếp dọc thân cây, xếp vuông góc với trục dọcthân cây Góc lệch của mixen lớp giữa vách thứ sinh của tế bào xếp dọc thân cây Gỗ nghiêng thớ càng mạnh thì cogiãn theo chiều dọc thớ càng lớn Theo chiều ngang thớ co giãn theo chiều xuyên tâm nhỏ hơn co giãn theo chiềutiếp tuyến về trị số là 1/2 do tia gỗ gây nên vì vậy khi sản xuất tấm ván ghép sàn ta phải chú ý các đặc điểm trên để

có các biện pháp khắc phục

+ Khối lượng thể tích gỗ: Khối lượng thể tích của gỗ là tỷ số giữa khối lượng gỗ trên một đơn vị thể tích gỗ.

Bao gồm 4 khái niệm khác nhau: Khối lượng thể tích cơ bản, khối lượng thể tích gỗ khô, khối lượng thể tích gỗ tươi,khối lượng thể tích gỗ khô kiệt Căn cứ vào khối lượng thể tích để đánh giá cường độ và giá trị công nghệ của gỗ Gỗ

có khối lượng thể tích càng cao thì chịu lực càng lớn và ngược lại Vì vậy để sản xuất ván sàn người ta thường sửdụng các loại gỗ có khối lượng thể tích lớn như PơMU, Căm Xe, Giáng Hương,

+ Màu sắc và vân gỗ: Một trong những yếu tố quan trọng của gỗ là màu sắc và vân của gỗ Màu sắc làm tăng

vẻ đẹp, tăng giá trị sử dụng và giúp cho việc nhận mặt gỗ Mỗi loại gỗ thường có màu sắc tự nhiên khác nhau như gỗMun, Muồng Đen có màu đen; Giổi, Mỡ, Mít Mật, có màu vàng ánh

+ Độ mịn của gỗ: Độ mịn của gỗ phụ thuộc vào cấu tạo và quá trình sinh trưởng của các loại gỗ Gỗ lá kim rất

mịn vì không có tế bào mạch gỗ như gỗ lá rộng Gỗ lá rộng càng ít lỗ mạch và đường kính lỗ mạch càng bé càngmịn Gỗ càng mịn càng dễ đánh bóng để tạo độ bóng cao

Trang 4

+ Mùi vị của gỗ: Mùi vị của gỗ giúp ta phân biệt gỗ, tạo nên nét đặc trưng cho gỗ Một số loại gỗ Re Hương,

Long Não, Hương, PơMu có mùi có mùi thơm lâu phai Một số loại gỗ như Đinh Thối, Lát Khét có mùi khôngthoải mái, và vị đắng thì không dùng cho sản xuất đồ mộc Gỗ dùng để lát sàn thường là các loại gỗ có mùi thơm vàvân thớ đẹp, có độ mịn cao

+ Độ phản quang của gỗ: Gỗ có tính chất phản chiếu ánh sáng khác nhau Một số loại gỗ, các vân gỗ có tính

phản quang cao, tạo vẽ đẹp óng ánh cho vân gỗ Thường mặt cắt xuyên tâm có nhiều tia gỗ nên phản quang mạnhhơn các mặt cắt khác Các loại gỗ như Lát, Chẹo Tía, Xoan Đào, Căm Xe, Gõ Đỏ, Xà Cừ, thể hiện rất điển hìnhđặc điểm này

b Các đặc trưng về tính chất cơ học

+ Cường độ của gỗ: bao gồm kháng kéo, uốn, nén, kháng cắt, vì gỗ là vật liệu không đồng tính phân thành

cường độ ngang và dọc cường độ kéo dọc, uốn dọc và nén dọc là tương đối lớn Cường độ chống cắt ngang thớ làtương đối cao Cường độ gỗ có liên quan rất lớn đến độ ẩm gỗ Khi độ ẩm nhỏ hơn độ ẩm bão hoà, độ ẩm giảm thìcường độ tăng và ngược lại Cường độ gỗ còn có quan hệ với điều kiện nội tải của nó và thời gian chịu tải

+ Biến dạng đàn hồi và biến dạng vĩnh cửu:

Biến dạng đàn hồi của gỗ là do các xenlulo tạo ra, biến dạng vĩnh cửu của gỗ là do các lignhin tạo ra (nói cáchkhác trong gỗ có hai vùng, vùng có biến dạng đàn hồi và vùng có biến dạng vĩnh cửu) hai vùng này nằm sát cạnhnhau ở bất kỳ vị trí nào trong thân cây gỗ

Như chúng ta đã biết, gỗ được cấu tạo bởi vố số các tế bào, vách tế bào được cấu tạo nên bởi hai thành phầnchính là xenlulo và lignhin, xenlulo có cấu trúc định hình, là thành phần chủ yếu sản sinh ra nội lực Lignhin là chấtkeo vô định hình người ta ví nó như ximăng bám trên sườn sắt để tạo ra khối bêtông, đó chính là vách tế bào, do tínhchất như vậy lignhin chỉ là thành phần thứ yếu sản sinh ra nội lực Gỗ có khối lượng thể tích càng cao thì chịu lựccàng lớn và ngược lại Vì vậy để sản xuất ván sàn người ta thường sử dụng các loại gỗ có khối lượng thể tích lớn nhưPơMU, Căm Xe, Giáng Hương,

2.1.2 Một số nét cơ bản khi phân loại gỗ

Phân loại gỗ thành 8 nhóm dựa theo mục tiêu sử dụng với các yếu tố khác như tính quí hiếm, công nghệ, màusắc vân thớ, giá trị sử dụng

Nhóm I: là gỗ có màu sắc vân thớ đẹp, thơm, quí hiếm, giá trị cao, gồm 41 loài Các loài nổi bật như cẩm lai,

trắc, mun, gụ, pơ mu, hoàng đàn, lát rất có giá trị đối với đồ mộc cao cấp truyền thống

Nhóm II: Tính chất cơ lý cao nhất, dùng cho xây dựng công trình lâu năm, gồm có 26 loài, nổi bật như lim

xanh, đinh, sến táu, nghiến, trai, xoay Tính chất cơ lý cao nhưng kém nhóm II, gồm có 24 loài, chủ yếu như săng lẻ,chò chỉ, cà ổi, tếch, trường mật, trường chua, vên vên, sao đen ,sao vàng

Nhóm IV: Nhẹ, dễ gia công, ít co giản, thích hợp với đồ mộc tốt, bút chì, bóc lạng gồm có 34 loài, trong đó

có giổi, re hương, gội nếp, kháo vàng, long não, dầu, kim giao, thông nàng, thông 3 lá

Nhóm V - VIII dựa vào khối lượng thể tích, cường độ, độ bền và giá trị sử dụng Nhóm V có 65 loài, nhóm

VI có 70 loài, nhóm VII có 45 loài, nhóm VIII có 48 loài

2.1.3 Một số loại gỗ tiêu biểu dùng cho đồ mộc truyền thống

Nhóm sản phẩm chạm khắc đồ mộc gia dụng: bàn, ghế, giường, tủ: yêu cầu gỗ cơ bản là độ bền cơ học cao,

dẻo, mịn, ít bị nứt, màu sắc, vân thớ sẫm, đẹp, không độc

Chủ yếu thuộc nhóm I như: Trắc, Mun, Gụ, Cẩm lai, Giáng hương, Sơn huyết, cẩm liên, cẩm thị là nhữngloại gỗ rất được ưa chuộng

Nhóm sản phẩm đồ thờ cúng: yêu cầu gỗ mịn, đẹp, có mùi thơm, tính chất cơ lý phù hợp, dễ chạm khắc,

như: Hoàng đàn, lõi gỗ mít,

Nhóm sản phẩm tượng gỗ, hoa văn các loại dùng cho trang trí nội thất: Yêu cầu mịn, dễ chạm khắc, dẻo

dai, ít nứt, ít co rút, màu đẹp (màu vàng hoặc trắng), như: mít, xà cừ, bưởi, pơ mu, dâu

2.1.4 Ứng dụng của gỗ dùng trong một số hình thức nội thất

a Cửa: Cửa gỗ có thể sử dụng cho cửa chính, phòng ngủ, cửa sổ cánh cửa mở rộng hoặc xếp lại tạo không gian

mở hoặc khép

Trang 5

Cửa gỗ tự nhiên: Ưu điểm sản phẩm bằng gỗ tự nhiên là đẹp, có kết cấu đồng chất, cứng cáp và tạo được

nhiều kiểu dáng Nguyên liệu gỗ tự nhiên có nhiều loại và hầu hết được nhập từ các nước châu Á, Bắc Mỹ Gỗthường dùng làm cửa là căm xe, giáng hương, cẩm lai, gõ đỏ, sồi, alder, cherry, mahogany, pine

Cửa có thể mở theo kiểu thông thường, có thể mở lật, nghiêng hay lùa Về tạo dáng, trên mặt cửa có thể làpanô, ô vuông, có thể là đường vát xiên, hình tròn, đa giác Hoặc có phần kết hợp với lá sách, với kính trong, kínhmàu, kính thể hiện họa tiết bằng keo, bằng ron chì (theo trường phái cổ điển) Hoặc cửa gỗ khắc chạm hoa văn.Với cửa chính thường làm panô gỗ, panô kính, lá sách với kết cấu từ 2 đến 4 cánh Cửa phòng trong thường dùng panô bằng gỗ Cửa kết hợp với kính, ngoài việc trang trí cho có tính hiện đại, kính có tác dụng lấy được nguồn sáng tự nhiên Với cửa gỗ, để cách điệu, người ta còn sử dụng eke to bản có họa tiết, đóng lộ ra bên ngoài; vừa làm vững chãi thêm cho kết cấu cửa, vừa như trang trí hoa văn cho mặt cửa Mặt khác, chất liệu kim loại thích hợp và đồng điệu khi gắn kết với gỗ

Tuy nhiên, cửa gỗ cũng có những hạn chế nhất định như nặng, làm tăng tải trọng cho nền móng công trình và giá khácao Gỗ sẽ không bền lâu trong môi trường nước, ẩm ướt - gây hư mục và bị biến dạng, cong vênh hay co nhót dưới tác động của nắng trời, nhất là đặt cửa ở những hướng có ánh nắng chiếu trực tiếp Do đó, ứng dụng những loại cửa này trong công trình thường làm cửa phòng hoặc đặt ở những nơi không bị mưa nắng hắt, tạt trực tiếp Nhưng, vẫn

có thể sử dụng làm cửa đi chính hay cửa sổ nhưng mặt cửa phải nằm lùi vào trong ban công có mái đón, nằm trong khoảng sân đệm của không gian nhà Phải xem xét đến bản vẽ thiết kế để có thể chọn lựa cửa gỗ ứng dụng tương thích và phù hợp theo những tiêu chí nêu trên

Hiện nay, quá trình sản xuất đồ gỗ đều được tẩm hóa chất chống mối mọt và sấy khô để hạn chế co nhót, congvênh, nhưng vẫn phải tính đến độ bền vững của vật liệu theo thời gian trước tác động của khí hậu nhiệt đới khắcnghiệt như ở Việt Nam

Theo một số chuyên gia trong việc làm đồ gỗ, độ dày mỏng của gỗ đóng vai trò quan trọng trong kết cấu bềnvững của cửa Gỗ càng dày cửa càng tốt, giảm thiểu bị cong vênh, giãn nở và tất nhiên giá cao hơn Để nhận diệnđược việc này, có thể xem bề dày gáy cánh cửa, hoặc gõ trên mặt ván để "nghe" độ dày mỏng của vật liệu Hàngkhông cao cấp có những loại tấm gỗ panô cửa dày chỉ 7-8 mm, rất dễ bị xé Thậm chí, chỉ mỏng 3-5 mm và được

"dán" lên tấm ván ép hay ván gỗ tạp cho "có vẻ" dày dạn nhưng dạng này mau hỏng

Một yếu tố nữa cũng thường gặp là nguyên liệu gỗ làm cửa còn dính giác (phần gỗ màu trắng sát vỏ cây, khácvới phần lõi của cây gỗ) Giác gỗ là phần mau bị mục rã nhất Nhưng khi đóng xong cửa, phần giác này được "môngmá" lại bằng bả màu và véc ni vẽ, đánh lên cho hợp với vân và màu của gỗ phần lõi Thoáng nhìn, khó nhận ranhưng quan sát kỹ có thể phát hiện vì sẽ lộ cái nét thiếu tự nhiên của sắc diện gỗ

Cửa gỗ nhân tạo - HDF :

Do nguyên liệu gỗ được ưa chuộng nhưng mắc và khan nên các nhà sản xuất đã tạo ra một chất liệu mới HDF (high density fiber) HDF chuyên dụng làm cửa là một loại bột gỗ đã qua xử lý và nén, ép với keo đặc biệt dưới

-áp lực cao để tạo thành tấm Đặc biệt, bề mặt ván HDF tạo được thớ và vân gần như gỗ thật Ván nguyên thủy màuvàng như giấy carton và trong quá trình làm cửa, khâu sau cùng sơn màu lên tùy thích Điều này cũng là lợi thế trongtrang trí nội thất - chọn được màu cửa tương hợp với không gian nội thất, hoặc có thể thay đổi tông sắc sau một thờigian sử dụng Khung xương bên trong cánh cửa làm bằng gỗ cứng hay gỗ thông được cắt ngắn (khoảng 34-50 mm)ghép lại và qua tẩm sấy theo đúng chuẩn (độ ẩm chỉ 7-12%) để hạn chế tối đa sự co nhót, biến dạng của vật liệu.Ngoài khung xương áp hai tấm HDF

Từ đó, ưu điểm loại cửa gỗ này là không bị cong vênh, không bị hiện tượng hở các mối ghép dưới tác độngthời tiết và có khả năng chống mối mọt do là gỗ công nghiệp Bên trong cửa có nhiều khoảng trống nên có phần cách

âm, cách nhiệt Cánh cửa nhẹ, tránh được tình trạng xệ bản lề và giảm tải trọng công trình Do tấm HDF nhân tạonên bề mặt có thể "dập" theo khuôn với nhiều kiểu panô và họa tiết trên cửa - trông như chế tác cửa bằng gỗ thật.Đặc điểm nữa là giá thành thấp, chỉ vào khoảng 70% so với cửa gỗ tự nhiên

Nhưng cửa HDF vẫn có những hạn chế nhất định Vì là gỗ nhân tạo nên không bền ở môi trường nước hay

ẩm độ cao Chẳng hạn, không thích hợp ứng dụng cửa sổ, cửa đặt tiếp xúc trực diện với môi trường tự nhiên

Cửa chống cháy và cửa HDF dán veneer: Cùng kết cấu như trên, nhưng trước khi áp hai tấm HDF vào

cánh cửa, những khoảng rỗng được chèn bằng sợi khoáng và kẹp lại bằng hai tấm calcium silicate dày 6-9 mm Tấmchống cháy chủ yếu này gồm xi măng, sợi silicate mịn, sợi cenlulose có khả năng ngăn nhiệt từ lửa và giữ tínhnguyên vẹn cho cửa trong thời gian khoảng 60-120 phút

