Trước thực trạng nêu trên việc đặt ra trước mắt cho cả hoạt động dạy – học của giáo viên vàhọc sinh trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông THPT là làm sao có được phương pháp tiếpcậ
Trang 1Phần I: Đặt vấn đềI/ Bối cảnh chọn đề tài:
Nhà thơ Vũ Cao từng phát biểu : " Tôi còn nhớ trước cách mạng tháng 8, một thầy giáo dạy văn đã nói với lớp học chúng tôi như sau: văn là tinh thần con người, các em học văn là để hiểu mà ngẩng cao đầu lên, là để không chịu quỳ gối mãi trước những kẻ chà đạp lên nhân phẩm con người Học văn là để hiểu lẽ sống, hiểu cái đẹp của cuộc sống, để phấn đấu cho cái đẹp ấy Một câu viết cho đúng, một từ dùng cho chính xác cũng là nhằm mục đích ấy của môn học văn"
Chúng ta không thể không thừa nhận bộ môn Ngữ văn là một môn quan trong trong nhàtrường phổ thông Bởi ngoài là môn học như bao môn học khác, môn văn còn cung cấp cho họcsinh nhưng hiểu biết về văn hóa, con người Việt Nam và thế giới, hướng các em đến những giá trịcao đẹp của cuộc sống như Chân – Thiện – Mĩ
Nhưng thực tế hiện nay, môn Ngữ văn đang dần dần mất vị trí là một môn học chính, quan trọng mà bị xếp sau một số môn học được coi là thực tế hơn để thi tuyển sinh vào các
trường ĐH – CĐ như Toán, Hóa, Lý, Anh, Tin
Dù thế nào thì môn Văn vẫn là một môn học bắt buộc trong chương trình phổ thông và cómặt trong một số khối thi ĐH - CĐ, đặc biệt môn Văn luôn là môn thi bắt buộc trong kì thi TNTHPT
II/ Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết kì thi TN THPT là một trong những kì thi có sức ép tương đối lớn đốivới các em học sinh, nó là cánh cửa đầu tiên mở ra tương lai cho các em Vì vậy học gì và học nhưthế nào để có kết quả tốt nhất trở thành mối quan tâm hàng đầu không chỉ của học sinh mà cả phụhuynh, nhà trường và toàn xã hội Nhưng phần nhiều học sinh chưa có phương pháp học thích hợpcho từng môn học, chưa đề ra mục tiêu con điểm cần đạt được cho từng môn thi dẫn đến nhiều emhọc câu này lộn câu kia, đang học môn này lại nhảy sang học môn khác
Trước thực trạng nêu trên việc đặt ra trước mắt cho cả hoạt động dạy – học của giáo viên vàhọc sinh trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) là làm sao có được phương pháp tiếpcận kiến thức một cách hiệu quả nhất
Năm học 2011- 2012 Bộ giáo dục - đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằmnâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong các nhà trường phổ thông Một trong những
phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD)
-một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu
và vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất cóhiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh, đặc biệt là trong giờ ôn tập thi TN Với việc áp dụng BĐTD trong giờ ôn tập, từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tự mình pháthiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học Bắt đầu bằng những kiến thức tổng quát nhất - trọng tâmbài học - trung tâm bản đồ, học sinh phát hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học,những ý nhỏ trong từng ý lớn Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản đồ có thể tái hiện, thuyếttrình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học Đồng thời phương pháp này còn giúp HS pháthuy được tính tích cực chủ động và sáng tạo, giúp các em ngày càng tự tin hơn vào khả năng củachính mình, từ đó tạo tâm lí thoải mái giúp các em hoàn thành tốt bài thi, tránh tâm lí nặng nề củahọc sinh mà ta thường thấy trước giờ thi
Trang 2Vì vậy tôi mong rằng với ý tưởng của mình GV và HS có thể phối hợp để tạo ra một sảnphẩm hoàn chỉnh cho kì thi TN Đó là “Tài liệu ôn tập thi TN THPT môn ngữ văn bằng bản đồ tưduy”
III/ Phạm vi nghiên cứu:
Vì trong năm học này và cả năm học 2011-2012 tôi chỉ được phân công giảng dạy Ngữvăn lớp 11 và lớp 12 nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụ trách Trong phạm
vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong vấn đề lớn : “Hướng dẫn học sinh khối 12 ôn thi TN THPT môn Ngữ Văn bằng bản đồ tư duy” (học sinh làm trên giấy hoặc vận
dụng phần mềm Mind Manager, Mind Map…)
IV/ Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Ôn tập bằng BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứucho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ,
tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh ôn tập mộtcách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong giờ ôn tập ngữ văn sẽ dần dần hình thành cho học sinh tưduy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học
Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp, gợi mở,thuyết trình, xem phim minh họa… có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học.Đặc biệt là khả năng ghi nhớ bao quát tổng hợp bài học
Sơ đồ tư duy cũng giúp các em và các thầy cô giáo tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà vàtrên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy (Mind Manager, Mind Map…) trên máy mà các
em có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp (Nếu làm trêngiấy cũng tượng tự)
Với kinh nghiệm đó, tôi có thể khẳng định chỉ cần có sự hướng dẫn tỉ mỉ của các thầy côgiáo và các điều kiện hỗ trợ ở những môi trường giáo dục tốt, cũng như với những phương phápdạy học tối ưu thì học sinh chúng ta hoàn toàn có thể chiếm lĩnh – ghi nhớ tri thức một cách chủđộng và sáng tạo
Trang 3Phần II: Nội dungI/ Cơ sở lí luận của vấn đề:
Học sinh muốn đạt điểm cao môn Ngữ văn, trước hết, các em cần nắm vững kiến thức cơbản của chương trình lớp 12 THPT và cấu trúc đề thi tốt nghiệp Ngoài nắm kiến thức cơ bản thísinh còn phải chú trọng đến kĩ năng làm bài như phân tích đề, tìm ý, triển khai ý, mở bài, kết bài,chuyển đoạn,… trong đó cần đặc biệt chú trọng:
+ Kĩ năng làm các câu hỏi tái hiện kiến thức về sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quanniệm văn chương của tác giả; hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề của tác phẩm…(câu 2 điểm)
+ Kĩ năng làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống; về một tư tưởng, đạo lý.(câu 3 điểm)
+ Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm (đoạn trích) văn xuôi hoặc bài thơ, đoạn thơ (câu
5 điểm)
Nên vấn đề ở đây là giáo viên và học sinh cần làm gì để ghi nhận và hệ thống một cách khoahọc nhất kiến thức cho mỗi bài học, từng dạng câu hỏi, phương pháp làm bài Đặc biệt là phương phápchiếm lĩnh thông tin nhanh, chính xác và hiệu quả
Tôi nghĩ BĐTD là một trong những giải pháp cơ bản đáp ững được các yêu cầu đó
Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số Với
cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa sử dụng kỹ
năng bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian vàcách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả vấn đề
Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản đồ địa lí màBĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét
vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy củamỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt cácnhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau,cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng do
đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Ví dụ:
Trang 5BĐTD về Hình tượng sông Đà (Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân):
Trang 61.2/ Về tác giả BĐTD - Tony Buzan:
Tony Buzan (sinh năm 1942) tại Luân Đôn (Anh) là một tác gia, nhà tâm lý và là cha đẻ
của phương pháp tư duy Mind map (Sơ đồ tư duy Giản đồ ý) Tony Buzan từng nhận bằng Danh
dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐHBritish Columbia năm 1964 Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ
Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốcgia trên thế giới Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head” Trong đó, ôngtrình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map Ngoài ra,ông còn có một số sách nổi tiếng khác như Use your memory, Mind Map Book
1.3/ Cấu tạo BĐTD:
- Ở giữ bản đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm.
- Ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh chính thể
hiện ý tưởng chính và đều được nối với trung tâm
- Các nhánh chính lại được phân thành các nhánh nhỏnhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu
- BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng
- BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc
3/ Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học và ôn tập môn Ngữ văn:
Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khóa để nêu kiến thức của bài mới rồiyêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liênquan đến từ khóa đó, học sinh sẽ nắm được bài học một cách dễ dàng
Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi bài, tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗichương phần…: Sau mỗi bài học giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thứctrọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD Mỗi bài học được vẽ kiến thức trênmột trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thứckhi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng – Đó cũng là vấn đề tôi muốn chia sẻ với quý đồngnghiệp trong sáng kiến kinh nghiệm này
4/ Những ưu điểm của BĐTD:
Ưu điểm của BĐTD?
• Dễ nhìn, dễ viết
• Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của HS
• Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não
Trang 7• Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
Bản đồ tư duy sẽ giúp:
là những yêu cầu khắt khe, mang tính đặc thù của bộ môn văn học Mặt khác, xu hướng nghềnghiệp hiện nay khá rộng mở đối với các ngành khoa học tự nhiên, tính thực dụng trong học tậpcũng là một nguyên nhân khiến học sinh ngày càng thờ ơ với bộ môn Văn học Đặc biệt, hình thứctruyền thụ truyền thống lấy thuyết giảng làm chính đã trở nên đơn điệu, xơ cứng, không phù hợpvới tâm lý con người hiện đại Điều này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú học tập, khảnăng sáng tạo của học sinh
Theo kết quả điều tra về thực trạng ôn thi Tốt nghiệp THPT hiện nay thì tâm lý chung củagiáo viên dạy Ngữ văn là ngại dạy các giờ ôn thi tốt nghiệp
Theo khảo sát ở phiếu thăm dò (khảo sát đầu năm ở 3 lớp 11ª2 , 12ª9 và 12ª10 trườngTHPT Nguyễn Trung Trực), có 71% (69/97) học sinh chán học giờ ôn tập Ngữ văn Ngoài ra các
em tỏ ra mệt mỏi, buồn ngủ, lượng kiến thức quá lớn vì học chéo buổi hoặc quá tải
2 Trình bày nguyên nhân và phân tích thực trạng:
- Giáo viên:
+ Lượng kiến thức môn Ngữ văn cho kỳ thi khá lớn nhưng thời gian ôn thi lại ít nên không
đủ để giáo viên có thể cho học sinh hoạt động như các tiết học trên lớp
+ Khi học sinh ồn hoặc mất tập trung trong giờ học, giáo viên không thể dùng biện pháp xử
lí như trong giờ học chính khóa; một số giáo viên tỏ ra bất mãn, thất vọng dẫn đến mất hứng thútrong giờ ôn tập và thường kéo theo các hệ lụy khó lường
+ Giờ ôn thi Ngữ văn dễ rơi vào kiểu truyền thống nên chưa tích cực hóa hoạt động học tậpcủa người học, chưa thể hiện được vai trò quan trọng của giáo viên trong việc hướng dẫn, tổ chứctiết học…
- Học sinh:
+ Nhiều em xem đây là một tiết học không ảnh hưởng đến kết quả xếp loại học lực hoặchạnh kiểm nên thiếu tính chuyên cần Ngoài ra một số em học khá các môn tự nhiên và quyết địnhchọn thi đại học khối A, B nên có thái độ xem nhẹ môn Ngữ văn
Trang 8+ Việc trong giờ ôn tập có một vài em không tập trung sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đếncác em xung quanh.
+ Học sinh thường chỉ hoạt động vì con điểm, nói cách khác các em biến mình thành “nô lệ của những con điểm” nên không khí hào hứng của lớp học, thái độ hợp tác của người cùng học và
người học với người dạy gần như không có
3 Đánh giá chung:
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Văn học, gần đây, trên các diễn đàn nghiêncứu, các hội nghị, hội thảo, người ta đã bàn nhiều đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Mốiquan tâm bức xúc đối với những người trực tiếp giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông là làmthế nào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ,khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Văn học trong tình hình hiện nay
Từ trước đến nay, trong các giờ ôn tập vì học sinh chán học (có thể không thích học mônvăn hay vì lí do nào đó…) nên không chủ động chuẩn bị trước bài học ở nhà, nên những tiết ôn tậpmôn văn giáo viên thường phải làm việc nhiều, còn học sinh thụ động, máy móc ghi nhận lại kiếnthức một chiều mà không nêu những ý kiến thắc mắc, không hiểu về bài học Tiết ôn tập trở thành
“cực hình” đối với cả thầy lần trò
Giải quyết thực trạng trên đây, theo chúng tôi, cần phải kết hợp đổi mới phương pháp giảngdạy trong từng tiết học, đặc biệt hơn ở tiết ôn tập, vì tiết học này nếu không khéo nó dể trở thànhtiết học “thô”, nhắc lại kiến thức bài học một cách máy móc
III/ Các biện pháp để giải quyết vấn đề:
Vậy làm sau để học sinh, nhất là học sinh khối 12 có thể vận dụng và vận dụng sáng tạo
trong giờ ôn tập thi tốt nghiệp môn Văn?
Thiết nghĩ giáo viên cần vận dụng phương pháp dùng BĐTD theo một qui trình nhất địnhtrước giờ ôn tập:
1/ Hướng dẫn tạo bản đồ tư duy trên máy tính (Vẽ bằng phần mềm: Word, Excel, Photoshop, MindMapper 8.0 Professional, MindManager, ConceptDraw Mindmap 5 Professional,…)
Khi mở chương trình, nhấn vào New để tạơ sơ đồ mới Bạn có thể chọn mẫu cố định hoặc
tự do > OK Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic > ấn Enter để hoàn thành > ấn Enter lần nữa đểlập ý nhánh trong ô Main Topic Trong ô này, bạn có thể nêu các ý nhỏ hơn bằng cách bấm chuộtphải > Insert Subtopic Các nhánh có thể xóa và thêm dễ dàng.giúp người ta liên tưởng để sángtạo
Sau khi làm xong bạn có thể chuyển nó sang nhiều định dạng file khác nhau như PDF, MSWord, Powerpoint, Ngoài ra, người dùng còn chèn được ghi chú, văn bản, hình ảnh, âm thanh,đường link trang web và còn nhiều điều thú vị nữa
2./ Sử dụng BĐTD trong dạy học – trên giấy học sinh: (Phương thức chính)
2.1/ Nguyên lí hoạt động:
Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy đúng theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của
bộ não Ở vị trí trung tâm của bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng haymột khái niệm chủ đạo Ý trung tâm đó được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng cácnhánh chính Từ các nhánh chính đó lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu
Trang 9hơn Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau.Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng.
2.2/ Phương thức tạo lập:
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Hình ảnh có thể thay thế cho
cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình Sau đó có thể bổsung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu , câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc về chủđề
VD: Chủ đề là ý kiến chính
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra mộtcách dễ dàng
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗikhúc nên chỉ có tối đa một từ khóa
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến cácnhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ Các đường kẻ càng
ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ chức
rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắckhi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Trang 10- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật
cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn
Lưu ý : cách ghi chép trên BĐTD
• Nghĩ trước khi viết
• Viết ngắn gọn
• Viết có tổ chức
• Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếu sau này cần)
Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép
3./ Cách đọc BĐTD:
• Vẽ, viết, đọc từ trung tâm ra phía ngoài
• Theo chiều kim đồng hồ
4./ Dạy học văn bằng BĐTD – trên tiết học cụ thể:
(phụ bản 1)
Trang 115./ Tiến hành ôn tập bằng BĐTD:
5.1/ Hướng dẫn học sinh vẽ BĐTD theo chủ đề:
* Chủ đề 1: Văn học hiện đại Việt Nam (VHHĐVN) – Tác phẩm trữ tình (thơ)
- Tây tiến (Quang Dũng)
- Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
* Chủ đề 3: VHHĐVN – Tác phẩm tự sự (truyện ngắn, kịch)
- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)
- Vợ nhặt (Kim Lân)
- Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)
- Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
- Hồn trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
* Chủ đề 4: VHHĐVN – Tác phẩm Nghị luận
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng)
- Thông điệp nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS (Cô-phi-An-nan)
- Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu)
* Chủ đề 5: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
- Thuốc (Lỗ Tấn)
- Số phận con người (Sôlôkhốp)
- Ông già và biển cả (Hê-minh-uê)
5.2/ Hướng dẫn học sinh vẽ BĐTD một tác phẩm – Bằng kĩ thuật 6 chiếc nón tư duy:
Kỹ thuật “6 chiếc nón tư duy” (6 Thinking Hats) là một kỹ thuật mạnh mẽ và
độc đáo được Edward de Bono phát triển vào năm 1985 Kỹ thuật này nhằm hướng mọi người cùng tập trung vào vấn đề từ cùng một góc nhìn, do đó sẽ triệt tiêu hoàn
toàn các tranh cãi xuất phát từ các góc nhìn khác nhau
Trang 121- Nón trắng : (DỮ LIỆU) màu trắng là màu trung tính và khách quan Nón
trắng tập trung vào những con số và sự thực khách quan mang hình ảnh của một tờgiấy trắng, thông tin, dữ liệu
- Tiểu sử tác giả?
- Hoàn cảnh ra đời của tác giả?
- Lời bình vế tác giả, tác phẩm?
2- Nón đỏ : (CẢM XÚC) màu đỏ tượng trưng cho sự đam mê và xúc cảm Nón
đỏ chú trọng vào góc nhìn của cảm xúc mang hình ảnh của lửa đang cháy trong lò, contim, dòng máu nóng, sự ấm áp
- Cảm xúc khi lần đầu đọc tác phẩm?
- Cảm xúc khi phân tích tác phẩm?
3- Nón vàng : (HAY – LỢI - TÍCH CỰC) màu vàng tươi vui và gắn liền với
những ý nghĩa tích cực
- Hay về nghệ thuật của tác phẩm?
- Hay về nội dung của tác phẩm?
4- Nón đen : (DỞ - HẠI – TIÊU CỰC) màu đen ảm đạm và trang nghiêm Nón
đen là nón của sự cảnh giác và thận trọng Nó chỉ ra những nhược điểm của một ýtưởng, một giải pháp
- Tác phẩm có điều gì chưa hay?
- Tác phẩm có điều gì khó hiểu?
Trang 135- Nón xanh lá cây : (CÁI MỚI – SÁNG TẠO) Hãy liên tưởng đến cây cỏ
xanh tươi, sự nảy mầm, sự đâm chồi, sự phát triển Chiếc nón xanh lá cây tượng trưngcho sự sinh sôi, sáng tạo
- Một tình cảm mới? (do tác giả gửi đến người đọc)
- