1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂM

46 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 278,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂM KINH DOANH BẢO HIỂM kinh doanh bảo hiểm Bài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂMBài soạn môn luật KINH DOANH BẢO HIỂM

Trang 1

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM

I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

KHÁI NIỆM RỦI RO VÀ BẢO HIỂM:

RỦI RO VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC RỦI RO.

Khái niệm rủi ro :

Theo Frank Knight – nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng “rủi ro là sự bất trắc có thể đolường được”

Theo từ điển Oxford: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc sự đau đớn, thiệt hại”.Theo Viện kiểm toán nội bộ của Mỹ :”Rủi ro là tính bất thường (tính không chắc chắn)của một sự kiện xuất hiện mà nó có thể gây ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu”.Theo từ điển Dictionare d’assurance (Từ điển bảo hiểm Pháp– Việt) thì:” Rủi ro là một

sự cố không chắn chắn xảy ra hoặc ngày, giờ xảy ra không chắn chắn

Thuật ngữ rủi ro cũng chứa đựng hai ý niệm quan trọng là:

Sự không chắc chắn hay mối ngờ vực đối với tương lai, và

Tổn thất hoặc hậu quả do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra

=> Rủi ro là những tình huống bất trắc xảy ra ngoài ý muốn của con người là nguyên nhân gây ra những tổn thất nhất định về mặt vật chất hoặc tinh thần.

Phân biệt giữa rủi ro và nguy cơ

Nguy cơ là những điều kiện phối hợp, tác động làm tăng khả năng tổn thất

b Biện pháp hạn chế, khắc phục rủi ro

Nhóm biện pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất, bao gồm:

Tránh né rủi ro: Là một giải pháp thụ động, nhưng có thể sử dụng đối với một số rủi ro

bất khả kháng, nguy hiểm Ví dụ:Tránh khỏi nơi sắp xảy ra nguy hiểm là biện pháp tránh nérủi ro

Phong tỏa rủi ro: Là tạo ra những rào chắn trên tất cả các phương diện liên quan Có thể sử dụng biện pháp này đối với rủi ro hối đoái, rủi ro tăng giá hàng hóa Ví dụ: ký loại hợp đồng tương lai, định rõ loại hàng, số lượng, nơi giao nhận, giá cả và thời điểm giao

hàng trong tương lai

Tổ chức các biện pháp phòng tránh: Là việc con người thực hiện các biện pháp nhằm

ngăn chặn, giảm bớt rủi ro, hạn chế tổn thất

Biện pháp cứu trợ:

Là các hoạt động nhằm khắc phục hậu quả thiệt hại phát sinh từ các rủi ro Biện phápcứu trợ có thể do nhà nước các tổ chức, các đoàn thể tôn giáo thực hiện mang tính nhân đạo

và tự nguyện

Nhóm biện pháp khắc phục hậu quả rủi ro.

Chấp nhận tự gánh chịu: Có những trường hợp người ta quyết định tự chịu hậu quả khi

không còn con đường nào khác, hoặc chấp nhận chịu đựng rủi ro do sức ỳ đã trở thành thói

quen Thực chất, đây là cách đối phó thụ động của con người đối với rủi ro Ví dụ: tiết

Trang 2

kiệm để dành dụm một ít tiền phòng khi rủi ro xảy ra (biện pháp này thường do cá nhân ápdụng), hoặc lập quỹ dự trữ, dự phòng (thường do các tổ chức áp dụng)

Chuyển giao rủi ro: Đây là hình thức hoán chuyển rủi ro cho một hoặc nhiều chủ thể

khác Hình thức chuyển giao này có thể là chuyển nhượng đơn thuần, chuyển giao trênnguyên tắc tương hỗ, phân tán rủi ro như cứu trợ, lập quỹ chung trong một cộng đồng

1.1.2 KHÁI NIỆM BẢO HIỂM:

a.Quá trình hình thành bảo hiểm

Khoảng 4500 năm trước công nguyên, tại Ai Cập, những người thợ thủ công lập ra các

“quĩ tương trợ” bằng sự đóng góp của các thành viên nhằm giúp đỡ các nạn nhân gặp tainạn nghề nghiệp

Ở Trung quốc vào khoảng năm 4000 trước CN các thương nhân khi vận chuyển hànghoá biết các chia nhỏ hàng của mỗi người trên nhiều tàu khác nhau để phân tán rủi ro, không

để chủ hàng nào bị chịu tổn thất lớn khi không may bị tai nạn

Tại Babylon vào khoảng 1700 năm trước CN và ở Aten khoảng 500 trước CN xuất hiệnmột hình thức cho vay nặng lãi (cho vay mạo hiểm lớn) đối với các nhà kinh doanh để mua

và vận chuyển các loại hàng hoá mang tính rủi ro Trường hợp rủi ro xảy ra đối với hànghoá thì bên đi vay không phải trả nợ

Ở La Mã ý tưởng cho vay mạo hiểm lớn được áp dụng rộng rãi nhưng do bị lạm dụng đingược lại với ý niệm và nguyên lý của tôn giáo, cho nên bị Nhà thờ nghiêm cấm Do vậycác Ngân hàng chuyển sang nhận những khoản tiền của các chủ tàu, các thương nhân vàđảm bảo rằng trong trường hợp tàu và hàng hoá nếu gặp rủi ro thì ngân hàng sẽ bù đắptương ứng

Trong thời trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã bắt đầu hình thành nhưng phải

đến năm 1347, bản hợp đồng bảo hiểm đầu tiên mới được ký kết tại Genes (Ý) Vào năm

1426 hội bảo hiểm trong lĩnh vực vận tải đường biển và đường bộ đầu tiên ra đời tại Genes (Ý).