Một sản phẩm mới khác sẽ có trên thị trường vào thời gian tới là cấu trúc dạng cửa gỗ HDF chống cháy nàynhưng bề mặt tấm HDF được dán lên lớp veneer, lớp gỗ tự nhiên lạng mỏng như xoan đào, sồi, cherry, ash, sapelli

Dù bề mặt tấm HDF đã được chế tác gần giống vân gỗ thật nhưng để đúng là gỗ thật, nhà sản xuất đã dùng veneer

Trang 6

dán lên Công nghệ dán này trải qua những công đoạn mới veneer dán và ép nóng lên một tấm lưới mảnh nhưng dai.Nhờ tấm lưới này, khi dập mặt cửa theo khuôn panô, theo các "nhịp" lồi lõm của hoa văn thì bề mặt gỗ veneer - cácgóc cạnh không bị hỏng, bong tróc Đây là lợi thế của dạng cửa này - tức dán veneer gỗ lạng mỏng mà vẫn tạo đượcchi tiết, họa tiết trên mặt cửa.

Cửa gỗ ghép dán veneer: Bằng nguyên liệu gỗ tự nhiên nhưng để giá thành hạ nhà sản xuất đã "chế biến" ra

loại cửa bằng gỗ ghép, mặt ngoài dán veneer Từ đó, sắc thái cánh cửa là gỗ thật và có những đặc tính riêng Giáthành cửa ghép dán veneer thấp hơn so với cửa bằng gỗ tự nhiên "nguyên xi" là 30%

Giá thấp nhờ sử dụng gỗ vụn, gỗ miếng nhỏ, gỗ tận thu, gỗ trồng trong tự nhiên qua các khâu tẩm sấy để ổnđịnh chất, thớ gỗ Sau đó ghép nóng lại bằng keo đặc biệt để thành cây gỗ và ván làm cửa Đặc tính cửa dạng này là

gỗ đã qua xử lý và được ghép từ những miếng nhỏ nên hạn chế cao sự co rút hay giãn nở của gỗ; cửa không bị congvênh và bề mặt cửa là chất liệu gỗ thật; chế tác được nhiều kiểu dáng vì nó đã thành gỗ phách, gỗ ván Tuy nhiên vẫn

có những hạn chế như nặng bởi "căn nguyên" nó là gỗ tự nhiên Do chất là gỗ tự nhiên nên xử lý bề mặt bằng PUhay UV để giữ nguyên được sắc diện của gỗ, cũng như nó là lớp bảo vệ mặt gỗ - không cần phải bả màu hay véc nisơn phết bằng chất nào khác vì sẽ làm mất vẻ trung thực của gỗ

Cửa ghép ngoại nhập: Cửa có khung hai lớp với nhiều chủng loại Khung bên trong của loại này là gỗ, bên

ngoài có thể là nhôm hay nhựa, hoặc ngược lại, hoặc toàn bằng gỗ Gỗ đã qua xử lý để ổn định chất lượng với hàngchục loại vân và sắc độ Khung nhôm được đúc nguyên khối, chống lõm, gợn sóng và chống ồn Khung nhựa cũngđùn ép dưới áp lực cao và tạo nhiều ngăn để chống bị thẩm thấu bởi nước, không khí, có cấu trúc cứng hơn và giảmthiểu sự trương nở, co rút theo thời tiết

Phần kính ứng dụng trên cánh với tác dụng lấy sáng và có khả năng cản nhiệt lượng truyền vào nhà Kính hailớp, ở giữa là khoảng trống được bơm khí trơ vào để giảm sự truyền tải nhiệt Các góc cạnh xử lý bằng silicon bítkín, tăng cường độ chịu lực và ngăn sự thẩm thấu từ môi trường tự nhiên Ngay trên một mặt kính cũng dán hai lớpvới màng keo đặc biệt để kính không bị vỡ vụn, rơi ra khi sự cố

+ Khả năng chịu va đập (shock resistance): với ký hiệu từ IC1 đến IC2 là thông số đảm bảo sàn của bạn sẽkhông bị biến dạng khi có vật nặng bị rơi xuống sàn

+ Mặc dù vật liệu có thể lát thẳng lên bất cứ một mặt phẳng nào mà không dùng hệ thống xương dầm như gỗ

tự nhiên, bạn cũng nên kiểm tra lại mặt sàn của mình đã tương đối phẳng chưa, chỉ cần đừng chênh lệch quá 4 mmcho mỗi khoảng cách 2 m bất kỳ Nếu là mặt sàn vừa láng xi măng thì ít phải chờ ít nhất 2 tuần cho khô hẳn trướckhi lắp đặt

+ Ngoài các tính năng ưu việt trên, sàn gỗ công nghiệp thế hệ mới có dòng sản phẩm vân sần Hệ vân nàyđược tạo sần với công nghệ cao đưa sản phẩm sàn gỗ trở nên tự nhiên hơn, gần gũi hơn với người sử dụng

+ Một điểm đáng quan tâm của người tiêu dùng đến các sản phẩm sàn gỗ công nghiệp là chất lượng và độvững chắc của các khóa nối, thông thường trên thị trường phổ biến các loại khóa nối đơn hoặc 2 click Tuy nhiênhiện nay trên thị trường cũng đã xuất hiện công nghệ khóa nối V hay khóa nối 3 chiều, hiện đang được sử dụng cho

hệ sàn gỗ thế hệ mới trên các thị trường châu Âu và Mỹ

+ Sàn gỗ công nghiệp thực sự là thành tựu công nghệ vật liệu vượt trội mang đến cho người tiêu dùng sự ẩm

áp, thân thiện với tự nhiên của gỗ tự nhiên đồng thời mang độ bền, vững chắc của sàn gạch, đá Trong trang trí nộithất hiện đại hay cổ điển, sàn gỗ công nghiệp với những màu sắc tuyệt hảo luôn luôn phù hợp với mọi phong cách và

là phông nền hữu hảo góp phần làm tăng độ sang trọng của không gian cũng như những đồ nội thất đặt trên nó

Trang 7

+ Chống cháy: khó bắt lửa và có khả năng chống cáy cao ngay cả khi bạn làm rơi điếu thuốc đang cháy xuốngsàn.

Sàn gỗ công nghiệp thường có 4 lớp:

- Lớp vật liệu đặc biệt (Melamine resins) trong suốt, có tác dụng ổn định lớp bề mặt, tạo lên lớp bề mặt vữngchắc, chống nước, chống xước, chống va đập, chống phai màu, chống sự xâm nhập của các vi khuẩn và mối mọt,chống lại các tác dụng của hoá chất và dễ dàng lau chùi và bảo dưỡng

- Lớp phim tạo vân gỗ tự nhiên: Lớp vân gỗ này được lớp thứ nhất bảo vệ nên luôn giữ được màu sắc và vân

gỗ không thay đổi trong suốt quá trình sử dụng

- Lớp lõi bằng gỗ HDF được tạo thành bởi 80-85% chất liệu là gỗ tự nhiên, còn lại là các phụ gia làm tăng độcứng và kết dính cho gỗ

- Lớp tráng phía dưới của tấm ván sàn bằng vật liệu tổng hợp đặc biệt có tác dụng ổn định bề mặt dưới, chốngmối mọt, cong vênh, chống nước

Ưu điểm và hạn chế của sàn gỗ công nghiệp

Ưu điểm:

Giá thành phù hợp, so với gạch men chỉ đắt hơn một chút nhưng tính năng sử dụng, tính thẩm mỹ và độ sangtrọng thì hơn nhiều So với gỗ tự nhiên thì rẻ hơn nhiều nhưng tính năng sử dụng, tính thẩm mỹ và độ sang trọngkhông những cũng tương đương mà còn đa dạng hơn vè màu sắc và không bị biến dạng theo thời tiết

Lắp đặt nhanh, sạch sẽ và có thể sử dụng ngay sau khi lắp đặt Mầu sắc đa dạng, có nhiều kiểu vân gỗ rất tựnhiên và sang trọng Ít bị trầy xước, mài mòn, không bị phai màu

Không bị mối mọt, cong vênh, co ngót dưới tác động của thời tiết Chịu nhiệt độ cao, hạn chế bén lửa, chốngcháy đối với tàn thuốc lá Chống bám bẩn, vệ sinh dễ dàng Tạo lên một môi trường sống có lợi hơn cho sức khoẻ

Hạn chế: Cũng như gỗ tự nhiên, sàn gỗ công nghiệp có khả năng chịu nước không cao bằng gạch men, mặc

dù đã được phủ lớp chống nước cho cả hai mặt, nhưng nếu sàn bị ngập nước do mưa hoặc nước tràn từ ngoài vào.Các mối ghép có thể bị ngấm nước và nở ra, làm cho sàn bị phồng lên và các mối ghép không còn được khítnhư trước

Chính và vậy độ bền của sàn gỗ phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng

Chỉ nên dùng khăn / ghẻ ướt để vệ sinh sàn, không nên đổ cả xô nước lên sàn để rửa sàn, không nên để nướcmưa hắt hoặc tràn vào sàn

Cách lựa chọn sàn gỗ công nghiệp

Hầu hết mọi người mua sàn gỗ công nghiệp đều đối mặt với việc phải lựa chọn trong số rất nhiều loại sànkhác nhau

Với kết cấu mộng đơn (phải dùng keo) hoặc mộng kép (không phải dùng keo), với các loại lõi HDF, MDF,hoặc một loại đặc biệt nào đó, với các loại màu sắc và vân gỗ khác nhau, với các phân loại cho từng mục đích sửdụng và các mức độ chống xước khác nhau

Bạn lưu ý là rất dễ nhận thấy biểu tượng phân loại trên bao bì sản phẩm, đó là dấu hiệu rõ nhất cho biết sảnphẩm có phù hợp với nhu cầu sử dụng hay không, bởi vì chúng khác nhau, nếu loại sàn dùng cho phòng khách,phòng ngủ hoặc cầu thang

Sàn ở phòng khách được sử dụng thường xuyên hơn ở phòng ngủ, cầu thang được sử dụng nhiều hơn ở phòngkhách

Chính vì vậy điều quan trọng khi chọn mua sàn gỗ là chọn dúng dòng sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng

Sàn gỗ tự nhiên: Thường đuợc làm từ các loại Gỗ: Căm Xe, Gõ Đỏ, Sồi, Chò Chỉ, Cheery (Soan Đào) Ash, Pơmu,

Giáng Hương, được hình thành sản phẩm qua quá trình sao tẩm, xử lý So với sàn gỗ công nghiệp, sàn gỗ tự nhiên

có khả năng chống xước thấp hơn, dễ bị ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm không khí nhưng có vẻ đẹp củavân gỗ tự nhiên mang lại sự sang trọng cho căn phòng

Giá thi công của sàn gỗ tự nhiên thường là cao, thông thường từ 300.000-950.000đ/m2 tuỳ loại Phổ biến vàđược ưa chuộng là các loại sàn gỗ tự nhiên với chủng loại, mẫu mã, màu sắc phong phú Kích thước mỗi tấm thôngthường là 90 x 750 (hoặc 900, 600) x15 mm (rộng x dài x dày) được sơ chế, định hình theo tiêu chuẩn, tẩm sấy, xử lý

Trang 8

chống mối mọt, cong vênh, sau đó hoàn thiện bằng Sơn UV Sàn gỗ tự nhiên có tính thẩm mỹ cao với nhiều màusắc, vân gỗ mong muốn, hợp với thị hiếu của người sử dụng.

Mỗi loại gỗ chỉ có một loại vân mầu, sự lựa chọn chỉ giới hạn trong một số loại gỗ nhất định Cũng như sàn gỗcông nghiệp, sàn gỗ tự nhiên cũng mang đến vẻ đẹp và sự sang trọng cho căn phòng Nhưng do hạn chế và nguồnnguyên liệu gỗ tự nhiên nên sự đồng nhất về chất liệu và màu sắc còn hạn chế

Đối với sàn gỗ tự nhiên việc lau chùi bảo dưỡng khó khăn hơn sàn gỗ công nghiệp do vẫn còn khe hở giữa cácmối ghép

Tính cơ động không cao, việc sửa chữa, thay thế kho khăn do sàn gỗ tự nhiên thường liên kết bằng mộng đơn,phải sử dụng thêm đinh hoặc keo để kết nối

C Đồ mộc truyền thống: Gỗ được dùng cho đồ mộc truyền thống có nhiều loại, chủ yếu là các loại gỗ quí,phần lớn là các loại gỗ xếp ở nhóm I trong bảng phân loại gỗ tạm thời như hiện tại Cũng có một vài loại gỗ thuộccác nhóm khác từ nhóm II đến nhóm V Các loại gỗ này có nhiều ưu điểm nổi trội về tính chất cơ - lý; độ mịn bềmặt; màu sắc hay vân thớ đẹp …Tuỳ theo mục đích sử dụng của từng loại sản phẩm mà người ta thường lựa chọnnhững loại gỗ thích hợp nhất cho từng loại sản phẩm đó Ví dụ, đồ để thờ cúng có yêu cầu chịu lực không cao, nhưngđòi hỏi gỗ có tỷ trọng không cao, có sự co rút thấp, đễ gia công tạo hình, và gỗ phải được cảm nhận là thanh sạch,người ta chọn gỗ mít

Các loại gỗ: Cẩm lai (Dalbergia Oliveriti/Dalbergia bariensis/Dalbergia dongniensis…); Cẩm thị (Diospiros siamensis); Dáng hương (pterocarpus pedatus/ pterocarpus cambodianus….); Hương tía (Pterocarpus…); Gõ đỏ hay cà te (Pahudia cochinchinensis ); Gụ/ Gụ mật/ Gụ lau (Sindora cochinchinensis/Sindora

Tonkinensis…); Hoàng đàn (Cupressus funebrus); Huê mộc (Dalbergia sp); Mun sừng (Diospiros mun ); Mun sọc

( Diospiros sp); Muồng đen (Cassia seamea ); Pơ mu (Fokienia hodginsii ); Sơn huyết (Melanorrhoea laccifera); Trắc (Dalbegia chochinchinensis/Dalbergia fusca/…); Mít (Artocarpus integrifolia …)

2.1.5 Một số giải pháp nâng cao chất lượng gỗ

a Chống cháy cho gỗ và sản phẩm gỗ

* Xử lý chống cháy cho sản phẩm

- Ngâm tẩm chất chống cháy: có: phương pháp tẩm mao mạch (đưa dung dịch chất chống cháy lên bề mặt sản

phẩm), tẩm khuyết tan (đưa chất tẩm nhão, tẩm panem, ngâm trong dung dịch chất chống cháy) và tẩm áp lực

- Phương pháp phun quét chất chống cháy: Phương pháp này đơn giản dễ thực thi Tuy nhiên, cũng có nhược

