1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương Bài soạn môn Tài chính công

69 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Chính Công
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 606,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính côngBài soạn môn Tài chính công

Trang 1

I KHÁI NIỆM:

PHẦN I BÀI 01

TÀI CHÍNH CÔNG

Khi đề cập đến Hoạt động Tài chính công là đề cập đến việc tạo lập – phân phối

– sử dụng lợi ích mà NN thu được bằng quyền lực NN để thực hiện chức năng quản lý XH & bảo đảm sự tồn tại của mình

Bắt nguồn từ quan hệ sở hữu khác nhau thì dẫn đến hệ quả pháp lý sẽ khác nhau giữa công &

tư, theo đó Quỹ tiền tệ công được tạo lập cho NN, thông qua hệ thống bộ máy quản lý NN = các CQNN trong bộ máy có chức năng cụ thể thì Nguồn lực TCC sẽ được chia ra cho các Nhóm lợi ích trong NN

đó Cho nên việc dùng tiền trong quỹ TCC phải được thiết lập chặt chẽ, quản lý được tránh tình trạng lạm quyền giữa các Nhóm lợi ích trong NN đó, điều này khác với hoạt động & quản lý quỹ tài chính

Tư VD: Các DN có quyền sử dụng nhiều nguyên vật liệu cho một SP hoàn thành hoặc thưởng cho

nhân viên cao… nhưng không thể hạch toán toàn bộ vào chi phí đó để tính thuế, do phải tuân theo định mức mà NN cho phép

Cách thức thực hiện hạch toán của Hoạt động TCC phải bằng tiền, là thước đo của giá trị, không

được hạch toán bằng hiện vật, ngày công lao động VD: Khi NN tịch thu các tang tài vật, có khi tiêu

hủy hoặc xung công… Khi xác lập Tài sản vô chủ như nhà ở, hiện vật, quốc hữu hóa… thuộc quyền

sở hữu NN thì thu bằng hiện vật nhưng khi hạch toán phải quy giá trị bằng Tiền tại thời điểm thu được

Chủ thể tiến hành phải là NN, tuy nhiên NN phải thông qua hệ thống Cơ quan cụ thể trong bộ máy của mình, đại diện cho quyền lực NN được quy định quyền hành, chức năng thực hiện hoạt động

TCC cụ thể để tiến hành các hoạt động tạo lập – phân phối – sử dụng các quỹ TCC VD: Trong các CQ

thuế có quyền Thu thuế cho NN nhưng được chia lại, phân bổ lại kinh phí để chi trả lương cho cán bộ

- công chức ngành Thuế…

Cơ sở phát sinh trên cơ sở hành vi tạo lập – phân phối – sử dụng Quỹ tài chính công & được phân thành nhiều Quỹ cụ thể Quỹ Ngân sách NN, Quỹ BHXH, dự trữ NN, dự trữ tài chính… Quỹ hỗ trợ thiên tai, xóa đói giảm nghèo… xuất phát từ NSNN nhưng được lập cho những Mục đích cụ thể

Mục đích của Hoạt động TCC nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản lý NN, đáp ứng nhu cầu lợi ích của toàn XH Mỗi NN khác nhau thì ứng với chế độ chính

Trang 2

trị - XH khác nhau dẫn đến chức năng khác nhau & điều này biến động theo thời gian & tùy vào sự biến động về bản chất của các QHXH, QH quốc tế… cho nên việc tạo lập & tiêu tiền của NN sẽ phụ thuộc vào việc NN chú trọng đến & thực hiện chức năng nào của mình Hơn nữa, việc thực hiện hoạt động TCC để duy trì trật tự, công bằng, phúc lợi XH của quốc gia nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình

tránh tình trạng xung đột lợi ích giữa các Nhóm lợi ích, bị lật đổ, thất bại của NN đó VD: Những năm

90s, NN chú trọng việc thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài vào VN bằng chính sách tài chính tác động đến lợi ích của NĐT nước ngoài & được hưởng Thuế lợi tức (Thuế TNDN) 25% trong khi đó NĐT trong nước phải chịu thuế 32%, chênh lệch 7% mặc dù NĐT nước ngoài mạnh về vốn, công nghệ…

NN chủ trương thí các DN trong nước để đổi lại thu hút công nghệ của nước ngoài để có thể đuổi kịp

sự pháp triển của các quốc gia khác trên TG mặc dù công nghệ đó cũng đã lỗi thời so với nước ngoài nhưng mới so với VN Cho nên dẫn đến việc nhiều DN Việt Nam bị DN nước ngoài thâu tóm như Coca Cola thâu tóm Tribeco, Lix bán lại một phần thị phần cho Unilever…

+ Tài chính công bao gồm:

1 Quỹ tiền tệ chung là Quỹ NSNN để thực hiện những mục đích nhất định của NN Khi tiền

thu không đủ chi thì NN phải đi vay, hình thành nên khoản nợ công, theo đó pháp luật thiết lập cơ chế

để cho phép NN đi vay & tạo lập những khoản nợ công theo quy định của PL cụ thể VD: phát hành trái

phiếu ngoại tệ, nội tệ; vay chính phủ khác… để duy trì bộ máy NN cầm quyền, ổn định trật tự XH trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đặc biệt những quốc gia có nền KT kém phát triển không đủ nguồn thu để

bù đắp chi cho quốc gia & trả nợ cho chính phủ khác như Hy Lạp, Iceland phải cần Liên minh Châu

âu hỗ trợ ưu đãi tránh tình trạng phá sản chính phủ

2 Khi tồn tại thì sẽ có những rủi ro không thể lường trước được, nếu các DN có Quỹ dự phòng

thì NN cũng phải dự phòng khi có những tình huống bất ổn xảy ra thì NN sẽ ở vào tình thế khó khăn, cho nên dự trữ tài chính quốc gia, mặc dù được thiết lập trên sổ sách bằng Tiền nhưng có thể chuyển

đổi thành những hình thái vật chất VD: NN thiết lập quỹ dự trữ TC quốc gia với tổng giá trị thành Tiền

là X & mua hàng hóa để dự trữ phòng trường hợp Thiên tai, địch họa xảy ra như lúa gạo, mì gói, nhu yếu phẩm, thuốc men… để viện trợ khẩn cấp cho những nơi đang trong tình trạng khẩn cấp

3 Ngoài ra, để tạo lập những quan hệ để duy trì XH thì NN còn lập ra những Quỹ tài chính

ngoài ngân sách, nghĩa là có nguồn gốc từ NSNN & được NN phân bổ vào các Quỹ để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, mục đích cụ thể & tách riêng ra khỏi

Trang 3

ngân sách VD: Quỹ dự trữ tài chính, Quỹ phòng chống thiên tai, Quỹ BHXH, Quỹ xóa đói giảm

nghèo…

4 Bản thân hoạt động TCC không phải do NN chung chung thực hiện mà được phân bổ cho

các CQ, đơn vị trong bộ máy NN thụ hưởng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ NN được phân bổ, cho

nên tạo lập nên Tài chính của các Cơ quan, đơn vị VD: ĐH Luật Tp.HCM là tổ chức đơn vị sự nghiệp

muốn thực hiện được nhiệm vụ sự nghiệp của mình là GD – ĐT thì phải thực hiện việc thu học phí, kết chuyển về kho bạc NN & phải làm thủ tục lập dự toán NSNN, xuất toán… để nhận kinh phí hoạt động

từ ngân sách để trả lương cho cán bộ, nhân viên, chi dùng trong hoạt động của mình…

2 Nội dung

+ Hoạt động Tạo lập quỹ TCC = hoạt động Thu ngân sách, bao gồm thuế, phí, lệ

phí…

+ Hoạt động Phân phối – Sử dụng quỹ TCC = hoạt động Chi ngân sách VD:

Phân bổ cho bộ máy NN tại địa phương như UBND, HĐND… từ cấp tỉnh đến cấp xã Khi thực hiện thành công thí điểm bỏ HĐND cấp xã tại các TP lớn để giảm chi ngân sách cho việc trả lương, giải quyết vấn đề bộ máy cồng kềnh nhưng khi áp dụng cho toàn quốc thì gặp khó khăn khi tại các địa phương không phát triển, không có công ăn việc làm như các Tp lớn thì không giải quyết được vấn đề việc làm cho lượng nhân sự dư thừa làm nảy sinh các vấn đề xã hội khác & cần phải được giải quyết bằng ngân sách Suy cho cùng, mục đích chính của các hoạt động TCC nhằm ổn định XH, mặc dù giảm cồng kềnh của bộ máy làm phát sinh hệ quả nợ công có thể giảm, thu ngân sách nhiều nhưng phải chi dùng cho những vấn đề xã hội phát sinh có khi còn nhiều hơn! Cho nên các hoạt động TCC là vấn đề mấu chốt cho cân đối NSNN thông qua những quyết định bội chi, vay nợ… phụ thuộc nhiều vào vấn

đề kinh tế - XH Trong năm 2017, Tp.HCM bị cắt giảm phân bổ từ 22% xuống còn 18% trên tổng thu ngân sách,

Trang 4

còn lại phải chuyển về TW để phân bổ lại (Cấp bổ sung) cho các địa phương kém phát triển khác không

có nguồn thu như Bắc Cạn, Cao bằng… tại các địa phương này xảy ra trường hợp làm lơ cho các DN trốn thuế, mặc dù biết vì nếu ép quá thì họ không còn hoạt động & không có việc làm cho người dân

& không thu được ngân sách…

+ Mục đích của hoạt động TCC luôn luôn hướng đến việc thực hiện chức năng & nhiệm vụ

của NN, ảnh hưởng đến mức độ điều tiết trong các Quy phạm pháp luật về TCC, dẫn đến việc thay đổi

mức độ điều chỉnh trong các QPPL thay đổi liên tục VD: Thuế suất VAT thay đổi có lợi (5%) cho các

lĩnh vực ưu đãi về lương thực – thực phẩm, dịch vụ khám chữa bệnh; Dự kiến điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của NLĐ là người tạo ra lợi ích cho XH…

+ Về mặt pháp lý của hoạt động TCC chịu sự điều chỉnh của Luật Công là QPPL mà trong đó

NN tham gia với tư cách là chủ thể quyền lực & chi phối toàn bộ hoạt động này & sự bình đẳng, thỏa

thuận rất hiếm khi xảy ra VD: Trong quan hệ Thuế thì người nộp thuế không thể từ chối đóng thuế,

nếu không thực hiện nghĩa vụ Thuế khi có Lợi ích thì sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự… Hoặc quyền lực NN hạn chế quyền chi thêm, thưởng nhiều hơn của các Đơn vị trong bộ máy NN bởi

vì TCC là tài sản thuộc quyền sở hữu của NN

III VAI TRÒ CƠ BẢN TRÊN GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT:

1 TCC là công cụ để huy động nguồn tài chính bằng pháp luật như xác lập các quy phạm pháp

luật về Thuế, phí, lệ phí, thu nhập… có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập nguồn tài chính của NN

2 TCC là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bởi vì TCC tác động vào các quan hệ lợi ích từ

quan hệ kinh tế, sản xuất, kinh doanh… bằng cách chi tiền cho các quan hệ này thì NN có thể thực hiện chức năng chi phối, thao túng các quan hệ này VD: Khi NN thu Thuế với mức thuế suất giảm dần, DN được giữ lại thêm tiền để tái sản xuất kinh doanh, tái đầu tư, mở rộng hoạt động SX – KD làm cho quy

mô nền kinh tế được mở rộng làm tăng thu Ngân sách NN…

3 TCC là công cụ tạo lập công bằng xã hội, bởi vì TCC tác động vào các quan hệ lợi ích & phân phối lại, xác lập lại lợi ích mà các chủ thể trong XH tạo ra bằng các Thu hoặc Chi VD: Thu thuế

TNCN của người có thu nhập nhiều hơn so với người có thu nhập ít hơn, có thể do họ may mắn hơn… Chi cho xóa đói giảm nghèo… Người dân Đông Timo không được đối xử bình đẳng thì họ tạo ra những cuộc các mạng làm cho Indonesia chậm phát triển hết 10 năm so với trước đây…