Vào XVII tại một quán cà phê ở Luân Đôn Edvard Lloyd các thuỷ thủ hình thành một quĩ từ đóng góp của các thuỷ thủ nhằm bù đắp những thiệt hại về tài sản do cướp biển thiên tai … xảy ra với các thành viên của nhóm

Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn được đánh dấu bằng vụcháy thảm khốc ở Luân Đôn vào ngày 02/09/1666 hủy hoại 13.000 căn nhà trong đó có hơn

100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một thiệt hại quá lớn không thể cứu trợ được sau đó, cácnhà kinh doanh ở Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách thànhlập những công ty bảo hiểm hỏa hoạn như : “Fire Office” (1667), :Friendly Society” (1684),

“Hand and hand” (1696)

b Quá trình hình thành hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam:

Ở miền nam, vào năm 1926, chi nhánh công ty bảo hiểm đầu tiên là công ty Franco –Asietique

Đến 1929, công ty Việt nam bảo hiểm ra đời đặt trụ sở tại Sài Gòn để hoạt động bảohiểm ôtô

Từ 1952 hoạt động bảo hiểm mở rộng dưới nhiều hình thức phong phú

Cho đến trước 1975, có khoảng 52 công ty

Nghiệp vụ bảo hiểm ở giai đoạn này là chủ yếu gồm bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm chuyên chở hàng hoá

Trang 3

Trước 1975, ở Miền Bắc, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam ra đời theo Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ ngày 17/12/1964 và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/ 1965=> công ty bảo hiểm duy nhất, độc quyền.

Từ 1976 Bảo Việt chuyển đổi thành Tổng công ty với 53 chi nhánh ở khắp các tỉnhthành

Ngày 18/12/1993 Chính phủ ban hành NĐ 100/NĐ-CP về kinh doanh bảo hiểm=> xóađộc quyền

Ngày 9/12/2000 Quốc Hội Khoá X thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm Ngày01/8/2001 Chính phủ ban hành NĐ số 42/2001/NĐ-CP Qui định chi tiết thi hành Luật Kinhdoanh bảo hiểm Ngày 1/8/2001 Chính Phủ còn ban hành NĐ số 43/2001/NĐ-CP qui định

về chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.Nghị định 45, 46/2007 thay thế nghị định 42, 43/2001

Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung 2010

c Khái niệm bảo hiểm

Bảo hiểm được hiểu là chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường những thiệt hại

về của cải hay sức khoẻ, tính mạng con người, bằng cách đảm nhận những rủi ro và đền

bù những rủi ro ấy Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi thiệt hại thì được bồi thường Việc bồi thường được qui định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm.

Bảo hiểm là loại hình dịch vụ cung cấp một cơ chế chuyển giao rủi ro, trong đó, thông qua việc lập một quĩ tập trung được huy động từ sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng xã hội,theo đó bên bảo hiểm cam kết chấp nhận rủi ro của bên được bảo hiểm và sẽ bồi thường, bù đắp những tổn thất mà lẽ ra bên được bảo hiểm phải gánh chịu.

Bảo hiểm là một nghiệp vụ, theo đó, bên được bảo hiểm cam kết trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn của mình để cho cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác đó là bên bảo hiểm.

Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào bất hạnh của số ít

Bảo hiểm phải có đầy đủ các đặc trưng cơ bản sau:

-Thứ nhất, bảo hiểm phải là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm chủ yếu trên

cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm

- Thứ hai, bên bảo hiểm phải cam kết chi trả cho bên mua bảo hiểm, người thụ hưởngkhi đối tượng được bảo hiểm gặp những rủi ro nằm trong phạm vi bảo hiểm

Bảo hiểm là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từphí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm; bên bảo hiểm sử dụng quỹ này để tiến hành chi trả chobên mua bảo hiểm, người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

1.2 CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM :

1.2.1 Bảo hiểm thương mại và phi thương mại.

Bảo hiểm thương mại : là hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp kinh

doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua việc lập quĩ bảo hiểm từ nguồn phí bảo hiểm củacác tổ chức, cá nhân đóng phí bảo hiểm và sử dụng quĩ bảo hiểm bồi thường các thiệt hại

cho các thành viên tham gia bảo hiểm, chi trả khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm

Bảo hiểm phi thương mại : không nhằm mục đích kinh doanh.

Trang 4

So sánh giữa bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội?

1.2.2 Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự:

Bảo hiểm tài sản: Đối tượng quan hệ bảo hiểm là tài sản dưới các hình thức thuộc mọi

phạm trù kinh tế

Bảo hiểm con người Đối tượng bảo hiểm là con người bao gồm: sức khoẻ, mạng sống,

khả năng lao động

Bảo hiểm trách nhiệm : Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm vật chất (trách nhiệm dân sự,

trách nhiệm chi trả các khoản nợ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) của cánhân và pháp nhân đối với người thứ ba

1.2.3 Bảo hiểm nhà nước, bảo hiểm của doanh nghiệp và bảo hiểm tương hỗ

Bảo hiểm nhà nước: là hoạt động bảo hiểm do các tổ chức của nhà nước thực hiện

Bảo hiểm của các doanh nghiệp: là hoạt động bảo hiểm được tiến hành bởi các doanh

nghiệp

Bảo hiểm tương trợ: là loại hình bảo hiểm do các tổ chức bảo hiểm tương hỗ thực hiện.

Các tổ chức bảo hiểm thành lập do sự thoả thuận giữa các cá nhân, pháp nhân nhằm mụcđích chi trả những thiệt hại xảy ra trong các thành viên theo tỷ lệ vốn góp không nhằm mụcđích lợi nhuận

1.2.4 Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện

Bảo hiểm tự nguyện: các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm dựa trên cơ sở tự

nguyện, tự giác mà không bị ràng buộc bất cứ một sự tác động nào

Bảo hiểm bắt buộc Là loại hình bảo hiểm mà khi các tổ chức, cá nhân rơi vào những

tình huống nhất định thì phải mua bảo hiểm

1.2.4 Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện

Bảo hiểm bắt buộc với mục đích:

Bảo vệ lợi ích công cộng, an toàn, trật tư xã hội

Bảo vệ quyền lợi chính đáng của tổ chức, cá nhân không may bị thiệt hại về thân thể, sứckhoẻ, tài sản do người khác gây ra

Bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người gây ra thiệt hại

1.2.4 Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện

Đặc điểm bảo hiểm bắt buộc:

Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinhtheo hợp đồng và ngoài hợp đồng