điểm, như: khả năng chống rửa trôi của chất chống cháy kém Các chất chống cháy dùng trong phương pháp nàythường là các chất hữu cơ hoặc các chất vô cơ kết hợp cùng với các loại keo dán

- Phủ bề mặt bằng các màng chất chống cháy: Để chống cháy cho ván, ta phủ lên bề mặt ván màng chống

cháy, như màng sơn, keo (P-F, U-F, U-M-F…)

- Phương pháp ép nhiệt

Cách 1: Trải đều chất chống cháy dạng bột lên bề mặt ván Sau đó tiến hành ép nhiệt Dưới tác động của áp

suất, nhiệt độ, chất chống cháy nóng chảy và thấm vào trong ván

Cách 2: Quét dung dịch chất chống cháy lên bề mặt ván Sau đó tiến hành ép nhiệt cho chất chống cháy

thấm vào trong ván

* Xử lý chống cháy trong quá trình sản xuất tạo sản phẩm

- Phun chất chống cháy riêng và phun keo riêng: Tiến hành trộn keo riêng và trộn chất chống cháy riêng Sau

đó, phun dung dịch chất chống cháy vào dăm đã được sấykhô (độ ẩm 2-3%) Sau khi phun chất chống cháy 10-15phút, tiến hành phun keo Phương pháp này dễ thực thi, khả năng chống cháy tốt Tuy nhiên, do sấy dăm đến độ ẩmquá thấp, dăm rất dễ bị gãy vụn, ảnh hưởng đến độ bền của ván

- Phương pháp xử lý dăm gỗ Ngâm dăm gỗ trong dung dịch chất chống cháy hoặc trộn chất chống cháy dạng

bột vào dăm ẩm Như vậy, chất chống cháy sẽ hút nước của dăm ẩm và thấm vào dăm Sau khi chất chống cháy thấmđều vào dăm, ta sấy dăm đến độ ẩm theo yêu cầu của công nghệ và tiến hành phun trộn keo

- Cho chất chống cháy vào công đoạn trải thảm dăm.

- Cho chất chống cháy vào trong mạng keo U-F, P-F, M-F: Trong quá trình điều chế các loại keo, ta cho các

chất chống cháy vào Các chất chống cháy sẽ liên kết vào mạng phân tử của keo dán

Trang 9

- Đưa các hoá chất không cháy vào trong ván Ta đưa các hoá chất như ximăng, thạch cao, amiăng… vào

trong ván tạo ra các loại ván tương tự như ván ximăng Phương pháp này chỉ được dùng cho một vài loại ván, do ảnhhưởng các chất này đến màu sắc của ván

- Phương pháp trộn chất chống cháy vào dung dịch keo Đầu tiên, hoà tan chất chống cháy vào nước Sau đó,

trộn dung dịch chất chống cháy vào keo dán Sau khi trộn đều hai dung dịch, tiến hành phun hỗn hợp keo và chấtchống cháy vào dăm

* Các chất chống cháy

- Chất chống cháy vô cơ.

+ Chất chống cháy hệ P-N Gồm có: các muối amôni (NH4+), NH4H2PO4, (NH4)2SO4, NH4Cl, (NH4)2HSO4,(NH4)2B4O7, NH4Br,…

+ Muối bazơ Gồm có các chất: Na2CO3, CaCO3, MgCl2, CaCl2, Na2SO4, Ca3(PO4)2, MgBr2, …

+ Hợp chất kim loại Gồm có : ZnCl2, Al2(SO4)3, AlCl3, LiCl…

+ Chất chống cháy Bo Nhóm Bo gồm có: H3BO3, Na2B4O7.10H2O, NH4HB4O7.3H2O, [NH4:C(NH2)2]HBO4, các hợp chất Bo của natri (Na) và amôni nhiều bậc

+ Chất chống cháy nhóm Halozen Nhóm này gồm có các chất chứa các nguyên tố: F, Cl, Br, I

- Các loại keo có khả năng chống cháy Gồm có: U-F, M-F, U-M-F, P-F, U-P-F Các loại keo này đều có

tính chống cháy nhất định

- Chất chống cháy hữu cơ Gồm có: clogarafin (sản phẩm chứa clo của các hydrocacbon có 10-30 nguyên tử

cacbon); tetrametynolfoclorua (HOCH2)4PCl) (sản phẩm của PH3, formaldehyde và NH4Cl); tri(b-cloety)-photphat[(ClCH2CH2O)3P-O], Focfazen (là các chất có các liên kết hoặc thẳng với các nhóm P-N; các chất photphat hữu cơđược tạo ra khi cho urê, mêlanmin, dixandiamide phản ứng với axít photphoric …

- Chất chống cháy dạng màng: Gồm có: màng sơn, màng giấy tẩm keo (phenolic, melamin…), các tấm cách

nhiệt…

b Ổn định kích thước gỗ

- Xử lý chống ẩm: Phủ lên bề mặt một loại chất phủ hoặc dán một lớp vật liệu lên mặt Gỗ khi đã được xử lý

phủ bề mặt, cũng như khoác lên một màng bảo vệ, ngăn cách gỗ với không khí, nước, ánh sáng và các loại dung dịchkhác hay côn trùng, nấm mốc và vật bẩn không cho trực tiếp tiếp xúc, nhưng điều quan trọng hơn là làm chậm tốc độkhuyếch tán của không khí ẩm xâm nhập vào gỗ, ức chế sự hút hơi nóng, từ đó mà giảm bớt sự tổn thất đến mức độthấp nhất do trương nở hay co rút gây nên, loại phương pháp này gọi là che phủ bề mặt Vật liệu che phủ thườngdùng là sơn phenol - formaldehyde, nitro cellulose…

- Xử lý Paraffin: Đem nhựa paraffin phân tử lượng thấp thấm vào gỗ, gia nhiệt làm cho phản ứng tiếp diễn,

cứng hoá mà hình thành nhựa nhiệt rắn, kích thước gỗ được xử lý ổn định, các tính chất khác cũng được cải thiện

- Xử lý Poyetilenglycol: Gỗ được xử lý ngâm tẩm quét Polyethylenglycol rất có hiệu quả làm giảm sự trương

nở, co rút của gỗ, phòng ngừa sự biến dạng, cong vênh, nứt vỡ do nguyên nhân trên gây nên Polyethylenglycol được

sử dụng rộng rãi trong việc bảo quản gỗ cổ xưa

- Xử lý gia nhiệt: Dưới tác động của nhiệt độ cao thì tính hút nước của gỗ giảm đi, độ pH của gỗ giảm đi và

cường độ cơ học của gỗ tăng hay giảm còn tuỳ theo mức nhiệt độ và thời gian tác động

Gia nhiệt làm phát sinh thay đổi hoá học mà hình thành cao phân tử có tính hút ẩm kém, đồng thời gia nhiệtlàm cho mất nước hấp phụ, giữa cá khoảng cách chuỗi phân tử của vùng phi kết tinh trong cellulose vách tế bào gầnlại hình thành kết hợp cầu Hydro mới Khi xử lý nhiệt 200 - 2600C cho sợi cello - lignin thì độ trương nở và hút nướccủa sợi giảm đi nhiều do sự biến đổi của lignin và mối liên kết lignin - cellulose (các phân tử lignin xẽ bị kết tụ lạidưới tác động của nhiệt độ), đồng thời khi ở nhiệt độ đó, làm thành thứ cấp của tế bào bị phân đoạn nhiều, đó lànguyên nhân làm giảm cường độ gỗ khi xử lý nhiệt độ từ 200 - 2600C

- Acetol hóa: Acetol hoá gỗ là dùng dịch Acetol để lắng đọng gốc CH3CO- thay thế gốc -OH thân nước trong

gỗ, do có sự xâm nhập của gốc CH3CO- làm sản sinh hiệu ứng tăng thể tích (Bulking Effect) Nhân tố làm cho gỗ xử

lý ổn định kích thước là gốc -OH giảm đi, gốc CH3CO- tăng thể tích, so sánh giữa chúng thì tính quyết định là hiệuứng tăng thể tích

Khi xử lý Acetol hoá dùng Acid Acetic khử một phân tử nước, phản ứng theo công thức dưới đây:

Trang 10

Wood-OH + (CH3CO)2 → Wood-OCOCH3 + CH3COOH

- Xử lý Cyanate: Cyanat hóa là dùng Cyanat tác dụng với gốc OH của gỗ sinh ra phản ứng, trên cơ sở đó mà

ổn định được kích thước của gỗ

- Xử lý Formol: Dùng Acid mạnh hoặc xúc tác muối vô cơ dùng hơi Formol (FA) để xử lý vật liệu Cellulose

do phản ứng liên kết giao nhau của Formol, làm cho các chuỗi phân tử Cellulose tăng thêm cầu nối, từ đó dưới điềukiện tỷ lệ tăng trọng thấp có thể làm cho vật liệu xử lý đạt được tỷ lệ trương nở cao

c Phương pháp Polime phức hợp (WPC): Sau khi đưa vào gỗ một số cao phân tử phân tử lượng thấp hoặc

carbua hydro không bão hoà có cầu đôi Lợi dụng năng lượng của tia chiếu xạ, chất xúc tác gia nhiệt mà làm cho cáchóa chất trên kết hợp với gỗ và đóng rắn lại, gỗ được làm như vậy được gọi là gỗ polyme phức hợp, polyme hoặcviết tắt WPC

So với gỗ nguyên liệu, WPC có chỉ tiêu cơ hoặc cao hơn nhiều và chịu mài mòn tốt, bề mặt đẹp, sử dụngthuận tiện, bền và là một loại vật liệu xây dựng tốt Ở châu Âu, Nhật và một số nước phát triển WPC đã được bántrên thị trường một cách phổ biến

Dung dịch nhựa dùng ngâm tẩm gỗ chủ yếu có: Styrene (ST), CrotonicAcid (MMA), Acrylonitrile (AN), đơnthể thuộc họ C4H4, nhựa không bão hoà UPE, nhựa phân tử bậc thấp C3H6

d Nâng cao khối lượng thể tích : Khối lượng thể tích là tính chất vật lý rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực

tiếp đến tính chất cơ lý của gỗ nó quyết định chất lượng của gỗ trong quá trình sử dụng

Gỗ là vật liệu đàn hồi tự nhiên, trong điều kiện nhất định nó có thể phá hủy kết cấu; Khi gỗ được dẻo hóarồi có thể nén chặt để tăng khối lượng thể tích tăng tính chất cơ học của gỗ đã xử lý

2.2 Các giải pháp trang sức bề mặt gỗ

- Trang sức bằng thủ công: Phương pháp này có từ lâu đời, rất phổ biến ở nước ta, phù hợp với điều kiện sản

xuất nhỏ Trang sức thủ công có: quét, nhúng, bôi,…

- Trang sức bằng cơ giới: gồm có: phun bằng khí nén, thuỷ lực, điện trường, mạ, quét cơ giới, tiếp xúc,

nhúng, rót, phun áp lực,… Trang sức cơ giới năng suất cao và phù hợp với sản xuất lớn, chất lượng bề mặt rất tốt,hạn chế đến mức tối thiểu vấn đề gây ô nhiễm môi trường

2.3 Các vật liệu trang sức gỗ và sản phẩm từ gỗ

2.2.2 Các vật liệu dạng lỏng

+ Tự nhiên (dầu lanh, dầu gai, sơn ta, nhựa thông, sáp ong, dầu tếch, cao su, )

+ Động vật: Cazein

+ Tổng hợp: Các loại nhựa tổng hợp được tạo ra từ các phản ứng hoá học

- Chất phủ trùng ngưng: P-F, U-F, M-F, P-U, polyester (P-E), polyamide (P-A), epoxy, polyureatan (P-U),

- Trùng hợp: Polyvinylclorua, peclovinyl, polyvinylaxetat (PVAc), polyacrylat, polymetacrylic (PMMA),polyestyrene (PS), polyvinylalkohol (PVAL),

- Các chất nitrate của cellulose: Nhóm chất này được sử dụng rộng rãi đề tạo ra các chất trát matít, tạo nền,sơn màu, sơn trong suốt,

2.3.2 Các vật liệu dạng tấm và màng

a Giấy tẩm keo: Giấy tẩm keo là loại giấy được tạo bởi các loại giấy gốc được tẩm keo và sấy Các loại

nhựa thường dùng để sản xuất giấy tẩm keo là U-F, M-F, U-M-F, P-F, Điểm khác biệt của nhựa dùng để sản xuấtgiấy tẩm keo có độ đa tụ thấp hơn so với nhựa cùng loại dùng để dán dính

b Ván lạng gỗ: Ván lạng gỗ có những tính chất cơ bản giống với chủng loại gỗ tạo ra nó Song ván lạng rất

mỏng nên dễ rách, hút ẩm và mốc Vì vậy, khi bảo quản và sử dụng ván lạng gỗ cần hết sức chú ý

Ván lạng gỗ thường có độ ẩm 4%, độ nhẵn bề mặt từ 4 - 8 Phạm vi biến động của chiều dày ván lạngrất lớn, loại dày có thể 3mm, loại mỏng có thể chỉ là 0.05mm Thông thường ván lạng gỗ có chiều dày 0.6 - 0.8mm.Ván loại này được gọi là ván lạng phổ thông Khi chiều dày ván mỏng nhỏ hơn 0.5mm gọi là ván mỏng định hình.Khi độ dày ván mỏng nhỏ hơn 0.2mm gọi là ván siêu mỏng Ván này có chiều dày rất mỏng, để ngăn ngừa hiệntượng rách ván và tiện lợi cho quá trình sử dụng, mặt trái của ván lạng thường được dán lên một lớp giấy

Trang 11

c Tấm trang sức: Là các tấm cứng dùng để dán phủ lên bề mặt sản phẩm mộc hoặc ván nhân tạo Tấm

trang sức có tấm nhựa PVC, PVAc, các tấm polyester, tấm từ nhựa melamine cốt giấy

Đặc điểm của tấm trang sức là bề mặt bóng, phẳng, rất nhiều loại họa tiết, cứng, chịu mài mòn, chịu nhiệt,nước, bền, sử dụng dễ dàng So với ván lạng tổng hợp tấm trang sức có chiều dày lớn hơn nhiều và chỉ ở dạng tấm.Điểm giống nhau của hai loại ván lạng tổng hợp và tấm trang sức là khi dán lên bề mặt ván nền cần phải dùng keo

Vì vậy chúng được dùng làm vật liệu dán mặt có tính năng tốt, như: kiến trúc, đồ mộc, xe cộ, tàu thuyền, hàng không

án trên ván là rất đẹp, có chiều sâu, màu sắc phong phú

Chủng loại ván mỏng căn cứ vào hình thức để phân loại có: Ván mỏng tự nhiên, ván mỏng tổ hợp, ván mỏng

ép lớp, ván mỏng nhuộm màu và cuộn ván mỏng Căn cứ vào loại cây có theo tên gọi của gỗ Ván mỏng dán mặtthường dùng trong các công trình kiến trúc có ván Shuiquliu; Ván fengmu; Các họa tiết đồ án thường như sau (hình2.1)