Trang 5

4 Vai trò kiểm tra, giám sát của TCC điều tiết vào các quan hệ lợi ích thì NN sẽ nắm được các

quan hệ lợi ích diễn ra như thế nào? Hiệu quả ra làm sao? vô hình trung thì NN sẽ kiểm tra, giám sát

được các quan hệ lợi ích trong toàn bộ đới sống XH & điều tiết một cách hiệu quả VD: Khi thu Thuế

thì NN sẽ biết DN kinh doanh hiệu quả nhu thế nào, Giám sát các quan hệ lợi ích trong XH, hoạt động thực thi các quy phạm pháp luật ra làm sao…

IV HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CÔNG:

1 Căn cứ vào chủ thể quản lý trực tiếp:

NN thực hiện chức năng quản lý thông qua Hệ thống cơ quan được phân bổ & thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhất định, được phân thành 03 nhóm:

i) Tài chính công tổng hợp: HĐTC được quản lý chung bởi cơ quan quản lý NSNN & các

quỹ tiền tệ khác của NN, cụ thể là Bộ Tài chính thực hiện quản lý tiền, điều phối tiền phục vụ cho bộ máy NN tồn tại & điều tiết tiền vào các Quỹ nhằm thực hiện những mục đích cụ thể của NN

TCC tổng hợp tồn tại & hoạt động gắn liền với việc tạo lập & sử dụng các quỹ tài chính công nói chung, cụ thể hàng năm khi NN muốn phân bổ nguồn lực tài chính cho các Đơn vị trong bộ máy

NN vận hành thì BTC sẽ căn cứ vào Dự toán NSNN để thực hiện quản lý & phân bổ tiền cho các cơ

quan ban ngành VD: ĐH Luật Tp.HCM trực thuộc Bộ GD – ĐT để hưởng kinh phí hoạt động từ ngân

sách NN thì hàng năm phải lập Dự toán & trình cho Bộ GD – ĐT, sau đó Bộ GD – ĐT sẽ tổng hợp & trình cho BTC & BTC sẽ trình cho QH quyết định… Sau khi được duyệt thì BTC sẽ tiến hành chuyển ngân cho Đơn vị để xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị… trong dự toán

ii) Tài chính của các Cơ quan hành chính nhà nước: là những đơn vị quản lý, cơ quan hành

chính NN, bởi vì đây là các đơn vị quản lý cho nên không thể tạo ra các nguồn thu cho NSNN mà hoạt động chủ yếu tập trung vào việc vận hành bộ máy NN được thuận lợi, đúng theo chức năng, nhiệm vụ

được giao Cho nên hoạt động TCC chủ yếu tại các cơ quan này thường là thụ hưởng & chi dùng VD:

UBND phường thiện hiện hoạt động chứng thực, sao y bản chính… mặc dù có thu nhưng giá trị thu rất thấp! chỉ đủ chi dùng cho hoạt động đóng dấu, ghi sổ… không tạo nguồn thu chính cho NN

iii) Tài chính của các Đơn vị sự nghiệp công lập: là những đơn vị hoạt động sự nghiệp phục

vụ cho một mảng hoặc lĩnh vực nào đó của đời sống như Giáo dục, Y tế, Kinh tế… Bên cạnh hoạt động chi dùng thì còn khả năng tạo lập nguồn thu khá lớn

Trang 6

VD: Hệ thống trường Công lập tiến hành thu học phí, lệ phí tạo lập nguồn thu khá lớn cho NN Nhưng

hiện tại, đặc biệt trong lĩnh vực GD – ĐT thì các cơ sở công lập được thiết lập khá nhiều dẫn đến hiện trạng cạnh tranh với nhau để tạo nguồn thu cho NSNN & đặc biệt cho chính mình

2 Căn cứ vào nội dung quản lý:

Trong hệ thống TCC luôn quan tâm đến việc làm thế nào quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng lạm quyền của các nhóm lợi ích trong bộ máy nhà nước, cho nên NN sẽ quan tâm đến việc quản lý TCC về nội dung theo hướng cách thức tạo lập – phân chia các lợi ích, cụ thể:

i) Quản lý Ngân sách nhà nước: hoạt động NSNN sẽ tạo ra một Quỹ tiền tệ gọi là Quỹ NSNN

có giá trị lớn nhất của một quốc gia, tập trung vào cho một chủ thể duy nhất là NN, chi phối hoạt động của toàn bộ bộ máy NN, bao gồm 02 mảng:

+ Thu ngân sách nhà nước;

+ Chi ngân sách nhà nước

Nhằm hướng đến việc tạo lập, phân chia các lợi ích thu được & tỷ lệ chi trả cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động này

ii) Quản lý Tín dụng nhà nước: Khi NN thiếu tiền thì sẽ đi vay hoặc khi NN muốn hỗ trợ cho

các chủ thể khác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong quá trình tồn tại của NN thì NN sẽ tiến hành cho vay Cho nên trong nội dung này thì NN chủ yếu quản lý 02 công tác:

+ Việc nhà nước đi vay;

+ Việc nhà nước cho vay

Trong đó, việc đi vay có thể vay trong nước như phát hành trái phiếu CP hoặc vay nước ngoài như phát hành trái phiếu quốc tế Ngược lại, trong những lĩnh vực NN muốn hỗ trợ hoặc ưu tiên phát triển thì NN sẽ tiến hành hoạt động cho vay, gồm cho vay trong nước & nước ngoài nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các quốc gia nhất định trong các vấn đề liên quan đến ngoại giao, an ninh quốc gia…

iii) Quản lý Tài chính công ngoài NSNN: Quỹ ngoài NSNN được hình thành để phục vụ

cho những chức năng, nhiệm vụ cụ thể - đặc thù của NN, theo đó đây là một Quỹ có những đặc điểm sau:

+ Mang tính độc lập so với Quỹ NSNN;

+ Nhưng vẫn thuộc sở hữu của NN

Trang 7

VD: Quỹ dự phòng nhà nước dùng để xử lý những tình huống, biến động bất thường không thể

dự liệu trước được (thiên tai, dịch bệnh, địch họa, lũ lụt…) trong quá trình hoạt động của NN được tạo lập trong Dự toán NSNN hàng năm, tức là Dự toán NSNN phải được lập trước năm thực hiện Dự toán…

1 Đối tượng điều chỉnh:

Ngoài ra, nội dung của TCC còn được xác lập trong Hiến pháp liên quan đến nghĩa vụ nộp Thuế của các chủ thể… thể hiện rõ quyền lực NN trong xác lập lợi ích, theo đó hoạt động TCC sẽ điều chỉnh

03 nhóm quan hệ chủ đạo bằng việc ban hành các QPPL cụ thể:

i Quan hệ về phân cấp quản lý TCC: do là tiền của NN cho nên phải chia sẻ cho nhiều nhóm

lợi ích trong XH có nhà nước đó, theo đó NN phải tiến hành chia quyền tránh việc các chủ thể này tranh giành, lợi dụng vị thế để hưởng lợi ích hơn nhóm khác

ii Quan hệ về tạo lập các nguồn lực TCC: do nguồn lực tài chính phải do con người trong

XH tạo lập nên cho nên NN bằng quyền lực của mình để cưỡng chế các chủ thể để tạo lập nguồn lực TCC cho mình thông qua việc Thu Thuế, phí, lệ phí, quốc hữu hóa, thu hồi đất…

iii Quan hệ về phân phối, sử dụng các nguồn lực TCC: NN hình thành những QPPL để

điều chỉnh các quan hệ này nhằm phân phối lại những lợi ích thu được trong quá trình tạo lập các quỹ TCC

2 Phương pháp điều chỉnh:

i Phương pháp mệnh lệnh: thể hiện quan hệ bất bình đẳng giữa NN và các chủ thể còn lại,

áp đặt ý chí của mình lên các chủ thể còn lại, phủ khắp trong hoạt động TCC Nếu chủ thể khác không

thực hiện đúng theo quy định của NN sẽ bị xử lý vi phạm, cưỡng chế thi hành… VD: ĐH Luật Tp.HCM

muốn thực hiện sửa chữa hệ

Trang 8

thống máy lạnh thì phải lập dự toán gồm nhiều công đoạn như thanh lý, mua mới, lắp đặt… & phải tổ chức đấu thầu, mở thầu, bỏ thầu… và phải thực hiện đầy đủ các giai đoạn theo Luật định

ii Phương pháp bình đẳng thỏa thuận: nhằm đảm bảo, tôn trọng, công nhận quyền sở hữu

hợp pháp của các chủ thể thì NN phải thực hiện phương thức này để điều chỉnh một số quan hệ như Đi vay bằng cách chào bán trái phiếu trong nước & nước ngoài…

II QUAN HỆ PHÁP LUẬT TÀI CHÍNH CÔNG:

1 Khái niệm:

Là Quan hệ pháp luật ngay từ lúc hình thành bởi vì trong đó một bên luôn luôn là nhà nước do

đó NN cần phải thiết lập những QPPL ngay từ đầu để tạo ra những lợi ích cho mình chứ không ai tự

giao tài sản mình có cho NN, cho nên khi không có Luật thì không thể điều chỉnh VD: Trước 2012,

do NN không ban hành Thuế BVMT cho nên không thể thu loại Thuế này được… Thưởng cho cán bộ công chức không vượt quá mức quy định mặc dù mức thưởng không xứng đáng với thành quả bỏ ra… Khi mua xe ô tô thì không vượt quá định mức mua xe công cho từng đơn vị trong bộ máy NN…

2 Các yếu tố cấu thành: i

Chủ thể:

a) Một bên là Nhà nước, chủ thể NN là một thực thể rất rộng cho nên chủ thể thực sự chủ yếu đại diện NN tham gia vào QHPLTCC là Bộ Tài chính, cơ quan quản lý tài chính NN được NN phân giao quyền

Ngoài ra còn có những chủ thể khác trong bộ máy NN cũng tham gia vào QHPLTCC nhưng

không được giao quyền đại diện NN để quản lý NN trong lĩnh vực TCC VD: Cơ quan BHXH chỉ quản

lý quỹ BHXH trong chức trách của mình nhưng BTC vẫn là cơ quan quản lý tổng thể quỹ này…Quỹ xóa đói giảm nghèo, dự phòng ngân sách cũng như vậy…

b) Một bên còn lại là Tổ chức, cá nhân không quan tâm đến độ tuổi, năng lực chủ thể, tư cách

pháp nhân hay không, mà bất kỳ ai có lợi ích bị điều chỉnh bởi QHPLTCC này thì sẽ là chủ thể bên

kia (khác với Dân sự, Hình sự…) VD: Bất kỳ ai

Trang 9

trúng số độc đắc thì lợi ích đã hình thành & sẽ bị điều chỉnh bởi PLTCC về nộp thuế thu nhập… Hộ nghèo được hỗ trợ ưu đãi khi vay vốn, xóa đói giảm nghèo…

Trong đó, bao gồm cả những Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước không nhân danh NN trong lĩnh vực quản lý TCC, mà nhân danh chính mình để thụ hưởng nguồn kinh phí từ NSNN để bảo đảm

hoạt động của chính mình VD: Cục Thuế Tp.HCM vừa tham gia QHPLTCC để thụ hưởng, chia sẻ

nguồn kinh phí từ NSNN để đảm bảo hoạt động quản lý NN của mình…

ii Khách thể:

Lợi ích vật chất mà các bên mong muốn đạt được khi thiết lập QHPLTCC, nhằm nhận biết được cách thức điều chỉnh của QHPLTCC Bởi vì, về phía NN mong muốn đảm bảo việc chi dùng để duy trì sự tồn tại của mình Về phía các tổ chức, cá nhân còn lại mong muốn tạo lập những lợi ích nhất định khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mình cho NN để hưởng sự bình ổn trong XH mà nhà nước đó đang tồn tại

iii Nội dung:

Tùy vào từng các QHPLTCC cụ thể mà các bên sẽ có những quyền & nghĩa vụ cụ thể Tuy nhiên, do đa phần QHTCC là quan hệ mang tính bất bình đẳng cho nên chủ thể NN sẽ luôn là chủ thể

có nhiều quyền hơn chủ thể còn lại Thậm chí một số QHTCC chủ thể còn lại chỉ có Nghĩa vụ mà không có Quyền, thể hiện rõ trong Hiến pháp theo đó mọi công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế cho NN cho nên QHTCC không được xem là quan hệ song vụ theo đó quyền & nghĩa vụ của các bên đối ứng

nhau VD: Trong quan hệ Thuế thì các quyền được Miễn, giảm, ưu đãi, hoàn lại (khi nộp thừa) Thuế

VAT… không phải là quyền công dân mà chỉ là quyền phái sinh khi thực hiện nghĩa vụ rồi thì mới được quyền đó và phải làm thủ tục xin phép NN để hưởng quyền này

3 Quản lý tài chính công: i

Khái niệm:

Là hoạt động của hệ thống CQNN tác động vào quá trình tạo lập – phân phối – sử dụng các quỹ tiền tệ của NN nhằm thực hiện các mục tiêu & nhiệm vụ của NN thông qua một quá trình cụ thể:

- Lập kế hoạch: NN là một thực thể gồm nhiều bộ phận cho nên phải thực hiện lập kế hoạch

để đảm bảo nguồn tài chính để tồn tại Cụ thể như việc lập dự toán cho năm tiếp theo…

Trang 10

- Tổ chức: tổ chức thực hiện Dự toán vừa lập, phân bổ chức năng, nhiệm vụ cho từng chủ thể

cụ thể

- Điều hành: triển khai việc thực hiện Dự toán vừa lập ở từng cấp, từng đơn vị

Tiến hành theo những thủ tục, trình tự, quy chế trách nhiệm cụ thể

- Kiểm soát: Thanh tra NSNN / Kiểm toán NN sẽ tiến hành thực hiện chức năng này phù

hợp với pháp luật

Quy trình quản lý TCC hướng đến 02 vấn đề, cụ thể:

+ Thu các quỹ tiền tệ của NN;

+ Chi các quỹ tiền tệ của NN

ii Đặc điểm:

a Loại hình quản lý nhà nước, bởi vì NN phải duy trì lợi ích của chính mình để đảm bảo sự

tồn tại của mình, tồn tại song song với các loại hình quản lý khác như QLNN về đất đai, QLNN về tiền

tệ, QLNN về SX – KD…

b Thực hiện bởi hệ thống CQNN & tuân thủ các quy định của PL, bởi vì để thực hiện được

chức năng quản lý NN về TCC phải căn cứ trên các quy định của PL về Trao quyền, cho phép, không cho phép, xử lý vi phạm…

c Phương thức quan trọng điều tiết nguồn lực tài chính nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NN, bởi vì nếu không có quản lý thì các nguồn lực tài chính sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát

của NN mà trước tiên là vấn đề vỡ nợ quốc gia dẫn đến đình trệ hoạt động của CP và quốc gia

iii Nguyên tắc:

- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: toàn bộ lợi ích xác lập được thông qua pháp luật về TCC

được quy về một đầu mối là NN, bởi vì điều này sẽ tạo ra một nguồn lực tài chính đủ lớn để chi phối các QHXH khác, tránh tình trạng manh múng tiền dẫn đến tình trạng sức mạnh tài chính không đủ lớn

VD: Tiền thu được từ các nguồn lực trong XH sẽ quy tụ về Kho bạc NN kết chuyển vào quỹ NSNN

Hơn nữa, mỗi địa phương có những đặc thù KT-XH-CT khác nhau, cho nên NN không thể áp dụng các quy định giống nhau liên quan đến việc tạo lập nguồn thu hoặc chi sẻ lợi ích được, do đó sẽ

có những quy định thống nhất tập trung trên quy mô toàn quốc gia nhưng sẽ có những quy định thì NN

sẽ trao quyền cho các ĐP tự xác định quan hệ của mình hoặc NN quy định phù hợp với địa phương đó

VD: Các khoản tiền thu được từ đất thì địa phương được giữ lại toàn bộ 100% để sử dụng, cho nên NN

quy

Trang 11

định Giá đất sẽ do UBND Tỉnh quy định trên cơ sở tự chủ, xem xét tình hình đời sống của người dân, tình hình KT-XH… tại địa phương để quyết định

- Nguyên tắc hiệu quả chi phối hoạt động TCC, bởi vì hoạt động quản lý TCC liên quan đến

lợi ích vật chất do đo nếu không làm phát sinh phát sinh thêm lợi ích mà còn sụt giảm thì sẽ làm cho mong muốn mà các bên tham gia quan hệ TCC không đạt được & lợi ích vật chất mà NN mong muốn không đạt được Cho nên trong quá trình hoạt động TCC phải đảm bảo nguyên tắc này bằng cách các

CQNN quản lý phải tạo ra giá trị sinh lợi VD: Hiện nay, nếu nâng thuế suất Thuế TTĐB đối với thuốc

lá thì NN mong muốn đạt được mục đích tăng thu cho NSNN & còn hạn chế tác hại thuốc lá cho XH… nhưng trong khảo sát thực tế thì không hiệu quả, bởi vì khi thuế suất tăng thì việc buôn lậu sẽ gia tăng

& làm ảnh hưởng đến ngành sản xuất chính thống, khi đó thuế suất tăng cao làm cho hàng hóa chính thống không cạnh tranh được về giá dẫn đến việc không bán được & đặc biệt tạo cơ hội cho các ngành kinh doanh không chính thống phát sinh: thuốc lá lậu tràn lan thị trường…

- Nguyên tắc thống nhất nhằm đảm bảo sự bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ TCC thể

hiện ở chỗ đối với những chủ thể như nhau trong điều kiện, hoàn cảnh như nhau thì sẽ được áp dụng

các mức độ điều chỉnh giống nhau VD: Đối với hộ nghèo dù ở địa phương nào, khi thỏa mãn đầy đủ

các điều kiện về hộ nghèo, cận nghèo… thì sẽ được xét hưởng chính sách ưu đãi tương đương với điều kiện quy định Hoặc Thuế VAT 10% áp dụng cho các VP luật sư ở toàn quốc…

- Nguyên tắc minh bạch & công khai, bởi vì lợi ích vật chất mà NN thu được là lợi ích chung

của các nhóm lợi ích cùng chung mục đích duy trì NN, cho nên đòi hỏi tính minh bạch trong các giao dịch liên quan đến TCC để các thành tố trong bộ máy NN có thể tự giám sát lẫn nhau & phải đặt ra những quy định trong pháp luật về việc công khai thông tin, lập dự toán, niêm yết thông tin công khai như thế nào… đối với một số chủ thể nhất định

iv Nội dung:

1 Quản lý Ngân sách nhà nước:

+ Quản lý hệ thống ngân sách nhà nước, phải quản lý hệ thống bởi vì NSNN bao trùm toàn

bộ vùng lãnh thổ của một quốc gia, mà mặt quản lý NN diễn ra trên đơn vị nhỏ nhất (cấp xã, phường)

& NN phải phân chi lợi ích đến cấp quản lý NN này NN phân chia hệ thống quản lý NSNN thành:

- Cấp ngân sách TW;

- Cấp ngân sách Địa phương

Trang 12

Nhằm mục đích chia để trị & để quản lý hiệu quả thì NN phải phân tầng quản lý, đồng thời nhằm mục đích phân tầng chia sẻ lợi ích từ TW đến địa phương Theo đó:

- Cấp NS TW sẽ quản lý bao quát toàn bộ 64 tỉnh thành, bao gồm tất cả đơn vị tại TW

như Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, các Bộ và CQ ngang bộ… không gắn liền với một địa hạt hành chính nào cả, mà thường thiết lập trụ sở chính (đại bản doanh) tại Thủ đô

- Cấp NS Địa phương tương ứng cấp Tỉnh / thành phố trực thuộc TW, trong đó bao

gồm 03 đơn vị hành chính địa phương: cấp Tỉnh, cấp Huyện, cấp Xã & chia sẻ lợi ích vật chất từ NSNN

để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý được phân bổ

Hệ thống ngân sách nhà nước được thiết lập phụ thuộc vào hệ thống chính trị của một quốc gia, tại VN là mô hình nhà nước đơn nhất cho nên được thiết lập một cách đơn nhất & thống nhất từ TW đến địa phương Bên cạnh đó, tại các nhà nước Liên bang như Mỹ, Đức… thì sẽ phân cấp theo cách thức khác biệt, do diện tích của một ban thường rất lớn tương đương một quốc gia cho nên điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị đặc thù thường khác nhau do đó các bang thường có những quyền hạn riêng trong việc thiết lập các nghĩa vụ tài chính, hoạt động TCC ở các bang cụ thể

+ Quản lý phân cấp nguồn thu / khoản chi:

- Nguồn Thu: giúp xác định mức độ lợi ích được thụ hưởng của từng cấp ngân sách &

căn cứ vào yếu tố công bằng để xác định:

i) Khoản thu 100% là khoản thu mà một cấp NS được hưởng toàn bộ, cho dù cách

thức thu như thế nào

VD: Trong Luật NSNN, toàn bộ thuế XK – NK thu tại địa phương (cửa khẩu) trên toàn lãnh

thổ sẽ chuyển nộp toàn bộ về NS của TW, đây là khoản thu 100% của TW hoặc thu về Dầu khí sẽ kết chuyển toàn bộ về NS TW, do có những địa phương không có nguồn tài nguyên này (không có cửa khẩu) cho nên để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng thì tất cả nguồn thu này sẽ kết chuyển toàn

bộ về TW

Ngược lại, tất cả khoản thu về Đất, tài nguyên sẽ là nguồn thu 100% của Địa phương do từng địa phương đều có đất đai & tài nguyên tương đồng nhau

ii) Khoản thu điều tiết là khoản thu được điều tiết theo tỷ lệ nhất định giữa cấp trên &

cấp dưới, cụ thể là cấp TW & Địa phương NN phải điều tiết bởi vì giá trị của khoản thu này tại các địa phương không giống nhau, xuất phát từ điều kiện kinh tế của họ khác nhau!

Trang 13

VD: Nguồn thu từ Thuế VAT, TTĐB, TNDN, TNCN… đối với các hoạt động nội địa tại các

Tỉnh thành lớn thường cao hơn các tỉnh thành còn lại cho nên tùy giá trị thu được mà TW sẽ điều tiết chuyển về NS TW theo tỷ lệ khác nhau Như Tp.HCM bị điều tiết theo tỷ lệ 7:3, tức là Tp.HCM chỉ được giữ là 3 để phục vụ hoạt động quản lý NN tại địa phương & phải chuyển phần còn lại lên NS cấp

TW Tại Hà Nội là 6:4, các tỉnh khó khăn sẽ được áp dụng tỷ lệ 0:10, thu được bao nhiêu giữ lại toàn

bộ để chi dùng trong tỉnh bởi vì chủ yếu sản xuất nông nghiệp, nhưng không phát triển, lĩnh vực SX -

KD không phát triển… thậm chí còn không đủ kinh phí để hoạt động quản lý NN

iii) Khoản thu bổ sung là khoản thu của NS cấp trên dùng để hỗ trợ cho NS cấp dưới

do NS cấp dưới thiếu hụt nguồn NS để hoạt động quản lý NN, thu không đủ chi cho nên phải cần TW trợ giúp, mặc dù khó khăn nhưng vẫn phải duy trì bộ máy quản lý tối thiểu cụ thể vẫn cần phải có UBND tỉnh / huyện / xã, HĐND tỉnh / huyện / xã, MTTQ tỉnh / huyện / xã… Hơn nữa, các hoạt động Chi NSNN thuộc nhiệm vụ của cấp TW nhưng được thực hiện bởi cấp dưới, diễn ra trên địa bàn của

cấp dưới cho nên cấp trên phải bổ sung cho cấp dưới VD: Tại Tp.HCM đang tiến hành làm những con

đường lớn nối liền các quận làm phát sinh kinh phí bồi thường giải tỏa tại từng quận cho nên ngân sách của Tp.HCM phải chuyển bổ sung NS cho các quận tương ứng để thực hiện giải tỏa đền bù cho người dân

- Khoản chi:

i) Chi thường xuyên là khoản chi để duy trì hoạt động của bộ máy NN, mang tính chất

chi tiêu dùng, chi là hết

ii) Chi không thường xuyên là khoản chi vào các hoạt động như đầu tư – phát triển chiếm tỷ trọng lớn nhất & chú ý đến tính sinh lợi, thực hiện trả nợ chiếm tỷ trọng nhỏ VD: Khoản thu

được từ Thuế sẽ đối ứng khoản thu này với khoản chi thường xuyên Ngược lại, đối ứng khoản thu từ vay nợ với khoản chi không thường xuyên

+ Quản lý quỹ NSNN: thực hiện thông qua hoạt động quản lý của cơ quan Kho bạc nhà nước

Toàn bộ tiền thu được từ tất cả các nguồn được kết chuyển vào KBNN

2 Quản lý các quỹ TCC ngoài ngân sách: tương tự như quản lý NSNN nhưng đơn giản hơn

do những quỹ này được thiết lập nên để phục vụ cho những mục đích cụ thể:

Trang 14

+ Quản lý nguồn thu: việc tạo lập nguồn thu tương ứng với mục đích, tùy vào bản chất của

quỹ cụ thể mà nguồn thu sẽ khác nhau

+ Quản lý chi: từ mục đích chi phối việc chi tương ứng

+ Quản lý quỹ TCCNNS: thực hiện việc giữ quỹ

3 Quản lý nợ công:

+ Quản lý huy động vốn NSNN: Nợ vay (phát hành trái phiếu) & tiếp nhận nguồn vốn ODA

từ nhiều tổ chức quốc tế, tài chính… có thể được cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hoặc không có lãi suất

+ Giám sát: đã được quy định cơ chế pháp lý rất chặt chẽ và đầy đủ trong việc lập hồ sơ huy

động, quản lý, giám sát việc sử dụng vốn vay… tránh việc sử dụng lãng phí, không hiệu quả nguồn lực này!

+ Quản lý trả nợ: Khi NN đi vay chủ yếu vay bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ) & sẽ trả bằng tiền

Ngoài ra, các quốc gia chủ nợ cho VN vay còn cho phép trả nợ bằng hàng nhằm tạo ra nguồn dự trữ quốc gia cho các nước đó (chỉ quan hệ trả nợ giữa các quốc gia) Các DN thường tích cực hướng đến việc đấu việc SX hàng hóa để trả nợ cho chính phủ nhưng thường NN chỉ định thầu

4 Trách nhiệm, quyền hạn của bộ máy quản lý TCC:

i) Quốc hội: trong quản lý hoạt động TCC thì QH là cơ quan có quyền lực cao nhất & có quyền

quyết định, phê chuẩn các vấn đề liên quan đến Dự toán, Quyết toán, Dự án mang tính trọng điểm quốc

gia… được quy định cụ thể trong Luật NSNN VD: Việc phê chuẩn các Dự án Bô-xít, Dự án mỏ vàng,

Đặc khu kinh tế Phú Quốc đều liên quan mật thiết đến lợi ích chung của quốc gia cho nên phải do

QH quyết định

ii) Chính phủ: chủ thể điều hành chung hoạt động tài chính công & chuyển giao hoạt động

TCC cho Bộ Tài chính triển khai một cách cụ thể Những cơ quan cụ thể hơn thực hiện quản lý đối với các quỹ TCC nằm ngoài ngân sách như Cơ quan BHXH quản lý quỹ BHXH

iii) Cơ quan quản lý địa phương: bao gồm HĐND & UBND, theo đó HĐND cấp tỉnh có vai

trò tương tự như QH tại TW, có quyền phê duyệt Dự toán, quyết toán, các hoạt động đầu tư dự án trọng điểm & có quyền ban hành các quy định liên quan đến TCC trong việc xác định các mức phí, lệ phí…

VD: Thông qua mức thu phí, lệ phí

Trang 15

hoặc các khoản thu liên quan đến địa phương… nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương

UBND cấp tỉnh có vai trò tương tự như Chính phủ tại TW, có chức năng điều hành triển khai

các hoạt động TCC trong phạm vi Địa phương nhưng không phải CQ quyền lực nhà nước cho nên không có quyền như HĐND cấp tỉnh

HĐND & UBND cấp huyện, xã không có quyền lực như cấp tỉnh, bởi vì nguyên tắc thống

nhất trên cả nước mà quyền ban hành các mức điều tiết lợi ích chỉ dừng lại tại cấp tỉnh Bởi vì nếu trao quyền xác lập lợi ích đến cấp huyện, xã với một quy mô địa hạt nhỏ thì có thể tạo nên sự bất bình đẳng

giữa các chủ thể trong các vùng vị trí địa lý tương tự nhau VD: Quận 8 giáp ranh cửa ngõ từ Miền Tây

vào Tp.HCM, năm 2012 Chủ tịch UBND quận 8 nhận thấy tình hình dân nhập cư ngủ dọc vĩa hè vào ban đêm quá nhiều sau khi buôn bán ở khắp nơi đổ về thì mới ra quyết định thu phí ngủ 2,000đ/người/đêm do cơ quan dân phòng phụ trách thu để dễ quản lý tình hình cư trú… chưa bàn đến thẩm quyền ban hành quyết định nhưng trên thực tế việc triển khai thực hiện không khả thi bởi vì chỉ cần cách nhau một con đường & bên kia đường là thuộc địa hạt quận khác (quận 6, quận 4) thì không thể áp dụng được! Do đó cho thấy một điều phạm vi điều chỉnh quá hẹp sẽ tạo nên sự bất bình đẳng giữa các phạm vi hành chính nhỏ như cấp huyện, xã

PHẦN II BÀI 03

PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TCC

I GIỚI THIỆU CHUNG:

i) Khái niệm:

Thuế Hàng hóa – dịch vụ là loại thuế có đối tượng chịu thuế là hàng hóa – dịch vụ, bởi vì HHDV

là yếu tố vật chất cấu thành trong quan hệ liên quan đến hoạt động mua bán, tran đổi, nhập khẩu, xuất khẩu… Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nên hàng hóa – dịch vụ & mong muốn của NN điều tiết trên nhiều góc độ khác nhau thì sẽ hình thành nên những sắc thuế cụ thể Cho nên cùng một HHDV cụ thể

thì NN có thể ban hành nhiều sắc thuế khác nhau để điều tiết lên HHDV đó VD: Đối với xe hơi 05

chỗ ngồi nhập khẩu, khi thực hiện hành vi nhập khẩu thì hình thành giao dịch nhập khẩu & cho phép

NN điều tiết Thuế nhập khẩu, tiếp theo đó NN nhận thấy đây là SP đặc biệt

Trang 16

mà NN muốn hạn chế thì NN tiếp tục điều tiết lên chiếc xe Thuế TTĐB & sự xuất hiện của chiếc xe trên thị trường làm xuất hiện giá trị mới biểu hiện bằng chiếc xe cho nên NN tiếp tục điều chỉnh điều tiết lên chiếc xe này Thuế VAT

ii) Đặc điểm:

- Là Thuế gián thu, bởi vì Thuế này được thu thông qua đối tượng nộp thuế và người trả thuế

là người tiêu dùng HHDV đó thông qua việc trả giá cho HHDV mà họ mua & người bán HHDV đó sẽ thu Thuế này, sau đó nộp lại cho NN Thuế gián thu NN dễ thu hơn, bởi vì ít ra đối với người nộp thuế không thấy xót của khi không xem đó là tiền của mình & chỉ thu của người mua hàng và nộp lại cho

NN Bản thân người mua hàng do cần dùng HHDV cũng không ý thức đầy đủ việc phải trả thuế hàng

ngày, hàng giờ VD: Vụ Đông Nam liên quan đến việc kinh doanh ĐTDĐ, khi LS lập luận có lượng

tiền trốn thuế liên quan đến Thuế VAT, do Cty không thu được vì khách hàng không lấy hóa đơn, nếu lấy hóa đơn thì Cty phải xuất thêm 10% giá trị của ĐTDĐ & khách hàng phải bỏ thêm tiền để nộp thuế

Do đó, Cty không thu được tiền từ khách hàng cho nên không có tiền để nộp cho NN Như vậy, lượng tiền mà Cty trốn thuế sẽ làm xuống còn 2/3 so với lúc đầu & khung hình phạt sẽ được giảm

- Đối tượng chịu thuế là hàng hóa – dịch vụ, nhưng có những HHDV không thỏa mãn mục tiêu điều tiết của một sắc thuế cụ thể sẽ bị loại ra & khi đó được đưa vào quy định đối tượng không chịu

Thuế VD: Trong Thuế TTĐB đánh vào hàng xa xỉ như rượu bia, thuốc lá… còn thuốc chữa bệnh thì

không chịu sắc thuế này Nếu xuất khẩu hàng xa xỉ như rượu bia, thuốc lá… thì NN không có quyền hạn chế quyền tiêu dùng của người nước ngoài cho nên sẽ loại ra khỏi sự điều tiết của sắc thuế TTĐB

- Chỉ điều tiết những HHDV hợp pháp, nếu là hàng cấm (không hợp pháp) như ma túy, hàng buôn lậu… cho dù có mua bán, nhập khẩu… & tạo ra lợi nhuận thì Thuế không thể điều chỉnh, bởi vì bản chất là hàng không hợp pháp & sẽ bị tịch thu, tiêu hủy, xử lý trách nhiệm hành chính, hình sự…

- Hàng hóa – Dịch vụ hợp pháp nhưng chính hành vi tác động của con người làm cho hàng hóa – dịch vụ này trở thành bất hợp pháp, trong trường hợp hàng hóa tiêu dùng thông thường nhưng do

hành vi buôn lậu làm hàng hóa trở thành không hợp pháp VD: Việc cung cấp dịch vụ viễn thông là

bình thường nhưng Hành vi không xin phép cung cấp dịch vụ này không qua hệ thống viễn thông tại

VN là bất hợp pháp & tất cả lợi nhuận thu được… từ hoạt động kinh doanh này sẽ không điều tiết Thuế & sẽ bị tịch thu xung công, chủ thể kinh doanh bất hợp pháp sẽ bị xử lý hình sự…

Trang 17

iii) Vai trò:

Vai trò quan trọng của Thuế HHDV nhằm điều tiết sản xuất & định hướng tiêu dùng, bởi vì Thuế này tác động trực tiếp vào hàng hóa – dịch vụ được tạo ra cho nên thông qua việc điều tiết Thuế,

NN sẽ định hướng việc sản xuất VD: Điều tiết Thuế TTĐB đối với rượu bia, thuốc lá… bên cạnh còn

có Thuế NK, VAT… cho nên cùng một số tiền sẽ sử dụng được ít hơn lượng thuốc lá mua được khi không có các loại Thuế này

Vai trò này sẽ ảnh hưởng đến mức độ điều tiết trong sự vận động của các quy phạm pháp luật

& từ mức độ điều tiết sẽ tạo ra định hướng điều tiết theo từng ngành, lĩnh vực cụ thể VD: ngành cần

tập trung phát triển sẽ áp mức thuế thấp hơn ngành không khuyến khích… Xe hơi nhập khẩu chịu thuế

NK, VAT, TTĐB cho nên giá tăng x2 & hạn chế tiêu dùng

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ THU VÀO HH-DV: A

mà liên quan mật thiết đến biên giới kinh tế với ý nghĩa phân tách giữa thị trường nội địa & ngoài thị

trường nội địa VD: Trong lãnh thổ quốc gia sẽ có những đặc khu kinh tế, khu phi thuế quan… gọi là

khu phi thuế & không thuộc thị trường trong nước như Khu chế xuất, thì hành vi dịch chuyển hàng hóa

từ thị trường nội địa vào khu chế xuất (XK) hoặc ngược lại (NK) Trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới trong những cam kết WTO, cam kết song phương giữa VN và Hàn Quốc, Nhật Bản…, mở cửa thị trường & sẽ dần xóa bỏ những ràng cảng về Thuế, cắt giảm Thuế quan theo lộ trình đã cam kết… cho nên tỷ trọng thu Thuế XK – NK có khuynh hướng vận động giảm dần theo thời gian, hiện tại chỉ chiếm khoản 11 – 12% tổng thu NSNN Tuy nhiên, đối với những đặc thù, chiến lược của một quốc gia thì