Quốc Hội, Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền qui định loại bảo hiểm nào là bắt buộc

Tính chất bắt buộc chỉ giới hạn ở chỗ các tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm mua bảo

hiểm theo qui định của pháp luật về điều kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm số tiền bảo hiểm tốithiểu…, mà không phải bắt buộc mua bảo hiểm tại một doanh nghiệp cụ thể, người muabảo hiểm có quyền lựa chọn một trong các công ty bảo hiểm được thành lập và hoạt độnghợp pháp tại VN, doanh nghiệp bảo hiểm không có quyền từ chối khi yêu cầu

1.2.4 Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện

Các loại hình bảo hiểm bắt buộc:

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, vận chuyển hàng không đối với hànhkhách

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công ty tư vấn pháp luật

Trang 5

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Bảo hiểm cháy, nổ

1.2.5 Bảo hiểm tập trung và bảo hiểm không tập trung.

Bảo hiểm không tập trung (bảo hiểm phân tán) quĩ bảo hiểm không tập trung được

thành lập trong các doanh nghiệp dưới hình thức bằng hiện vật

Bảo hiểm tập trung của quốc gia: là quĩ bảo hiểm của quốc gia thuộc sở hữu nhà nước,

nguồn của quĩ hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và sử dụng bù đắp những tổnthất của nền kinh tế

Quĩ bảo hiểm tập trung mang tính cộng đồng: là quĩ bảo hiểm tập trung do sự đóng

góp của nhiều người do các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm quản lý đảm nhận và được

sử dụng để bù đắp thiệt hại cho những ai gặp rủi ro thuộc diện bảo hiểm

1.2.6 Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe

Bảo hiểm nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tính mạng, tuổi thọ của con người.

Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

Bảo hiểm trọn đời;

Bảo hiểm sinh kỳ;

Bảo hiểm tử kỳ;

Bảo hiểm hỗn hợp;

Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

1.26 Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm không phải là con

người như tài sản, trách nhiệm dân sự

1.26 Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt vàđường hàng không;

Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm trách nhiệm;

Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy, nổ;

Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;Bảo hiểm tín dụng và rủi rotài chính;

Bảo hiểm thiệt hại KD; Bảo hiểm nông nghiệp

Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:

Bảo hiểm tai nạn con người;

Bảo hiểm y tế;

Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ

1.3 NGUYÊN TẮC CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM:

1.3.1 Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro khách quan và có tính ngẫu nhiên :

- Cơ sở lý luận:

Trang 6

Nội dung nguyên tắc: Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm và chi trả tiền bảohiểm đối với những rủi ro khách quan và mang tính ngẩu nhiên, tức là những rủi ro xảy rangoài ý muốn của con người.

Mục đích nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm và tránh tìnhtrạng trục lợi bất chính từ bên mua bảo hiểm

1.3.2 Nguyên tắc bảo hiểm theo qui luật lấy số đông bù cho số ít.

Cơ sở lý luận:

- Nội dung nguyên tắc: Theo nguyên tắc này thì số đông người tham gia bảo hiểm (tổ

chức, cá nhân) đóng phí bảo hiểm nhưng tiền bảo hiểm chỉ chi trả cho số ít gặp rủi ro thuộcdiện bảo hiểm

- Mục đích nguyên tắc: Đảm bảo được mục đích kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp

bảo hiểm

1.3.3 Nguyên tắc chọn lọc phân tán rủi ro trong bảo hiểm

Cơ sở lý luận: An toàn trong kinh doanh là yêu cầu có tính nguyên tắc đối với mọi

doanh nghiệp trong nền kinh tế Một doanh nghiệp muốn tạo ra được nhiều lợi nhuận thì độ

an toàn trong kinh doanh phải càng cao Đối với doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh tronglĩnh vực rủi ro cho nên trong hoạt động kinh doanh của mình doanh nghiệp bảo hiểm phảibiết chọn lọc và phân tán rủi ro trong bảo hiểm

Nội dung nguyên tắc:

+ Tái bảo hiểm: Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành mua lại bảo hiểm cho sản phẩm màmình đã chấp nhận bảo hiểm

+ Đồng bảo hiểm: Là hoạt động bảo hiểm do nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cùng chấpnhận bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm theo tỷ lệ % trách nhiệm nhất định đối với đốitượng bảo hiểm đó

Mục đích nguyên tắc: Gíup doanh nghiệp bảo hiểm phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh

1.3.4 Nguyên tắc đền bù trong bảo hiểm :

Nội dung nguyên tắc đền bù: bên được bảo hiểm được đền bù trong trường hợp xảy

ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Lưu ý: Phân biệt giữa đền bù trong BH với bồi thường thiệt hại trong luật dân sự- kinh

tế

Không áp dụng cho bảo hiểm con người

1.3.5 Nguyên tắc hợp tác và trung thực tuyệt đối :

Quan hệ bảo hiểm là quan hệ hợp đồng song vụ tức là quyền của bên này đồng thời sẽ

là nghĩa vụ của bên kia Chính vì vậy lợi ích của hai bên gắn liền với nhau

Mục đích của nguyên tắc: Xác định trách nhiệm của hai bên đồng thời nhằm bảo vệ

quyền lợi hợp pháp cho các bên trong quan hệ bảo hiểm thương mại

- Nội dung nguyên tắc:

Bên mua bảo hiểm

Bên bán bảo hiểm

1.3.6 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm:

Cơ sở lý luận:

Trang 7

Nội dung: Tổ chức bảo hiểm chỉ tiến hành bảo hiểm cho những chủ thể có quyền lợi có

thể được bảo hiểm

Mục đích: thực hiện đúng nguyên tắc của hoạt động bảo hiểm.

1.3.7 Nguyên tắc thế quyền:

Cơ sở lý luận:

Nội dung: Bên được bảo hiểm phải chuyển giao quyền đòi bồi thường, truy đòi cho bên

bảo hiểm thông qua việc cung cấp các tài liệu, biên bản, chứng từ, tài liệu…cần thiết chobên bảo hiểm để bên bảo hiểm truy đòi từ bên thứ ba có lỗi gây ra thiệt hại

Mục đích: bảo vệ quyền lợi cho bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm.

1.4 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM

Bảo hiểm thương mại là công cụ để xử lý rủi ro, duy trì đời sống và hoạt động bình

thường cuả cá nhân và doanh nghiệp

Nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi ro và hạn chế hậu quả phát sinh từ rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội

Bảo hiểm thương mại là công cụ tập trung vốn Hoạt động bảo hiểm của các công ty

bảo hiểm thu hút được một lượng lớn vốn, lượng vốn này sẽ được đầu tư ngược lại nền kinh

tế nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển

II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM 2.1.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm thể chếhoá những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nứơc

Nhằm phát huy ý nghĩa tích cực của bảo hiểm là khắc phục, bù đắp những rủi ro tổn thấtcho xã hội, huy động các nguồn lực tài chính đầu tư phát triển kinh tế đất nước

2.1.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm thiết lậpmột thị trường bảo hiểm cạnh tranh lành mạnh, duy trì trật tự kinh doanh bảo hiểm, bảo vệquyền lợi của người tham gia bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm

Tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm nhằmbảo đảm sự an toàn của hệ thống tài chính của quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế

Thúc đẩy quá trình hội nhập của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Việt Nam với thịtrừơng bảo hiểm quốc tế

2.1.2 Sơ lược quá trình phát triển về pháp luật bảo hiểm ở việt nam.

Quyết định số 175 của Thủ tướng Chính phủ ngày 17.12.1964 Thành lập Tổng công tybảo hiểm Việt Nam

Nghị định số 100/1993/NĐ-CP qui định về kinh doanh bảo hiểm ngày 18/12/1993: đadạng hoá các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm, các sản phẩm bảo hiểm, tạo môi trường cạnhtranh trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh bảo hiểm Ngày 14/6/1997 Chính phủ ban hành

NĐ số 74 sửa đổi bổ sung một số điều NĐ 100/NĐ-CP

Ngày 17/12/1997 Chính phủ ban hành NĐ số 115/NĐ-CP về chế độ bảo hiểm bắt buộctrách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Trang 8

Bộ Luật Dân sự Việt Nam ngày 28/10/1995 cũng qui định các vấn đề về bảo hiểm (từ Đ,

571 đến Đ 584) Bộ Luật hành hải, Luật hàng không dân dụng, Luật dầu khí, Luật đầu tưnước ngoài cũng trực tiếp hay gián tiếp điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm trong những lĩnhvực nhất định

Trong lĩnh vực bảo hiểm y tế Chính phủ ban hành NĐ số 58/NĐ-CP ngày 13/8/1998 banhành kèm theoĐiều lệ bảo hiểm y tế

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội Chính phủ ban hành NĐ số 12/CP ngày 26/1/1995 vềBảo hiểm xã hội

Ngày 9/12/2000 Luật kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua

các Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001; Nghị định số 43/2001/NĐ-CP quiđịnh chi tiết thi hành Luật KDBH

Thông tư số 71/2001/TT-BTC ; Thông tư số 72/2001/TT-BTC ngày 02/8/2001 hướngdẫn thi hành NĐ số 42, 43/2001/NĐ-CP

Nghị định 45, 46/2007 thay thế nghị định 42, 43/2001

Năm 2010, Quoc hội đã thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung 2010

2.2 Khái niệm về PL bảo hiểm thương mại

2.2.1 Khái niệm:

Quan điểm 1: Luật bảo hiểm là một phân ngành luật của Luật tư

Quan điểm 2: Luật bảo hiểm là một chế định trong luật tài chính

Quan điểm 3: luật bảo hiểm là một chế định pháp lý hỗn hợp giữa luật dân sự- kinh tài chính

tế-Pháp luật kinh doanh bảo hiểm theo nghĩa rộng: đó là tổng thể toàn bộ các qui phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo tạo lập những quĩ tiền tệ để thực hiện chức năng phòng ngừa, bù đắp những tổn thất xảy ra đối với tính mạng, sức khoẻ, tài sản cho các cá nhân, tổ chức và xã hội nói chung.

Pháp luật kinh doanh bảo hiểm theo nghĩa hẹp hay pháp luật về bảo hiểm thương mại:

là toàn bộ các qui phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có đặc tính chung phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Pháp Luật kinh doanh bảo hiểm: là tổng thể các qui phạm pháp luật do cơ quan nhànước có thẩm quyền ban hành, theo đúng trình tự luật định, điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình nhà nước tổ chức, quản lý hoạt động bảo hiểm thương mại, cácquan hệ giữa doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với các tổ chức, cá nhân tham gia bảohiểm

2.2.2 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm.

Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ chức hệ thống bảo hiểm , quản lý nhànước các doanh nghiệp bảo hiểm và hoạt động bảo hiểm Nhà nước thực hiện chức năngcủa mình thông qua việc qui hoạch, xây dựng , quản lý và giám sát hoạt động kinh doanhbảo hiểm

Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, lãnh đạo điều hành nội bộcác doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quan hệ xã hội phát sinh giữa doanh nghiệp kinhdoanh bảo hiểm và hệ thống các chi nhánh, đại lý của nó

Trang 9

Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình thực hiện hoạt động kinh doanh bảohiểm Nhóm quan hệ xã hội này có sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm và kháchhàng Nhóm quan hệ này mang tính bình đẳng, tự do.

2.3.2 Chủ thể: Bao gồm bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Bên mua bảo hiểm:

Bao gồm các tổ chức và cá nhân

Đối với cá nhân thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (phải đủ 18 tuổi trởlên)

Đối với tổ chức phải có năng lực pháp luật theo qui định của pháp luật

Bên doanh nghiệp bảo hiểm:

Doanh nghiệp muốn kinh doanh bảo hiểm phải có các điều kiện sau:

Phải có đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp theo qui định của pháp luật;

Phải có vốn điều lệ bằng hoặc cao hơn vốn pháp định;

Phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản về việc cho phép thành lập và hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm

Lưu ý: Khi tiến hành kinh doanh bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ cácqui định sau:

Chỉ có những loại hình doanh nghiệp sau mới được phép kinh doanh bảo hiểm (theođiều 59 Luật sửa đổi, bổ sung 2010):

“+Công ty cổ phần bảo hiểm;

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;

+ Hợp tác xã bảo hiểm;

+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.”