Công nghệ sản xuất ván mỏng dán mặt là: Sản xuất ván mỏng  Chuẩn bị

- Trong quá trình vận chuyển tránh bị mưa gió và va chạm Khi xếp phải bằng phẳng ngay ngắn

- Trong cùng mặt phẳng được trang sức, cần phải chú ý vân thớ và màu sắc của ván phải nhất trí hài hoà, thoảmãn yêu cầu trang sức

- Khi thi công trang sức mặt đứng, phải chú ý đặt đầu có dấu ký hiệu (đầu gốc) xuống phía dưới

- Nếu ghép đồ án hoạ tiết phải bảo đảm gọn nhất trí

2.4.2 GỖ DÁN

Gỗ dán là đem gỗ tròn bóc thành ván mỏng qua xử lý sấy rồi được dán lại với nhau theo số lẻ tấm và có chiềuvân thớ vuông góc với nhau

Trang 12

Gỗ dán là một loại chế phẩm gỗ được dùng rất nhiều trong công trình trang sức, diện tích của 1 tấm tương đốilớn, nhẹ, có thể uốn cong, đồng tính cao, co giãn ít, bề mặt mỹ quan và cường độ cao, không dễ bị cong vênh.Căn cứ vào loại cây có thể phân gỗ dán thành gỗ dán lá rộng và cây lá kim Căn cứ vào chất lượng công nghệgia công gỗ phân thành hạng “I, II, III”

Bảng 2.1: Quy cách thường dùng của gỗ dán (mm)

-Yêu cầu chất lượng của gỗ dán đó là cường độ, độ ẩm, chất lượng ngoại quan và khuyết tật

<1> Cường độ của gỗ dán: Cường độ dán dính không thấp hơn 1,0 MPa

<2> Độ ẩm: Độ ẩm không vượt quá 17%

<3> Chất lượng ngoại quan: Không cho phép gỗ bị phồng rộp, sót keo và cạnh ván có khuyết tật, trong vánkhông nên có dính kẹp tạp chất làm ảnh hưởng cho sử dụng, độ vênh không vượt quá 1%-2%

<4> Quy định về khuyết tật: Yêu cầu khuyết tật chất gỗ phân biệt của ván dán cây lá rộng và lá kim phân biệtghi trong bảng 2.2 và 2.3

Bảng 2.2: Yêu cầu khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá rộng Khuyết

tật Hạng mục kiểm tra

Ván mặt

Mặt trái Hạng gỗ dán

đậm màu

10Kẹp vỏ sáng màukhông tính

màu

Chú ý: 1 Gỗ hoa cho phép có tâm giả

2 Sự khác màu gỗ giác lõi của gỗ mạch vòng, trên ván loại 1 rất nhẹ

3 Đốm ban tuỷ tính theo các vết, gỗ hạng 2 không được tập trung

Khe nứt

Độ dài, mm

Chú ý: 1 Ván hạng 1, 2 không cho phép có vết nứt sơ sợi tập trung

2 Gỗ hoa, gỗ lá rộng làm gỗ dán khe hở có thể được mở rộng ra

Không tập trung được

Trang 13

Bảng 2.3: Quy định khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá kim

Khuyết

tật gỗ Hạng mục kiểm tra

Ván mặt

Mặt trái Hạng gỗ dán

Khônghạn chếDưới 5mm không tính

Trang 14

Bảng 2.4: Yêu cầu ngoại quan và quy cách ván sợi ép cứng và vừa

Dài x rộng

(mm x mm)

Độ dày (mm) Tên khuyết tật

Ván sợi ép là đem tất cả cành ngọn, bìa, dăm bào và phế liệu, qua băm, ngâm, nghiền thành bột gỗ, trộn keo,qua ép nhiệt thành hình, sau khi xử lý sấy khô để trở thành ván sợi Căn cứ vào mật độ bề mặt khác nhau của ván sợi

mà phân thành ván sợi ép cứng, ván sợi ép vừa và ván sợi ép mềm Do mức độ hút nước của ván sợi ép mềm tươngđối lớn, mà trong công trình trang sức chủ yếu sử dụng ván sợi ép cứng và vừa Ván sợi ép cứng có loại 1 mặt nhẵn

và có loại 2 mặt nhẵn

Ván sợi ép cứng và vừa có thể được dùng để làm ốp chân tường, vách ngăn và ván nền của đồ mộc, ván sợi épvừa và mềm có thể dùng làm vật liệu hút âm cách nhiệt

2.4.3.2 Ván dăm

Ván dăm được hình thành bởi sự liên kết các dăm gỗ lại với nhau nhờ keo trong điều kiện các thông số chế độ

ép nhất định Ván dăm là lấy gỗ dư thừa trong quá trình gia công gỗ (như dăm bào, gỗ vụn, ) qua sấy sau đó trộnkeo và được ép thành ván Căn cứ vào phương thức hình nàh ván mà phân thành ván dăm ép đùn, ván dăm ép phẳng

và ván dăm ép cán

Ván dăm nhẹ, cường độ thấp, cách âm, bảo ôn, bền lâu, chống sâu mọt Nó thích hợp dùng để làm mặt tườngnội thất, vách ngăn trần, ván nền cho trang sức

Tính năng kỹ thuật và quy cách thông thường của ván dăm được chỉ ra ở bảng 2.5 và 2.6

Bảng 2.5: Quy cách kích thước của các loại ván dăm (mm)

19, 22, 25, 30, ……

1000 2000 Chỉ với máy ép nhiệt hiện có

Chú ý: 1 Căn cứ vào hợp đồng có thể sản xuất quy cách khác

2 Những ô có “” là quy cách tham khảo

Bảng 2.6: Tính năng kỹ thuật của ván dăm

-Chú ý: 1 Phần độ dày trên 25 mm, cường độ uốn tĩnh phải thấp hơn giá trị trong bảng 15%

2 Ván ép bằng kết cấu 1 lớp thì cường độ kháng kéo bề mặt tăng lên so với giá trị trong bảng 20%.

Trang 15

Độ dày mm

Tính năng kỹ thuật

Độ ẩm: 10  3%

19 Độ dày 16mm không thấp hơn 15

22 Độ dày < 16mm không thấp hơn 12

- 1220 - 1830 2135 2440 1220 25 Cường độ cắt màng keo không thấp hơn 1

Chú ý: <1> Độ dài của ván mộc tính theo dọc thớ của gỗ lõi <2> Theo thoả thuận có thể sản xuất kích thước khác <3> Độ dài và rộng của ván chỉ cho phép dung sai dương +5mm.<4> Tính năng cơ học của ván dán mặt cho gỗ lõi theo quy định của bảng 2.7.<5> Lõi ván mộc, cường độ uốn tĩnh theo hướng ngang như bảng 7.9 cộng thêm 10 MPa.

Dung sai cho phép các kích thước và yêu cầu chất lượng của ván mộc, xem bảng 2.8 và 2.9.

Trang 16

Bảng 2.8: Quy định chất gỗ của ván mộc

Khuyết

tật

Hạng mục kiểm tra

Ván mặt

Mặt trái Hạng ván mộc

1Dưới 2mmkhông tính

50Dưới 4mm không tính

Kẹp màu nhạtKẹp màu đậm

1010Không tính kẹp

vỏ nhạt màu

4020

Chú ý: 1 Gỗ hoa cho phép có tâm giả

2 Sự khác biệt màu gỗ giác lõi của gỗ mạch vòng lõi phân biệt, căn cứ vào màu nhạt biến

Không tập trung dày đặc

Mục Tổng diện tích chiếmkhông quá % Không cho phép 1 Không được nát30

Bảng 2.9: Dung sai kích thước cho phép của ván mộc

Tên Ván đánh nhẵn Dung sai cho phép Ván chưa đánh nhẵn

Độ dày danh nghĩa

Trang 17

Hình 2.2: Hình thức mối ghép của ván sàn dạng thanh

a Ghép mòi; b Ghép âm dương; c Ghép đầu ván lệch nhau

b

Hình 2.3: Đồ án ghép hoa của các miếng ván sàn

1 Ghép hoa vuông; b Ghép vuông chéo; c Ghép chữ “λ?””

2.4.4 GỖ VÁN SÀN: Gỗ ván sàn căn cứ vào hình thức để phân thành dạng thanh và dạng miếng Độ rộng của ván

sàn dạng thanh thông thường không vượt quá 120mm, độ dày 20-30mm, dài 0,5-4,0m Mối ghép của dạng thanhthường là ghép mòi và ghép âm dương như hình 2.2 đã chỉ Khi thi công dùng đinh đóng trực tiếp vào phần khungxương, phần đầu ván phải để lệch nhau Sau khi đã lát xong đợi 1 thời gian sau đạt độ ổn định mới tiến hành đánhbóng, đánh xi Loại ván sàn này nhẹ, đàn hồi tốt, cảm giác chân dễ chịu, dẫn nhiệt kém, dễ vệ sinh lau chùi

Ván sàn dạng miếng còn gọi là ván sàn cải hoa, nó dùng những miếng gỗ nhỏ được ghép lại với nhau theonhững phương khác nhau, thành các loại đồ án khác nhau, như chỉ ra ở hình 2.3 Chất gỗ của ván sàn dạng miếngthường là gỗ cứng là hình vuông cạnh dài 250-300mm, dày 20-25mm, các cạnh đều có mộng mòi Vân thớ hoa văncủa ván sàn dạng miếng thường rất đẹp, tính trang sức mạnh, chịu mài mòn, biến dạng ít Có thể dùng keo dán trựctiếp các miếng ván sàn lên bê tông

Gỗ làm ván sàn có chất gỗ mềm (như gỗ Thông, gỗ Sha mu) thường nên dùng keo nhựa tổng hợp để quét phủ.Nếu là gỗ cứng thường hay dùng sơn trong để quét phủ Ván sàn gỗ chủ yếu trang sức mặt sàn, công sở, khách sạn,gia đình,

2.4.5 CÁC LOẠI VÁN TRANG SỨC KHÁC

a Ván dán tre nứa: Ván dán tre nứa là đem các nen tre nứa, ván mỏng tre nứa được tẩm keo dán lên nền gỗ

dán, thu được sản phẩm trang sức Loại ván này có tính dẻo dai, chống ẩm ướt, có phong cách chịu nhiệt chịu lạnh,vân thớ đẹp, trang nhã, có phong cách dân tộc chất phác, mà độ cứng và cường độ đều cao hơn gỗ Tính gia công của

nó cũng rất tốt có thể cắt gọt, bào cạnh, khoan lỗ

Căn cứ vào số lớp để phân loại loại ván này có ván 2 lớp, 3 lớp, 4 lớp, lớp, 7 lớp, quy cách của nó là1800mm960mm2,5-13mm Loại ván dán tre nứa được sử dụng làm trần nhà, vách ngăn, cửa, bề mặt thườngdùng sơn trong để quét phủ

b Ván nhân tạo dán giấy in vân hoa: Ván nhân tạo dán giấy in vân hoa là dùng giấy trang sức có in vân gỗ

hoặc đồ án, dán lên bề mặt gỗ nền sau đó dùng keo quét phủ xử lý mà thu được ván Ván loại này có tính trang sứctốt, màu sắc tươi sáng, có độ sâu, sản xuất đơn giản, sử dụng thuận tiện, có thể tiến hành gia công cưa, khoan, chịu ốbẩn, nước nhưng tính chịu mài mòn và độ sáng kém

Ván nhân tạo dán giấy in vân hoa tiến hành cố định bởi đinh, thanh nẹp ép và keo dán Ván sau khi đã đượclắp đặt có thể không cần phun quét vecny Trong quá trình tồn trữ, vận chuyển, tránh sự va chạm với vật cứng nhằmtránh sự tổn hại đến bề mặt Ván này được dùng để chế tạo đồ mộc trang sức tường và trần nội thất

c Ván sàn gỗ phức hợp: Ván sàn gỗ phức hợp là lấy ván sợi ép vừa hay ván gỗ làm gỗ nền sau đó dùng chất

dẻo chịu màu mòn đặc biệt để phủ lên bề mặt tạo nên loại ván này Nó có khả năng chịu nhiệt cao, chịu ố bẩn, chịu

Ngày đăng: 28/12/2021, 10:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hoạ tiết đồ án ghép ván mỏng - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.1 Hoạ tiết đồ án ghép ván mỏng (Trang 11)
Bảng 2.2: Yêu cầu khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá rộng - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.2 Yêu cầu khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá rộng (Trang 12)
Bảng 2.1: Quy cách thường dùng của gỗ dán (mm) - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.1 Quy cách thường dùng của gỗ dán (mm) (Trang 12)
Bảng 2.3: Quy định khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá kim - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.3 Quy định khuyết tật chất gỗ của gỗ dán lá kim (Trang 13)
Bảng 2.4: Yêu cầu ngoại quan và quy cách ván sợi ép cứng và vừa - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.4 Yêu cầu ngoại quan và quy cách ván sợi ép cứng và vừa (Trang 14)
Bảng 2.6: Tính năng kỹ thuật của ván dăm - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.6 Tính năng kỹ thuật của ván dăm (Trang 14)
Bảng 2.5: Quy cách kích thước của các loại ván dăm (mm) - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.5 Quy cách kích thước của các loại ván dăm (mm) (Trang 14)
Bảng 2.7: Tính năng kỹ thuật và quy cách ván mộc - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.7 Tính năng kỹ thuật và quy cách ván mộc (Trang 15)
Bảng 2.9: Dung sai kích thước cho phép của ván mộc - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Bảng 2.9 Dung sai kích thước cho phép của ván mộc (Trang 16)
Hình 2.3: Đồ án ghép hoa của các miếng ván sàn - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.3 Đồ án ghép hoa của các miếng ván sàn (Trang 17)
Hình 2.4: Hình dạng và kích thước phào thường dùng - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.4 Hình dạng và kích thước phào thường dùng (Trang 18)
Hình 2.5: Cấu tạo mặt cắt ngang tấm thạch cao chìm - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.5 Cấu tạo mặt cắt ngang tấm thạch cao chìm (Trang 29)
Hình dạng của tấm thạch cao chìm là vuông, bốn cạnh mặt sau làm dày thêm, hình thức mặt cắt cạnh bên có vuông góc và góc vát được chỉ ra ở hình 2.5 - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình d ạng của tấm thạch cao chìm là vuông, bốn cạnh mặt sau làm dày thêm, hình thức mặt cắt cạnh bên có vuông góc và góc vát được chỉ ra ở hình 2.5 (Trang 30)
Hình 2.7: Kết cấu mặt cắt ngang giấy vải dán tường - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.7 Kết cấu mặt cắt ngang giấy vải dán tường (Trang 31)
Hình 2.8: Kết cấu tấm dán tường kim loại - BÀI GIẢNG MÔN HỌC VẬT LIỆU NỘI THẤT
Hình 2.8 Kết cấu tấm dán tường kim loại (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w