NN có quyền bảo lưu việc cắt giảm mức thuế quan đó, nhưng đối với những mặt hàng thông thường thì khuynh hướng vận động đi về 0%, điều này đòi hỏi những DN chuyên XK – NK hàng hóa thông thường tập trung chú ý để được hưởng những ưu đãi nhất định tạo lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất cho

Trang 18

hàng hóa của mình Mặc dù Thuế XK – NK có khuynh hướng đi về 0% nhưng NN vẫn phải tiến hành duy trì hoạt động thu Thuế XK – NK nhằm thông qua hoạt động thu Thuế XK – NK giúp NN quản lý được hoạt động dịch chuyển hàng hóa qua biên giới; những biến động về mặt giá trị đối với những hàng hóa được dịch chuyển ra vào thị trường trong nước… để NN triển khai những biện pháp khác để bảo hộ hàng hóa trong nước như các biện pháp Phi thuế quan, Thuế NK bổ sung… tránh những hệ lụy gây thiệt hại cho nền sản xuất trong nước

2 Đối tượng chịu thuế:

Thuế XK – NK chỉ điều tiết đối với hàng hóa, chỉ có hàng hóa mới thể hiện sự biến thiên về giá trị chứ DV không thể hiện rõ vấn đề này Hàng hóa được điều tiết bằng Thuế XK – NK phải thỏa mãn điều kiện hợp pháp & phải được tác động bởi hành vi XK – NK

i) Hàng cấm nhập:

Hiện tại, danh mục hàng cấm nhập đồng thời cũng là hàng cấm xuất, thường có sự biến động trong danh mục theo từng thời kỳ & danh mục này của các quốc gia thông thường tương đồng nhau tập trung vào các hàng hóa liên quan đến an ninh quốc gia như vũ khí, quân trang, quân dụng… ma túy, thuốc gây nghiện… Tuy nhiên, có những mặt hàng quốc gia này cấm nhưng quốc gia khác thì không

cấm (hợp pháp) VD: Tại Hà Lan, cần sa không bị xem là hàng hóa cấm… tại VN là hàng cấm

ii) Hàng XK – NK có điều kiện:

- Hạn ngạch (Quota) là giới hạn về định mức về số lượng hoặc về giá trị khi được phép NK hoặc XK những mặt hàng nhất định, NN ban hành danh mục trong từng thời kỳ (sẽ thay đổi theo thời gian, bối cảnh KT – XH…) quy định những mặt hàng nằm trong hạn ngạch, thông thường đó là những hàng hóa ảnh hưởng trọng yếu đến an ninh sản xuất của quốc gia Khi tham gia thị trường mở (WTO, TPP…) đồng nghĩa với việc phải xóa bỏ hàng rào thuế quan & cho hàng hóa của các nước có giao kết hiệp định vào quốc gia bằng cách không áp thuế (có thuế có nghĩa làm giảm lượng hàng hóa nhập vào)

nhưng có giới hạn nhất định VD: NN đưa ra hạn ngạch NK đối với trứng gà, sợi bông, đường… tránh

tình trạng ảnh hưởng đến ngành SX trong nước

+ Thẩm quyền cấp hạn ngạch sẽ do Bộ Công thương là cơ quan cấp hạn ngạch, tuy nhiên trong thực tế xảy ra nhiều tình trạng Lobby hạn ngạch, chạy hạn ngạch… dẫn đến hệ quả nhiều DN được hưởng hạn ngạch trong khi các DN khác thì không

Trang 19

- Chỉ định đầu mối nhằm để dễ dàng trong quản lý & có thể chi phối, can thiệp một cách nhanh chóng đối với hoạt động XK – NK những hàng hóa mang tính chiến lược, ảnh hưởng đến tất cả những quan hệ lợi ích khác thì NN dùng phương thức này để hạn chế những tác động tiêu cực của nó lên thị

trường VD: Xăng dầu được NK – XK theo điều kiện Chỉ định đầu mối, không phải tổ chức nào cũng

được Chỉ định đầu mối, trong trường hợp này tổ chức phải xin phép & phải có chỉ định đầu mối để thực hiện hoạt động này của CQ tương ứng chỉ định… Vàng thỏi, vàng miếng thì cũng có CQ tương ứng để chỉ định đầu mối NK vàng, giấy phép sẽ do CQ chuyên ngành quản lý cấp phép & thực hiện

NK vàng, cụ thể là Ngân hàng NN sẽ cấp phép & chỉ định cho một số đơn vị thực hiện việc NK vàng như PNJ là một trong những DN đầu mối NK vàng…

- Chấp thuận chuyên ngành, nhằm đảm bảo cho một quan hệ, giao dịch XK – NK trở nên hợp pháp đối với một số mặt hàng nhất định, những mặt hàng không có chấp thuận chuyên ngành thì không được phép XK – NK, đó là những hàng hóa gây ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe cộng đồng… thì phải có sự thẩm định của các CQ chuyên ngành về mức độ tác động đến môi trường, sức khỏe cộng

đồng… thì mới được XK – NK VD: Thuốc chữa bệnh phải được sự chấp thuận chuyên ngành của Bộ

Y tế thì mới được XK – NK… Con giống, cây giống là mặt hàng phải được chấp thuận chuyên ngành của Bộ NN & PTNT… Nhập khẩu rác phải được chấp thuận chuyên ngành của Bộ TNMT… gần như không được chấp thuận

3 Đối tượng nộp thuế:

Là những tổ chức, cá nhân có hành vi trực tiếp tác động lên Đối tượng chịu thuế làm phát sinh

nghĩa vụ thuế VD: người trực tiếp làm dịch chuyển hàng hóa qua biên giới bằng hành vi xuất khẩu là

Đối tượng nộp thuế Tuy nhiên, họ có thể tự mình trực tiếp nộp vào NSNN hoặc ủy quyền cho những Chủ thể ủy quyền để thực hiện các thủ tục nộp thuế giúp cho họ như Đại lý Thuế, Đại lý Hải quan…

4 Đối tượng không chịu thuế:

Là hàng hóa hợp pháp được quyền XK – NK tự do, tuy nhiên với yếu tố vật chất tương tự nhưng lại không chịu thuế do hành vi của con người tác động lên Hàng hóa làm cho Bản chất điều tiết của Thuế XK – NK bị thay đổi hoặc bản chất của Hàng hóa làm cho bản thân nó trở thành không chịu Thuế

XK – NK

Trang 20

i Hàng hóa hợp pháp trong khu phi thuế (không chịu thuế) khi dịch chuyển ra vào thì chủ thể

thực hiện hành vi dịch chuyển đó không chịu bất cứ sự điều tiết nào của Thuế XK – NK

ii Hàng hóa hợp pháp trong hoạt động Quá cảnh (đi ngang qua thị trường & không ở lại thị

trường), Chuyển khẩu (chỉ đi ngang qua cửa khẩu, không đi ngang qua lãnh thổ như đường bộ, đường thủy, đường không…) mặc dù không điều tiết Thuế nhưng phải quy định để quản lý Hải quan về áp tải hàng hóa

iii Hàng hóa hợp pháp trong hoạt động viện trợ nhân đạo, không hoàn lại, theo đó hàng hóa

vào thị trường thông qua hành vi NK nhưng với mục đích nhân đạo, viện trợ không hoàn lại nhưng NN không điều tiết Thuế NK

iv Dầu khí xuất khẩu, do bản thân hàng hóa cho nên trong mọi trường hợp không điều tiết

Thuế XK, còn NK vẫn phải chịu Thuế NK, bởi vì, thứ nhất Dầu khí ở dạng thô cho nên giá trị rất rẻ Thứ hai, bản thân hàng hóa này đã gánh Thuế Tài nguyên (rất lớn), vì vậy NN cho rằng không cần phải điều tiết thêm Thuế XK

5 Căn cứ tính thuế: là nội dung xác định số tiền Thuế phải nộp cho NN, theo đó có 03 trường hợp để tính Thuế:

i Trường hợp áp dụng thuế suất tỷ lệ: phổ biến nhất, được áp dụng chung đối với hàng hóa

XK – NK (khoảng 90%), dựa vào 03 căn cứ (thông số):

- Số lượng hàng hóa, phải là số lượng thực tế XK – NK, bởi vì Thuế này điều tiết vào giá trị

hàng hóa tham gia vào thị trường cho nên số lượng hàng hóa thực tế mới phản ánh được thực trạng tác động vào thị trường của giao dịch Cũng xuất phát từ thực trạng, khi giao kết hợp đồng mua báng hàng hóa XK – NK thì đôi khi DN xuất hàng nhiều hơn hoặc ít hơn so với Hợp đồng mua bán ngoại thương

do yếu tố khách quan Tuy nhiên, để xác định chính xác số lượng thực tế này thì trong thực tế hải quan

sẽ áp dũng phương pháp kiểm tra sau khi đã hoàn tất việc xuất hoặc nhập khẩu (kiểm tra sau thông quan) hoặc kiểm tra xác xuất vẫn xuất hiện nhiều tình trạng khai sai chủng loại hàng hóa để hưởng thuế suất thấp, thay đổi nghĩa vụ Thuế như NK hàng điện máy nhưng lại khai là nhập hàng Nông ngư cơ (thuế suất 0%)

- Giá tính thuế, đơn giá của hàng hóa căn cứ vào Hợp đồng, tuy nhiên trong thực tế các bên

thỏa thuận giá thấp để giảm thuế Nếu không có HĐ thì sẽ căn cứ vào Giá tương đương trên thị trường trong trường hợp:

Trang 21

+ Xuất khẩu là giá FOB (giá giao hàng qua lang cang tàu, không bao gồm trong giá các

khoản phí khác, thường giá giao hàng theo đường hàng không, đường biển), DAF (giá giao hàng tại cửa khẩu, thường giá giao hàng theo đường bộ)

+ Nhập khẩu là giá CIF (giá bao gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm), giá hàng hóa để

xuất hiện trên thị trường nội địa bao gồm chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm

Các bên thỏa thuận khi giao kết HĐ ngoại thương & các bên hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận bất kỳ loại giá nào trên HĐ nhưng NN sẽ căn cứ vào thỏa thuận của các bên để quy đổi về loại giá mà NN quy định để xác định căn cứ tính thuế XK – NK Trong trường hợp không có HĐ hoặc

HĐ thỏa thuận giá thấp thì NN sẽ dùng phương thức Tham vấn trị giá hải quan để xác lập lại giá các bên giao dịch để làm căn cứ tính thuế phù hợp với giá thị trường

+ Tỷ giá tính thuế: Do quan hệ ngoại thương được thiết lập bằng ngoại tệ cho nên phải

được quy đổi ra Đồng VN để tính thuế, tính theo tỷ giá liên ngân hàng tại ngày tính thuế

- Thuế suất, mức độ điều tiết của NN, có thể được xác định tùy thuộc vào chủng loại hàng

hóa Mỗi một mặt hàng có một mã số HS tương ứng & tương đương với một mức thuế suất nhất định

Do đó Biểu thuế suất XK – NK rất dài, do liệt kê theo Chủng loại & chi tiết theo chủng loại cho nên rất nhiều mức thuế suất giao động cho từng loại hàng hóa Theo đó, biểu thuế là tập hợp cho nhiều mức thuế suất khác nhau Bởi vì mức độ tác động của mỗi chủng loại hàng hóa vào thị trường có những biểu

hiện khác biệt, VD: sự tác động của Xăng dầu vào thị trường khác với hàng may mặc, hàng tiêu dùng…

& đòi hỏi sự phân hóa mức độ điều tiết trong Biểu thuế XK – NK phải rất chi tiết & lập thành Biểu thuế, tách bạch giữa Biểu thuế XK và Biểu thuế NK

- Đối với biểu thuế XK thì NN có thể áp dụng mức thuế suất đặc biệt cho những chủng loại hàng hóa liên quan đến những trường hợp đối xử thuế quan đặc biệt giữa các quốc gia tham gia ký kết thỏa thuận ưu đãi, do đó trong trường hợp XK thì chỉ bao gồm 02 mức thuế suất có thể được áp dụng cho cùng 01 mặt hàng:

- Thuế suất thông thường;

- Thuế suất ưu đãi trong những trường hợp có thỏa thuận

Trang 22

- Biểu thuế NK hiện nay chỉ thể hiện dưới dạng Biểu thuế suất ưu đãi, từ Biểu thuế này thì hoàn toàn có thể quy đổi ra Biểu thuế NK thông thường, theo đó trong trường hợp NK thì chỉ bao gồm 03 mức thuế suất có thể được áp dụng cho cùng 01 mặt hàng:

- Thuế suất ưu đãi, áp dụng cho hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan trong quan hệ thương mại với VN Hiện nay, có hơn 57 quốc gia đã có thỏa thuận này với VN cho nên số lượng hàng hóa từ các nước này rất phổ biến;

- Thuế suất thông thường, áp dụng cho hàng hóa của những quốc gia không có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan trong thương mại với VN;

- Thuế suất ưu đãi đặc biệt, áp dụng đối với hàng hóa có xuất xứ từ những quốc gia hoặc khối nước có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về Thuế quan trong cùng khối mậu dịch tự do (AFTA, NAFTA…), để xác định mức thuế suất này căn cứ vào những thỏa thuận ưu đãi đặc biệt trong vùng hoặc song phương giữa các quốc gia Từ những quy định này thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ triển khai, quy định những mức thuế suất cụ thể trên kết quả đàm phán, thỏa thuận đạt được

- Để áp dụng được 03 mức thuế suất nhập khẩu trên thì phải dựa vào Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), các Phòng Thương mại & Công nghiệp của các nước sẽ có trách nhiệm cấp những chứng từ này & đòi hỏi những chủ thể sản xuất hàng hóa này phải thực hiện thủ tục xin cấp, phải chứng minh được tỷ lệ phần trăm % nguyên vật liệu hoặc công đoạn sản xuất chủ yếu trên thị trường nội địa tại nước sở tại Ngược lại, khi không có C/O thì sẽ áp dụng Thuế suất thông thường, cho nên việc ý thức được quyền lợi của mình sẽ giúp cho DN có được những lợi thế nhất định về Thuế

ii Trường hợp áp dụng thuế suất cố định: căn cứ tính thuế đơn giản hơn, chỉ bao gồm:

- Số lượng hàng hóa;

- Mức thuế tuyệt đối, được xác định bằng một giá trị trên một đơn vị tính thuế VD: Hiện nay,

NN áp mức thuế tuyệt đối đối với xe hơi 05 chỗ ngồi nhập khẩu đã qua sử dụng nhưng chỉ cho phép

NK đối với những chiếc xe hơi bất kỳ của hãng nào có niên hạn sử dụng cách thời điểm NK 05 năm với Mức thuế tuyệt đối khoảng 1,200

Số tiền Thuế phải nộp = Slg hàng hóa * Giá tính thuế * Thuế suất

Trang 23

USD/chiếc & có thể thay đổi theo từng thời kỳ Bởi vì trong một số trường hợp NN không thể xác định Giá tính Thuế một cách chính xác, cho nên nếu đưa giá tính thuế vào đây sẽ là không phù hợp

iii Trường hợp áp dụng thuế suất hỗn hợp: tức là vừa áp dụng Thuế suất theo tỷ lệ & Thuế suất cố định đối với nhựng trường hợp XK – NK vượt hạn mức, theo đó sẽ áp dụng Thuế suất theo tỷ

lệ đối với số lượng hàng hóa trong hạn mức còn số lượng hàng hóa ngoài hạn mức sẽ áp dụng Thuế suất cố định

iv Thuế nhập khẩu bổ sung:

Hiện nay, trong Luật Thuế XK – NK mới áp dụng từ năm 2016 đến nay thì Thuế nhập khẩu bổ sung quy định 03 loại & được áp dụng có thời hạn, thông thường là 05 năm theo quy định của Luật đối với các mặt hàng có xuất xứ từ những Lãnh thổ được liệt kê trong Danh mục bị áp 03 loại Thuế NK bổ sung này & mỗi năm các DN NK có quyền làm đơn để xin xem xét lại việc áp Thuế NK bổ sung này bằng cách chứng minh DN đã thực hiện việc không còn bán với mức giá bán phá giá nữa, không còn được trợ cấp nữa, đã khôi phục lại bằng giá thị trường, cụ thể:

+ Thuế tự vệ áp dụng khi trị giá hàng hóa nhập khẩu vào thị trường VN quá lớn, làm ảnh

hưởng đến ngành sản xuất cùng loại trong nước khi nhu cầu thị trường đã được thỏa mãn bởi phần lớn những hàng hóa nhập khẩu này cho nên những ngành sản xuất hàng hóa cùng loại không thể sản xuất hàng hóa như trước được nữa! Cho nên phải áp dụng Thuế này bên cạnh Thuế NK làm cho Giá hàng hóa NK tăng lên & không cạnh tranh được với DN trong nước, đòi hỏi DN NK phải tính toán, cân nhắc trước khi tiến hành hoạt động NK… có thể vẫn nhập nhưng với số lượng hàng ít hơn nhiều

Mức Thuế suất tự vệ sẽ phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của hàng hóa đến thị trường, nhập

càng nhiều thì mức Thuế tự vệ càng cao Hiện nay, việc áp dụng loại Thuế này tại VN đã được vận

hành tốt VD: NK thép, trong những năm 2007, 2008 thị trường xây dựng tại VN rất phát triển thì

ngoài trữ lượng sản xuất của những DN VN thì DN còn nhập khẩu thép đặc biệt từ Trung Quốc Một lượng thép lớn ồ ạt vào VN chưa xét đến chất lương, làm ảnh hưởng đến nền sản xuất thép tại VN do vậy Hiệp hội thép đã yêu cầu cơ quan cạnh tranh tại VN đã đề nghị NN đưa ra Mức thuế suất tự vệ cho thép từ thị trường TQ vào VN… Trên thế giới đã áp dụng Thuế này rất phổ biến như thép của Mỹ nhập vào thị trường EU quá nhiều cho nên EU đã áp dụng Mức thuế suất tự vệ của Mỹ vào EU & sau đó hàng hoa quả nhập vào thị trường Mỹ quá nhiều

Số tiền Thuế phải nộp = Slg hàng hóa * Mức thuế tuyệt đối

Trang 24

cho nên Mỹ đã áp Thuế tự vệ đối với hoa quả từ thị trường EU vào Mỹ, cả hai việc áp Thuế suất tự vệ này đã gây thiệt hại cho nhau hơn 1.6 tỷ USD…

+ Thuế chống bán phá giá áp dụng trong trường hợp hàng hóa được NK vào thị trường VN

với Giá thấp hơn Giá thị trường làm ảnh hưởng, gây thiệt hại đến nền sản xuất trong nước Cho nên

NN sẽ dùng Thuế này để khôi phục lại giá bán thị trường của nó

Mức Thuế suất chống bán phá giá sẽ phụ thuộc việc điều tra để xác định mức phá giá, nếu DN phá giá càng sâu thì mức áp thuế sẽ càng cao để đưa giá bán hàng hóa về mức giá thị trường VD: Mặt

hàng cá Basa từ thị trường VN vào thị trường Mỹ được áp dụng Mức thuế suất chống bán phá giá là 17%, trong khi đó cũng là hàng cá Basa của Ấn Độ nhập khẩu vào thị trường Mỹ thì chỉ áp dụng Mức Thuế suất chống bán phá giá từ 2 – 4% Bởi vì, trong quá trình điều tra thì Mỹ đã chứng minh được rằng VN bán phá giá sâu hơn so với Ấn Độ…

+ Thuế chống trợ cấp áp dụng đối với hàng hóa được NK vào thị trường VN với giá thấp hơn

giá thị trường nhưng do sự trợ cấp của Chính phủ nước XK Cho nên bản chất pháp lý để áp dụng Thuế này tương tự áp Thuế suất chống bán phá giá! Tuy nhiên cách thức điều tra sẽ khác nhau khi một cái

sẽ thực hiện điều tra đối với chính DN bán hàng phá giá, còn một cái sẽ thực hiện điều tra đối với Chính phủ trợ cấp cho hàng NK tại nước XK Đến thời điểm này thì VN chưa áp dụng bất kỳ một trường hợp nào, do quá trình điều tra không phải dễ dàng như DN & trong một vị thế chính trị như VN thì không

dễ dàng thực hiện được việv điều tra trong trường hợp này

Tuy nhiên, Thuế chống trợ cấp được áp dụng phổ biến tại các nước EU, Mỹ đối với VN liên quan đến mặt hàng may mặc, nông sản… bởi vì Mỹ cho rằng Chính phủ VN đã áp dụng một số biện pháp trợ cấp cho các DN VN được thụ hưởng những lợi thế nhất định để hình thành giá bán thấp hơn

so với hàng cùng loại tại thị trường Mỹ… VD: Mỹ chứng minh rằng Chính phủ VN đã thực hiện chính

sách cho vay tín dụng ưu đãi, trợ giá… đối với các hộ nông dân sản xuất hàng nông sản…

6 Chế độ miễn giảm:

i Xét miễn: nghĩa là có thể được miễn hoặc không được! NN sẽ xem xét trên cơ sở cần thiết

hay không cần thiết được miễn, tức là DN vẫn phải thực hiện đầy đủ các Nghĩa vụ như kê khai, đăng

ký, làm thủ tục, hồ sơ để chứng minh việc được hưởng ưu đãi và nộp Thuế

Trang 25

ii Miễn: nghĩa là được Miễn đương nhiên do tính ưu đãi hoặc tính đặc thù nhưng vẫn phải

thực hiện đầy đủ các Nghĩa vụ như kê khai, đăng ký, làm thủ tục, hồ sơ để chứng minh việc được

hưởng ưu đãi và nộp Thuế VD: DN sản xuất thực hiện việc nhập khẩu dây chuyền, máy móc, thiết

bị… để tạo lập tài sản cố định hoặc trường hợp Hàng xách tay là hành lý miễn thuế được mang theo người (cá nhân) được phép mang theo mình trong chuyến hành trình ra nước ngoài & từ nước ngoài về lại VN, trong quá trình dịch chuyển như vậy thì mỗi cá nhân đều có quyền tiêu dùng một lượng hàng nhất định để thỏa mãn nhu cầu cá nhân như hút thuốc lá, uống rượu, máy tính, điện thoại di động… thì được quyền mang theo một mức tối thiểu để phục vụ cho nhu cầu của mình, vì vậy trong Luật Thuế

XK – NK quy định những trường hợp thỏa mãn nhu cầu cá nhân thì được Miễn Thuế & xác định Định mức miễn như 300 điếu thuốc lá miễn thuế, 1.5 lít rượu miễn thuế… nhưng nếu vượt quá định mức cho phép, thay đổi công năng của hàng hóa (không phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà để kinh doanh) thì phải nộp thuế! Trong thực tế, phát sinh nhiều trường hợp liên quan đến Tiếp viên hàng không mang hàng xách tay về kinh doanh bất hợp pháp, tránh thuế…

iii Xét giảm Đối tượng nộp thuế vẫn phải thực hiện đầy đủ các Nghĩa vụ như kê khai, đăng

ký và nộp Thuế phần không được giảm

7 Kê khai nộp:

i Kê khai: Tại Điều 32 Luật Quản lý thuế, đối với hoạt động NK phải kê khai trước / trong

thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng đến cửa khẩu Đối với hoạt động XK phải kê khai trong thời hạn 08 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh

Trường hợp NK nguyên vật liệu để sản xuất hàng XK, như vậy nguyên vật liệu vào VN tạm thời, sau đó trong quá trình sản xuất cấu thành trong sản phẩm & ra khỏi thị trường, không ảnh hưởng đến thị trường nội địa! Quy trình kê khai nộp sẽ có những điểm đặc biệt!!!

ii Nộp: Tại Điều 42 Luật Quản lý thuế

8 Hoàn thuế: Tại Điều 15 NĐ 87/2010, nghĩa là trả lại Thuế đã nộp trong trường hợp:

- Đã thực hiện nghĩa vụ thuế nhưng DN không còn thực hiện hành vi bị điều tiết Thuế nữa;

- Đã thực hiện nghĩa vụ nhiều hơn nghĩa vụ thực sự VD: DN XK hàng ra nước ngoài nhưng

sau đó bị bạn hàng trả lại & đã nộp Thuế XK, nghĩa là hành vi XK không

Trang 26

hoàn tất cho nên sẽ được hoàn thuế XK đã đóng trước đó, tuy nhiên PL sẽ có những quy định về giới hạn thời gian để đảm bảo tính khả thi của việc hoàn thuế…

- Đã thực hiện hành vi NK nhưng hàng hóa không đúng như thỏa thuận & thực hiện hành vi xuất trả thì sẽ được hoàn thuế NK đã đóng

- Đã thực hiện hành vi NK nhưng hàng hóa không đúng số lượng như thỏa thuận & đã thực hiện việc đóng thuế cho toàn bộ lô hàng thì sẽ được hoàn tiền Thuế của số lượng hàng hóa giao thiếu…

B PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT:

1 Khái niệm – Đặc điểm:

Thuế TTĐB áp dụng cho những HHDV không thiết yếu, xa xỉ trong đời sống xã hội Việc xem một HHDV là xa xỉ phụ thuộc vào cách nhìn nhận của các quốc gia mà chủ yếu là ý chí chủ quan của

NN căn cứ vào những khía cạnh chủ yếu như mặt tác hại của HHDV, tức không cần phải có để phục

vụ cho sự tồn tại của con người, duy trì sức khỏe của cộng đồng… khi dùng nó còn gây ra tác hại cho

cộng đồng cho nên NN dùng thuế để điều tiết sự không cần thiết đó VD: Thuốc lá, rượu bia, xăng

dầu… đối với rượu bia thì tùy vào quy định của từng quốc gia theo đánh giá nồng độ cồn để quy định vào danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB hoặc tác động tích cực của xăng dầu vào đời sống của cộng đồng để quy định thuế TTĐB… Hoặc mức sống của người dân trong một quốc gia (sự ổn định trong danh mục quy định sẽ ngắn hơn, bởi vì mức sống người dân mỗi ngày mỗi nâng cao cho nên những hàng hóa trước đây là xa xỉ nhưng hiện tại không còn xa xỉ nữa như mặt hàng Điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống sẽ sớm được đưa ra khỏi danh mục hàng hóa TTĐB bởi vì so với những năm 90s thì hiện nay mức sống của người dân VN đã tăng cao hơn!), do mức sống bình quân đầu người của mỗi quốc gia khác nhau cho nên nếu việc sử dụng, tiêu dùng một mặt hàng nào so với mức sống

bình quân của quốc gia đó là vượt ngưỡng thì NN sẽ quy định đó là mặt hàng thuộc diện TTĐB VD:

Giá xe hơi dưới 24 chỗ ngồi tại VN cao hơn các quốc gia khác vì NN cho rằng đây là mặt hàng xa xỉ

so với mức sống bình quân đầu người tại VN cho nên được đưa vào danh mục hàng hóa TTĐB trong khi những nước khác xem đây là hàng hóa tiêu thụ thông thường

Ngoài ra, có thể tác động tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội, ngoài sự không cần thiết trong đời sống con người còn làm tăng thêm chi phí quản lý xã hội thì NN có thể đưa vào phạm vi điều chỉnh

của Thuế TTĐB VD: Dịch vụ Karaoke, Massage, vũ trường, vàng mã theo thống kê trong 03 ngày tết

nguyên đáng người dân Hà Nội &

Trang 27

Tp.HCM đã đốt gần 10 tỷ đồng… làm tăng hao phí xã hội, tuy nhiên NN không cấm được cho nên phải điều tết bằng Thuế TTĐB Như vậy, HH qua rất nhiều giai đoạn trước khi đến tay NTD nhưng bản chất của nó không thay đổi cho nên Thuế TTĐB chỉ đánh 01 lần trong suốt quá trình lưu thông HHDV

2 Đối tượng chịu thuế:

Danh mục hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB có thể thay đổi, biến động theo thời gian, theo

Điều 2 Luật Thuế TTĐB gồm có 10 loại hàng hóa & 06 loại dịch vụ

3 Đối tượng không chịu thuế:

Quy định tại Điều 3 Luật Thuế TTĐB đối với 10 hàng hóa thuộc danh mục TTĐB nhưng trở

thành đối tượng không chịu Thuế TTĐB vì hành vi tác động của con người làm thay đổi Bản chất điều

tiết Thuế của NN thì những HH sẽ trở thành Đối tượng không chịu Thuế TTĐB VD: Dùng xe hơi 05

chỗ ngồi phục vụ cho mục đích nhân đạo thì chính Mục đích này đã làm thay đổi bản chất điều tiết Thuế của NN & trở thành hàng hóa không chịu Thuế TTĐB hoặc không gây những tác động về mặt

thị trường, cụ thể là thị trường nội địa VD: Việc sản xuất Thuốc lá, rượu bia… bởi DN trong nước

nhưng dùng để XK, mặc dù đây là mặt hàng chịu tác động của Thuế TTĐB nhưng do không tác động vào thị trường nội địa & hơn nữa, NN không có quyền ngăn cản, hạn chế việc tiêu thụ những hàng hóa này tại nước ngoài cho nên trong trường hợp không chịu sự điều tiết của Thuế TTĐB

4 Người nộp thuế:

Là Tổ chức, Cá nhân thực hiện hành vi sau đây:

i Nhập khẩu Hàng hóa là đối tượng chịu thuế, bởi vì hành vi này làm cho những hàng

hóa này lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường VN

ii Sản xuất Hàng hóa là đối tượng chịu thuế, bởi vì hành vi này tạo ra những hàng hóa này trên thị trường VN VD: Khi mặt hành rượu, bia, thuốc lá đưa vào thị trường thì NN căn cứ vào

lượng giá trị hàng hóa đưa vào thị trường để xác định Nghĩa vụ nộp thuế

iii Kinh doanh Dịch vụ là đối tượng chịu thuế, bởi vì bản thân Dịch vụ trong mọi

trường hợp là cung cấp trực tiếp cho NTD Hơn nữa, những dịch vụ này được hình thành trên thị trường nội địa & cung cấp trực tiếp cho NTD ngay trên thị trường nội địa & không thể cung cấp chúng qua biên giới được

Trang 28

ii Thuế suất TTĐB, căn cứ vào văn bản cụ thể & biến động thường xuyên theo từng thời kỳ

Mục tiêu của Thuế suất này nhằm hạn chế tiêu dùng căn cứ chủ yếu vào tính gây tác hại, không cần thiết của HH… theo đó mức gây hại & không cần thiết càng cao thì mức thuế suất điều tiết càng cao!

giúp làm giảm mức hao phí xã hội! VD: khi bỏ 05 tỷ mua vàng mã về đốt, do NN áp thuế suất TTĐB

là 40% thì ít nhất 02 tỷ quay về NSNN thay vì cũng bị đốt…

Liên quan đến mặt hàng rượu có phân hóa nghĩa vụ thuế theo tỷ lệ độ cồn, thì việc ghi nhãn hàng hóa sẽ có ảnh hưởng nhất định đến nghĩa vụ Thuế TTĐB phải thực hiện khi NN cho phép dung sai trong việc ghi nhãn để áp dụng các mức thuế suất TTĐB khác nhau

6 Hoàn thuế - Khấu trừ:

i Hoàn thuế, xảy ra trong trường hợp thực hiện nhiều hơn nghĩa vụ thực sự hoặc đã thực hiện

nghĩa vụ Thuế nhưng hành vi thực hiện không hoàn tất / không thực hiện nữa thì sẽ được hoàn lại phần nghĩa vụ đã nộp

Thậm chí, khi tái xuất hàng hóa không đúng thỏa thuận trong HĐ, một mặt sẽ được hoàn lại Thuế TTĐB, mặt khác còn được hoàn Thuế NK khi tái xuất HH là đối tượng chịu thuế NK

ii Khấu trừ, những mặt hàng ở dạng nguyên vật liệu nhưng vẫn phải chịu Thuế TTĐB, khi dịch chuyển trạng thái từ nguyên vật liệu sang Đối tượng chịu Thuế TTĐB VD: Khi nhập khẩu rượu

Vang nguyên liệu & phải nộp Thuế TTĐB, sau đó gia công,

Giá chưa Thuế TTĐB = Giá có Thuế TTĐB / (1 + thuế suất)

Trang 29

gia tăng hương liệu và đóng chai thành phẩm, lần này lại bị điều tiết Thuế TTĐB đối với sản phẩm rượu đóng chai khi tham gia thị trường

Như vậy, vì đây là Thuế chỉ đánh một lần & tránh tình trạng chồng thuế thì NN cho phép khấu trừ lại phần thuế đã đóng trước đó nằm trong cấu thành HHDV đưa ra thị trường Còn phần giá trị gia tăng đặc biệt trong thành phẩm là giá trị mới cho nên phải chịu sự điều tiết của Thuế TTĐB Tuy nhiên,

DN phải làm thủ tục chứng minh được trong cấu thành sản phẩm tỷ trọng của nguyên liệu đã nộp Thuế TTĐB chiếm bao nhiêu % để được khấu trừ lại

D PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (VAT):

1 Khái niệm – Đặc điểm:

Thuế VAT là thuế điều tiết trên giá trị gia tăng của HHDV, nhắm đến lượng giá tăng thêm trong quá trình lưu thông qua các khâu dịch chuyển HHDV đến tay NTD cuối cùng, có những đặc điểm:

- NN không nhắm đến bản chất của HHDV để điều tiết;

- NN không muốn đến việc hạn chế sản xuất, tiêu dùng HHDV đó;

- NN muốn nhắm đến lợi ích mới phát sinh trong xã hội, bởi vì để có được lợi ích tăng thêm

đó phải nhờ đến sự quản lý XH của NN, duy trì trật tự XH làm cho những giao dịch được thực hiện một cách thuận lợi làm nảy sinh những giá trị mới vì thế NN có quyền lấy đi một lượng lợi ích từ giá trị mới hình thành đó!

- Xuất hiện liên tục trong quá trình lưu thông của HHDV, càng qua nhiều giai đoạn trong quá trình lưu thông thì càng làm tăng giá trị thuế VAT vào NSNN do qua mỗi giai đoạn chuyển dịch HHDV

thì làm phát sinh một giá trị lợi ích mới VD: Cty bia Sài gòn sản xuất ra chai bia, bán cho đại lý cấp 1

thì phát sinh GTGT Đại lý cấp 1 bán cho đại lý cấp 2 lại phát sinh GTGT Đại lý cấp 2 bán cho Hệ thống bán lẻ như siêu thị, cửa hàng lại phát sinh GTGT Siêu thị bán cho NTD lại phát sinh GTGT

- Một mặt hàng có thể đồng thời chịu cả 03 loại thuế NK, TTĐB, VAT mà không xảy ra trường

hợp chồng thuế do 03 loại thuế này đánh vào mặt hàng theo những mục đích khác nhau VD: Xe hơi 05

chỗ ngồi nhập khẩu mới vào VN

2 Đối tượng chịu thuế & không chịu thuế:

- Sản xuất trên thị trường VN;

Trang 30

- Kinh doanh trên thị trường VN, bao gồm Hành vi XK & Hành vi NK, đều làm phát

sinh lợi ích mới (GTGT) theo phạm trù Thương mại

- Tiêu dùng trên thị trường VN

Những trường hợp không chịu Thuế GTGT theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế GTGT gồm

26 trường hợp, còn các trường hợp còn lại không loại trừ thì phải chịu sự điều tiết của Thuế VAT Theo

đó, những trường hợp không chịu Thuế VAT phát sinh từ những lý do như không tính được / xác định

được GTGT VD: Dịch vụ khám chữa bệnh không chịu thuế VAT, do Đối tượng giao dịch là bệnh tật,

sức khỏe của con người thì không thể xác định đước GTGT… Nhưng thuốc chữa bệnh là vật phẩm tính được chi phí, giá thành… cho nên vẫn phải chịu Thuế VAT… Hoặc do trùng thuế, một hành vi đã bị

điều tiết bởi Thuế VAT thì sẽ không phải bị điều tiết một lần nữa VD: Chuyển nhượng QSDĐ, BĐS

chỉ nộp Thuế TNCN mà không phải nộp thêm Thuế VAT, bởi vì bản thân Thuế TNCN đã điều tiết nghĩa vụ Thuế trên toàn bộ giá trị giao dịch, nghĩa là đã chứa đựng ý nghĩa của Thuế VAT cho nên nếu đánh thêm thuế VAT sẽ xảy ra trường hợp trùng thuế!