Một doanh nghiệp bảo hiểm không được đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảohiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụbảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ

2.3.3 Khách thể:

Khách thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm thương mại chính là tiền, các giấy tờ có giátrị như tiền, tài sản

2.3.4 Nội dung quan hệ

Bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nàychính là hợp đồng bảo hiểm thương mại

2.3.4 Nội dung quan hệ

Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:

Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa

vụ của bên mua bảo hiểm

Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giaokết hợp đồng bảo hiểm

Trang 10

Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Theo quy định của pháp luật là trong vòng 15 ngày kể từngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường hoặc đòi trả tiền bảo hiểm).

Phải thông báo bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm biết về việc từ chối chi trả bảohiểm

Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường

về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm:

- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồngbảo hiểm

- Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầucủa doanh nghiệp bảo hiểm

- Thông báo những trường hợp có thể làm gia tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm tráchnhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêucầu của doanh nghiệp bảo hiểm

- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuậntrong HĐBH

- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của pháp luật

2.4 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Hiến pháp 2013

Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09/12/2000, 2010

Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, luật đầu tư, Luật phá sản doanh nghiệp,

Các Nghị định của Chính phủ;

Các Thông tư của các Bộ và cơ quan ngang Bộ

Ngoài các văn bản pháp luật chuyên về bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cònchịu sự điều chỉnh của các qui phạm pháp luật rải rác trong các văn bản khác như: Bộ luậthàng hải; Bộ luật hàng không dân dụng; Luật dầu khí

2.5 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM:

Khái niệm kinh doanh bảo hiểm :

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi,theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bênmua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụhưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Kinh doanh tái bảo hiểm: là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh

lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảohiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm

Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao

kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo ủyquyền của doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động môi giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm

về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vàcác công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theoyêu cầu của bên mua bảo hiểm

Trang 11

Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng

được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụhưởng

Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo

hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người

Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp

bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảohiểm hoặc người thụ hưởng

Khái niệm quyền lợi được bảo hiểm: Theo k 9 Đ 3 Luật kinh doanh bảo hiểm thì:

Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm

Rủi ro bảo hiểm: là những sự kiện mang tính giả định, nếu những sự kiện này xảy ra thì

tiến hành bảo hiểm Trong pháp luật bảo hiểm Việt Nam hiện hành không tồn tại khái niệmnày Rủi ro bảo hiểm phải: khách quan không mang tính tất yếu, tức không phụ thuộc ý chíchủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm

Khái niệm sự kiện bảo hiểm:Theo k10 Đ 3 Luật kinh doanh bảo hiểm thì Sự kiện bảo

hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện

đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm

sống hoặc chết

Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm ti sản, trách nhiệm dân sự và các

nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ

Trang 12

Chương II ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH BẢO HIỂM

I DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Khái niệm, phân loại các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

1.1.1 Khái niệm:

Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập theo luật kinh doanh bảo hiểm

và các qui định pháp luật khác liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

Đặc điểm:

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp

Hoạt động mang tính thường xuyên, mang lại thu nhập chính của các doanh nghiệp kinh

tế bảo hiểm là hoạt động kinh doanh bảo hiểm với mục tiêu lợi nhuận

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm chịu sự quản lý thống nhất của Bộ tài chính

1.1.2 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM:

Luật Kinh doanh Bảo hiểm ngày 09/12/2000 qui định các doanh nghiệp bảo hiểm được

tổ chức và hoạt động theo các loại hình sau:

Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước;

Công ty cổ phần bảo hiểm;

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh;

Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Theo điều 59 Luật KDBH sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì:

Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

Công ty cổ phần bảo hiểm;

Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;

Hợp tác xã bảo hiểm;

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước do nhà nước thành lập bằng vốn của nhà nước, nhà

nước cử người điều hành, quản trị Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước được tổ chức dưới

mô hình là một doanh nghiệp (tổng công ty nhà nước) và chịu sự điều chỉnh bởi phápluật bảo hiểm với tính chất là pháp luật chuyên ngành và chịu sự điềuchỉnh bởi phápluật doanh nghiệp với tính chất là luật chung

=>Nay chuyển sang làm công ty TNHH 1TV bảo hiểm

Công ty cổ phần bảo hiểm: Là những công ty được thành lập bằng vốn góp của các cổ

đông nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục tiêu lợi nhuận

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh

doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên

Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm Chỉ có tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tương hỗmới có thể trở thành thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Loại hình chủ thể này ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu trong thực tế một số ngànhnghề như đánh bắt hài sản, nông nghiệp

Trang 13

Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài theo pháp luật hiện hành có ba loại hình

(hình thức) tổ chức và hoạt động: Điều 105 (2010 )

Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nước ngoài

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo quyđịnh của Chính phủ

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam Vănphòng đại diện không được kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.”

Tại sao pháp luật VN không cho phép hành lập doanh nghiệp bảo hiểm dưới loại hìnhDNTN?

1.2 THỦ TỤC, TRÌNH TỰ THÀNH LẬP, HOẠT ĐỘNG

1.2.1 Thủ tục thành lập doanh nghiệp bảo hiểm.

Điều kiện để được cấp giấy phép (Đ 63 Luật kinh doanh bảo hiểm):

Thứ nhất, có vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo qui định của Chính phủ.

Xem diều 10 Nghị định 73-2016

Điều kiện để được cấp giấy phép (Đ 63 Luật kinh doanh bảo hiểm):

Thứ hai, có hồ sơ xin phép thành lập và hoạt động theo qui định tại Đ64 Luật Kinhdoanh bảo hiểm

Thứ ba, có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với các qui định pháp luật

Thứ tư, ngừơi quản trị điều hành có năng lực quản lý, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

về bảo hiểm

Điều kiện để được cấp giấy phép (Đ 63 Luật kinh doanh bảo hiểm):

Thứ năm, tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanhnghiệp môi giới bảo hiểm phải có đủ năng lực tài chính và có bằng chứng để chứng minhnguồn tài chính hợp pháp khi tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm

Thứ sáu, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài góp vốn thành lậpdoanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện là không thuộc các đối tượng bị cấm theoquy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp;

Hồ sơ cấp giấy phép thành lập và hoạt động:

Đ 64 qui định hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp bảohiểm bao gồm:

Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động ;

Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;

Phương án hoạt động kinh doanh năm năm đầu;

Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụcủa người quản trị, người điều hành doanh nghiệp

Mức vốn góp và phương thức góp vốn, danh sách các tổ chức, cá nhân chiếm 10% sốvốn điều lệ trở lên, tình hình tài chính và những thông tin liên quan đấn các tổ chức, cánhân đó

Qui tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiếntiến hành

Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao Hồ

Trang 14

sơ đề nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có

vốn đầu tư nước ngoài được lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt

và 1 (một) bản bằng tiếng nước ngoài thông dụng Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch

từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theoquy định của pháp luật về công chứng Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xáccủa hồ sơ xin cấp Giấy phép

Thời hạn cấp giấy phép và lệ phí cấp giấy phép:

Thời hạn cấp giấy phép là 60 ngày, kể từ ngày nhận nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phépthành lập và hoạt động Cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các doanhnghiệp bảo hiểm là Bộ Tài chính Trường hợp tư chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải cóvăn bản giải thích lý do

Lệ phí cấp giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm là 0,1% vốn pháp định cho từng loạihình doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.2 Điều kiện hoạt động của doanh nghiệp Bảo hiểm.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng báo hàng ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số báo liên tiếp về những nội dung chủ yếu như

sau: tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; nộidung, phạm vi và thời hạn hoạt động; mức vốn điều lệ và số vốn điều lệ đã góp; họ, tên củangười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; số Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thànhlập và hoạt động; các nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ môi giới bảo hiểm được phép kinhdoanh

Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật

để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm Nếu quá thời hạn này

mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt động thì bịthu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm khi có những thay đổi sau phải được

Bộ Tài chính chấp thuận chấp thuận bằng văn bản: tên doanh nghiệp; vốn điều lệ; mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

1.2.3 Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động (xem điều 68 Luật KDBH 2000)

Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;

Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầuhoạt động ;

Giải thể doanh nghiệp bảo hiểm;

Chia tách, sáp nhập, hợp nhất, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp

Hoạt động sai với mục đích hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép thànhlập và hoạt động;

Không đảm bảo các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kêt với bên mua bảohiểm

1.3 Giải thể, phá sản và khôi phục khả năng thanh toán của DNBH

1.3.1 Giải thể DNBH:

Doanh nghiệp bảo hiểm giải thể trong các trường hợp sau đây:

Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ;

Trang 15

Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động mà không

có quyết định gia hạn;

Bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động;

Việc giải thể doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản

1.3.2 Khả năng thanh toán và khôi phục khả năng thanh toán của DNBH

Khả năng thanh toán:

Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ

dự phòng nghiệp vụ theo quy định tại Điều 96 của Luật KDBH và có biên khả năng thanhtoán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ (Đ77luật)

Doanh nghiệp bảo hiểm bị coi là có nguy cơ mất khả năng thanh toán khi biên khả năngthanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu (Đ66Nghị định 73/2016, Đ78 Luật))

Dự phòng nghiệp vụ

Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mụcđích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ cáchợp đồng bảo hiểm đã giao kết

Dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phảitương ứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm

Điều 53-56 Nghị định 73/2016

Biên khả năng thanh toán

Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giá trị tàisản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năngthanh toán

Các tài sản tính biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm tínhthanh khoản Các tài sản bị loại trừ toàn bộ hoặc một phần khi tính biên khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

Xem điều 65 Nghị định 73/2016

Trong trường hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp bảo hiểm phải báocáo ngay Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năngthanh toán và các biện pháp khắc phục

DNBH phải thực hiện các biện pháp sau đây:

Lập phương án khôi phục khả năng thanh toán, củng cố tổ chức và hoạt động của doanhnghiệp, báo cáo Bộ Tài chính và thực hiện phương án đã được Bộ Tài chính chấp thuận;Thực hiện yêu cầu của Bộ Tài chính về việc khôi phục khả năng thanh toán

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không tự khôi phục được khả năng thanh toánthì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả năngthanh toán, gồm những biện pháp sau:

Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu;

Tái bảo hiểm; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặctoàn bộ hoạt động;

Củng cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp;

Yêu cầu chuyển giao hợp đồng bảo hiểm;

Trang 16

Kiểm soát đối với doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toántheo phương án đã được chấp thuận, Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soátkhả năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanhnghiệp bảo hiểm

Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau

Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng thanhtoán theo phương án đã được chấp thuận;

Thông báo cho các cơ quan nhà nước có liên quan về việc áp dụng các biện pháp khôiphục khả năng thanh toán để phối hợp thực hiện;

Hạn chế phạm vi và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;

Đình chỉ những hoạt động có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năngthanh toán;

Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau

Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chuyển giao toàn bộ HĐBH của một hoặc một sốnghiệp vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác;

Tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thay thếthành viên HĐQT, TGĐ (GĐ), PTGĐ (PGĐ) nếu xét thấy cần thiết;

Yêu cầu HĐQT, TGĐ (GĐ) miễn nhiệm, đình chỉ công tác đối với những người cóhành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành phương án khôi phục khả năng thanh toán đãđược chấp thuận;

Kiến nghị với Bộ Tài chính tiếp tục hoặc chấm dứt các biện pháp khôi phục khả năngthanh toán;

Báo cáo Bộ Tài chính về việc áp dụng và kết quả của việc áp dụng các biện pháp khôiphục khả năng thanh toán

Ban kiểm soát khả năng thanh toán phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình theoquy định của pháp luật trong quá trình áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu, quyết định của Ban kiểmsoát khả năng thanh toán

Chấm dứt việc áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán

Hết hạn áp dụng biện pháp khôi phục khả năng thanh toán;

Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm trở lại bình thường;

Doanh nghiệp bảo hiểm đã được hợp nhất, sáp nhập trước khi hết thời hạn áp dụng biệnpháp khôi phục khả năng thanh toán,;

Doanh nghiệp bảo hiểm lâm vào tình trạng phá sản

Việc chấm dứt áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán được thực hiệntheo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Quyết định này được thông báo cho các cơquan có liên quan

DNBH Hoàng Việt bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và một Ban Kiểm soát khảnăng thanh toán đã được thành lập Trong quá trình hoạt động, Ban Kiểm soát khả năngthanh toán đã có các quyết định sau:

Miễn nhiệm quyền điều hành của TGĐ Cty

Trang 17

Sa thải ông An, nhân viên doanh nghiệp, vì có hành vi thông đồng với khách hàng đểlừa đảo tiền bảo hiểm.