Ngoài ra, còn có thể do trường hợp rở lại NSNN và xuất phát từ nguyên tắc hiệu quả nếu Thu /

Chi không tạo ra hiệu quả thì NN không điều tiết VD: Các dịch vụ công cộng như chiếu sáng công

cộng, dịch vụ công ích… hiện nay không chịu Thuế VAT

Có thể được ưu đãi – hỗ trợ, khi NN không dùng biện pháp Miễn / giảm thuế để tránh trường hợp bên dưới thì NN đưa những trường hợp thỏa mãn những điều kiện hưởng sự ưu đãi – hỗ trợ này vào trường hợp không chịu thuế VAT, thì ít ra DN không phải trả thuế VAT cho nên tương tự như

hưởng ưu đãi VD: ngành hàng nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản chưa qua chế biến… như làm

muối

3 Người nộp thuế:

Là các Tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng HHDV chịu thuế VAT Trong điều tiết Thuế VAT còn có trường hợp XK – NK Dịch vụ trong khi điều tiết Thuế XK –

NK không có Dịch vụ, bởi vì khi kinh doanh dịch vụ thì chủ thể đã tạo ra một giá trị xã hội mới, do đó

NN sẽ điều tiết thuế VAT Hơn nữa, khi kinh doanh DV thì chủ thể phải có những chi phí đầu vào để

kinh doanh DV VD: Cung ứng dịch vụ tư vấn xét theo khía cạnh Thuế VAT thì chủ thể sẽ thu về một

lượng giá trị, nhưng để thu về một lượng giá trị này thì phải mua một số dịch vụ khác để tạo ra DV kinh doanh như điện, nước, điện thoại, viễn thông… cho nên giá trị đầu vào phải được cấn trừ với giá trị tăng thêm ở đầu ra

Trang 31

4 Căn cứ & phương pháp tính thuế:

i) Căn cứ tính thuế:

- Giá tính thuế là giá chưa thuế VAT, không có nghĩa là không có các loại thuế khác,

nếu có thêm thuế khác sẽ được xem là toàn bộ chi phí để đưa HHDV vào thị trường & Thuế VAT được đánh trên toàn bộ chi phí này Được quy đổi từ Giá bán theo công thức:

- Thuế suất: có 03 mức như sau:

+ 0%, áp dụng đối với HHDV Xuất khẩu bởi vì NN chỉ có quyền điều tiết lợi ích thuế

trên phạm vi chủ quyền của mình thôi, nếu NN điều tiết Thuế VAT ra nước ngoài thì sẽ không hợp lý Tuy nhiên, hiện nay nhiều DN đang lợi dụng quy định này để trục lợi & NN đã kiểm soát bằng cách quy định phải có hồ sơ XK, xác nhận hải quan, thanh toán quan NH… nhưng thực tế vẫn xảy ra tình trạng không kiểm soát được, đặc biệt tại các cửa khẩu đất liền như Long An, Mộc Bài… tuy có bộ hồ

sơ hải quan XK thật, tiền chuyển qua NH… nhưng sau khi hàng xuất cảnh thì chuyển ngược lại thị trường nội địa bằng những con đường khác…

+ 5%, áp dụng đối với HHDV thiết yếu;

+ 10%, áp dụng đối với HHDV còn lại

ii) Phương pháp tính thuế: bởi vì Thuế VAT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của HHDV cho nên phải sử dụng phương pháp tính thuế để xác định số thuế phải nộp vào NSNN trong kỳ tính thuế,

có 02 phương pháp:

- Phương pháp khấu trừ thuế: đòi hỏi các chủ thể được áp dụng phương pháp này phải thực

hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ thì mới có thể theo dõi được tình hình Thuế VAT đầu vào & đầu

ra làm căn cứ tính thuế Mục đích áp dụng phương thức này nhằm giúp NN quản lý các giao dịch trên thị trường dễ dàng và hiệu quả hơn, bằng cách buộc các chủ thể phải ghi nhận các nghiệp vụ đầu vào, đầu ra để được hưởng những lợi ích tốt nhất về Thuế, bởi vì nếu không lập hóa đơn chứng từ đầu vào thì sẽ không xác định được VAT đầu vào & tổng số tiền thuế phải nộp vào NSNN sẽ cao hơn

Giá tính thuế = Giá có thuế / (1 + Thuế suất)

Thuế GTGT = VAT đầu ra – VAT đầu vào

Trang 32

Nếu VAT đầu ra nhỏ hơn VAT đầu vào thì sẽ được hoàn thuế VD: Hàng tồn kho bán giải

phóng hàng thấp hơn so với giá mua ban đầu (100), bán sale off giá 80 thì NTD đã mua giá trị cuối cùng 80, tiền thuế VAT đầu ra của B lúc này là 8 so với đầu vào là 10 đã ứng trước cho nên sẽ được hoàn 2 Điều này giúp cho việc lưu thông hàng hóa thuận lợi hơn xét theo góc độ thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với NN

- Phương pháp tính thuế trực tiếp: nghĩa là tính thuế trực tiếp trên phần giá trị gia tăng, áp

dụng đối với những chủ thể không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ cho nên việc xác định VAT đầu vào & đầu ra gặp khó khăn, ngoài ra còn áp dụng cho các chủ thể kinh doanh vàng, bạc, đá quý… NN cho rằng để tính được GTGT đối với các mặt hàng này không dễ dàng thực hiện cho nên để xác định GTGT đối với các mặt hàng này NN lấy giá thị Mua đầu ra trừ cho giá trị Mua đầu ra để xác định GTGT

5 Miễn & giảm thuế: không quy định chế độ miễn giảm, có thể tùy từng thời kỳ NN sẽ áp dụng những chính sách thúc đẩy kinh tế theo đó sẽ có cơ chế miễn giảm Thuế VAT nhưng hiện nay thì không thực hiện xuất phát từ bản chất của Thuế gián thu

C PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG:

1 Khái niệm: Là thu vào hàng hóa khi sử dụng sẽ gây tác động xấu cho môi trường Mới ra đời vào năm 2012 trong khi các quốc gia khác trên thế giới đã áp dụng Thuế này từ lâu, bởi vì cần phải dựa vào quá trình vận động & phát triển của các QHXH, khi các QHXH phát triển đến một giai đoạn

mà NN nhận thức được rằng việc tác động vào môi trường để mang lại lợi ích cho mình cũng là cách mang lại lợi ích cần phải được điều tiết Thuế nhằm tạo ra sự công bằng giữa các chủ thể không tác động vào môi trường & các chủ thể tác động vào môi trường & hưởng lợi ích từ nó Việc thu Thuế này hướng đến việc bảo vệ môi trường, khắc phục những hậu quả khi sử dụng những hàng hóa này gây ra Những trường hợp là đối tượng chịu thuế này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà nước với sự tư vấn của các cơ quan chuyên ngành đánh giá tác động của những hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường để đưa vào danh sách thuộc diện chịu thuế BVMT

2 Đối tượng chịu thuế: có 09 trường hợp phải chịu thuế nhưng chỉ có 08 hàng hóa chịu thuế còn một trường hợp khác nhằm trong quá trình thực hiện Thuế này mà

Thuế GTGT = (Giá thanh toán Đầu ra – Giá thanh toán Đầu vào) * Thuế suất

Trang 33

phát hiện, nhận thức được những trường hợp có khả năng gây hại cho môi trường thì lúc này không cần chờ đến kỳ họp quốc hội để thông qua mà trao quyền bổ sung cho UBTVQH Trong đó, có mặt hàng Xăng vừa chịu sự điều chỉnh của Thuế TTĐB vừa chịu sự điều chỉnh của Thuế BVMT, bởi vì

NN muốn hạn chế sử dụng & bảo vệ môi trường Trong trường hợp NK còn phải chịu Thuế NK

3 Đối tượng không chịu thuế:

- Những hàng hóa hợp pháp không thuộc đối tượng chịu thuế BVMT;

- Những hàng hóa là đối tượng chịu thuế BVMT, có giao dịch nhưng không gây tác hại cho môi trường thì không điều tiết thuế BVMT, cụ thể;

+ Hàng vận chuyển quá cảnh, chuyển khẩu;

đi

5 Căn cứ tính thuế:

i) Số lượng hàng hóa, mà không điều tiết với giá hàng hóa bởi vì không phải vì giá HH cao

hay thấp dẫn đến tình trạng tác động tiêu cực đến môi trường nhiều hay ít mà do số lượng HH đưa vào thị trường sử dụng càng nhiều thì ảnh hưởng đến môi trường càng nhiều

ii) Mức thuế tuyệt đối, chứ không phải Thuế suất theo tỷ lệ, bởi vì mức độ tác động vào thị

trường tương đương với lượng HH đưa vào thị trường cho nên không theo tỷ lệ thuế suất %, theo đó mức thuế suất tuyệt đối này sẽ thay đổi theo:

- Mức độ độc hại của chất hóa học đối với môi trường càng lớn thì mức thuế suất sẽ càng cao

- Chính sách phát triển của NN, nếu trước đây các chất này được phép sản xuất nhưng bây giờ thì không thì sẽ loại ra khỏi danh mục điều chỉnh hoặc chất đó không

Trang 34

còn được xem là gây tác hại do phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế tác hại xấu của HH đến môi trường thì mức thuế suất cũng sẽ giảm đi…

6 Kê khai – nộp – Hoàn thuế:

- Đối với hành vi sản xuất, khi mới sản xuất chưa đưa ra thị trường thì chưa phải nộp tiền thuế vào NSNN, chỉ nộp khi đưa HH vào thị trường Đối với hành vi Nhập khẩu thì đương nhiên phải nộp

III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ THU VÀO THU NHẬP: A KHÁI

QUÁT CHUNG:

1 Khái niệm: Là thuế điều tiết vào thu nhập hợp pháp hình thành trong XH Khi yếu tố Lợi ích biểu hiện trong trạng thái Thu nhập, thì đặt vấn đề liên quan đến sở hữu, theo đó những người sở hữu lợi ích thu nhập cao hơn những người không sở hữu thu nhập tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội liên quan đến lợi ích tạo ra & sở hữu, người nào sở hữu thu nhập thì phải có những nghĩa vụ đối với

NN do những lợi thế nhất định để tạo ra những nguồn thu nhập

2 Vai trò:

- Điều tiết thu nhập

- Thực hiện công bằng xã hội, ở đâu có bất bình đẳng về mặt lợi ích thì NN sẽ can thiệp tùy mức độ để cân bằng lại lợi ích này Khác với Thuế đánh vào HHDV thì Thuế đánh vào Thu nhập sẽ có nhiều chế độ Miễn / Giảm thuế hơn, bởi vì mỗi chủ thể sở hữu thu nhập có những hoàn cảnh khác nhau

do đó NN phải tính đến những cơ chế Miễn / Giảm thuế để giải quyết bình đẳng không những về chiều

ngang mà còn về chiều dọc VD: Cùng tạo ra 5đ nhưng một chủ thể ở vùng sâu vùng xa, một chủ thể

ở vùng trọng điểm kinh tế

- Cho phép điều tiết ở mức độ rất cao, trong khi đó Thuế đánh vào HHDV thì không điều tiết vào chính các chủ thể sở hữu hàng hóa hoặc chủ thể sở hữu cuối cùng là NTD mà điều tiết thông qua quá trình lưu thông của hàng hóa do đó chỉ đặt ra vấn đề nộp thay, cho nên mức độ điều tiết thường

thấp VD: Gạo là thực phẩm thiết yếu cho người nghèo lẫn người giàu mà nếu điều tiết thuế quá cao

cho mặt hàng này thì vô hình chung làm cho người nghèo bị bần cùng hóa hơn nữa Hơn nữa, đối với người giàu thì họ sẽ tiêu dùng nhiều HHDV hơn và có thể dùng đến những HHDV xa xỉ cho

Ngày đăng: 25/12/2021, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w