Yêu cầu công ty chuyển giao một số HĐBH cho công ty bảo hiểm Thanh Tâm

Hỏi các quyết định trên là đúng hay sai? Tại sao?

1.3.3 Phá sản DNBH

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có khả năng thanh toán các khoản nợđến hạn, sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà vẫn mất khả năngthanh toán thì việc phá sản doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện theo quy định của phápluật về phá sản doanh nghiệp

1.4 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG, LÃNH ĐẠO ĐIỀU HÀNH CỦA DNBH:

1.4.1 Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm: (điều 24 NĐ 73/2016)

Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

Trụ sở chính;

Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở;

Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môigiới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệcác lợi ích đó;

Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạtđộng kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm

1.4.2 Lãnh đạo điều hành doanh nghiệp bảo hiểm:

Theo qui định trong Luật doanh nghiệp

Tổng giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểmphải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

Việc bổ nhiệm, thay đổi Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) củadoanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải có sự chấp thuận của Bộ Tàichính

1.4.2 Lãnh đạo điều hành doanh nghiệp bảo hiểm:

Lưu ý:

Đối với chuyên gia tính toán (Appointed Actuary)

Chuyên gia tính toán có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an toàn tài chínhcho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Chuyên gia tính toán có quyền độc lập về chuyên mônnghiệp vụ và không được đồng thời kiêm nhiệm các chức vụ sau:

- Tổng giám đốc;

- Kế toán trưởng;

- Thành viên Hội đồng quản trị

Trang 18

1.5 CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM.

1.5.1 Kinh doanh bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm dưới các hình thức sau:Một là trực tiếp;

Hai là thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm

Ba là, thông qua đấu thầu;

Bốn là các hình thức khác

Có sản phẩm bảo hiểm mới tiến hành kinh doanh bảo hiểm

Hoa hồng bảo hiểm

Hoa hồng bảo hiểm là các khoản chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm trả trực tiếp cho doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm sau khi những tổ chức, cá nhân này mang lại dịch vụ cho doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm được chủ động sử dụng hoa hồng bảo hiểm chi cho các nộidung sau:

+ Chi phí khai thác ban đầu (tìm hiểu, thuyết phục và giới thiệu khách hàng);

+ Chi phí thu phí bảo hiểm;

+ Chi phí theo dõi hợp đồng và thuyết phục khách hàng duy trì hợp đồng bảo hiểm

Lưu ý

Đối tượng được hưởng hoa hồng bảo hiểm bao gồm:

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

Đại lý bảo hiểm

Không được chi trả hoa hồng bảo hiểm cho các đối tượng sau:

Tổ chức, cá nhân không được phép hoạt động đại lý bảo hiểm, hoạt động môi giới bảohiểm tại Việt Nam;

Bên mua bảo hiểm, trừ trường hợp đại lý bảo hiểm mua bảo hiểm nhân thọ cho chínhmình;

Cán bộ, nhân viên của chính doanh nghiệp bảo hiểm

Nguyên tắc trong kinh doanh và khai thác BH

Các hành vi cấm trong khai thác BH

Điều 45 nghị định 73/2016

1.5.2 Kinh doanh tái bảo hiểm:

Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinhlợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảohiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm

Có 2 hình thức:

Nhượng tái bảo hiểm

Nhận tái bảo hiểm

Nhượng tái bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một

Trang 19

bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởnghoa hồng tái bảo hiểm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Nhượng tái bảo hiểm

Đối với các loại hình tái bảo hiểm hạn chế (finite reinsurance), trước khi ký kết hợpđồng tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản do người đại diện trước pháp luật kýthông báo cho Bộ Tài chính các nội dung chính của hợp đồng tái bảo hiểm, mục đích ký kếthợp đồng, cam kết tuân thủ các quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và chế độ kếtoán áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Việc nhượng tái cho các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ngoài không được thực hiệntheo các điều kiện thuận lợi hơn so với nhượng tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểmtrong nước

Nhận tái bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà doanh nghiệp bảohiểm khác đã nhận bảo hiểm Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giárủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp

Nhận tái bảo hiểm

Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợpđồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm

- Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóngphí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm

- Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảohiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảohiểm

1.5.3 Các hoạt động khác của DNBH:

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm khi được sự đồng ý của bên mua bảo hiểm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 46-48 73/2016)

Các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất bao gồm:

Tổ chức tuyên truyền, giáo dục;

Tài trợ, hỗ trợ các phương tiện, vật chất để đề phòng hạn chế rủi ro;

Hỗ trợ xây dựng các công trình nhằm mục đích đề phòng, giảm nhẹ mức độ rủi ro chocác đối tượng bảo hiểm;

Thuê các tổ chức, cá nhân khác giám sát, đề phòng, hạn chế tổn thất.

1.5.3 Các hoạt động khác của DNBH:

Giám định tổn thất

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệpbảo hiểm uỷ quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độtổn thất Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm chịu

Trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì cóthể trưng cầu giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảohiểm Trong trường hợp các bên không thoả thuận được việc trưng cầu giám định viên độclập thì một trong các bên được yêu cầu Toà án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của ngườiđược bảo hiểm chỉ định giám định viên độc lập

Trang 20

1.5.3 Các hoạt động khác của DNBH:

Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm thực hiện theo quy định tại các Điều 74, 75 và 76của Luật Kinh doanh bảo hiểm, điều 48 Nghị định 73/2016 và theo hướng dẫn của Bộ Tàichính

1.5.3 Các hoạt động khác của DNBH:

Đầu tư vốn:

Nguồn vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm baogồm:

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

Các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm làtổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng đểbồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảohiểm thường xuyên trong kỳ đối với bảo hiểm nhân thọ

Khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với DNKDBH PhiNhân thọ không thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các tổchức tín dụng hoạt động tại Việt Nam

Khoản tiền dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh nghiệp kinhdoanh bảo hiểm nhân thọ không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và đượcgửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam

Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phảiđược thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp bảo hiểm hoặc thông qua uỷ thác đầu tư và chỉđược đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực sau:

Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm

Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ:

Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chứctín dụng không hạn chế;

Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanhnghiệp khác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;

Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảohiểm

Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm

Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:

Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chứctín dụng không hạn chế;

Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanhnghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;

Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảohiểm

Trang 21

2 DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM

2.1 Khái niệm doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảohiểm theo pháp luật kinh doanh bảo hiểm

Hoạt động môi giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm

về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vàcác công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm

2.1 Khái niệm doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thành lập và thực hiện các hoạt độngnhư: cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảohiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đến việc đàmphán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm

=> là người đại diện nên chịu trách nhiệm về lời tư vấn

2.2 Hình thức pháp lý của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Vì công ty môi giới là bên cung cấp các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm mà không hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm trực tiếp do vậy pháp luật không hạn chế hình thức pháp lý của

tổ chức môi giới bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ không cho phép các cá nhân thực hiện hoạt động môi giớibảo hiểm nếu không thành lập doanh nghiệp So với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm,doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có thêm các loại hình là doanh nghiệp tư nhân, Công tyTNHH

2.3 Thủ tục thành lập, hoạt động giải thể phá sản các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

Tổ chức, cá nhân muốn thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm phải thành lập doanhnghiệp môi giới bảo hiểm

Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp môi giớibảo hiểm giống như điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhưng trong hồ

sơ không phải nêu phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm,đầu tư vốn, khả năng thanh toán trong phương án kinh doanh

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp lệphí

2.4 Hoạt động của DNMGBH

Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm bao gồm các nghiệp vụ sau:

Cung cấp thông tin về các loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm,DNBH cho bên mua BH;

Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa DNBH và bên mua bảo hiểm;Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện HĐBH theo yêu cầu củabên mua bảo hiểm

Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá các rủi ro, lựa chọn loại hình bảohiểm , điều kiện, điều khoản bảo hiểm, biểu phí bảo hiểm , doanh nghiệp bảo hiểm

2.4 Quyền và nghĩa vụ của DNMGBH

DNMGBH được hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm Hoa hồng môi giới bảo hiểm đượctính trong phí bảo hiểm

DNMGBH có nghĩa vụ:

Trang 22

Thực hiện việc môi giới trung thực;

Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp củabên mua bảo hiểm;

Bồi thường thiệt hại cho bên mua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam.

3.ĐẠI LÝ BẢO HIỂM

Khái niệm đại lý bảo hiểm.

Đại lý bảo hiểm là các cá nhân, tổ chức được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ

sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện những hoạt động đại lý bảo hiểm

Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giaokết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷquyền của doanh nghiệp bảo hiểm

3.2 Hình thức pháp lý của đại lý bảo hiểm

Đối với đại lý bảo hiểm, việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động không đặt ra bởi đại

lý hoạt động không nhân danh chính mình, không tự chịu trách nhiệm bằng tài sản củachính mình đối với người mua bảo hiểm Đại lý bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm trước doanhnghiệp bảo hiểm trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểmvới đại lý Do vậy pháp luật không giới hạn các chủ thể thực hiện hoạt động đại lý bảohiểm là pháp nhân hay cá nhân

=> DNBH được tự do lựa chọn đại lý bảo hiểm

Các điều kiện để trở thành đại lý bảo hiểm: (điều 86 Luật kinh doanh bảo hiểm)

Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:

Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;

Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

Có Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp.Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc

bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của pháp luật không được kýkết hợp đồng đại lý bảo hiểm

Các điều kiện để trở thành đại lý bảo hiểm: (điều 86 Luật kinh doanh bảo hiểm)

Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau đây:

3.3 Các nội dung cơ bản trong hoạt động của đại lý bảo hiểm

Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

Trang 23

Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

Thu phí bảo hiểm;

Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hoạt động kinh doanh bảohiểm

3.3 Các nội dung cơ bản trong hoạt động của đại lý bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện theo đúng nội dung của hợp đồng đại lý đã kýkết Truờng hợp đại lý vi phạm thoả thuận thì phải chịu những chế tài qui định trong hợpđồng

Trong trường hợp đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm, gây thiệt hại đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịutrách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết; đại lý bảo hiểm cótrách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm

đã bồi thường cho người được bảo hiểm

3.4 Tư cách pháp lý của Đại lý bảo hiểm

Trong quan hệ với Doanh nghiệp bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm là người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiện các hoạtđộng đại lý bảo hiểm (tư cách của người được ủy quyền hay người thụ ủy)

Trong quan hệ với Người mua bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm là người đại diện doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các công việc nhưgiới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm … (tưcách của bên bán bảo hiểm)

3.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hoạt động đại lý bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm có các quyền sau:

Lựa chọn đại lý bảo hiểm và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm;

Quy định mức chi trả hoa hồng bảo hiểm trong hợp đồng đại lý bảo hiểm theo các quyđịnh của pháp luật;

Nhận và quản lý tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của đại lý bảo hiểm, nếu có thoảthuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;

Yêu cầu đại lý bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm thu được theo thoả thuận trong hợpđồng bảo hiểm;

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;

Được hưởng các quyền lợi hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm

3.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hoạt động đại lý bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

Tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ đào tạo đại lý phù hợp với quy định của pháp luật;Hướng dẫn và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đếnhoạt động đại lý bảo hiểm;

Thực hiện các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký kết;

Thanh toán hoa hồng theo thoả thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;

3.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hoạt động đại lý bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

Ngày đăng: 25/12/2021, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w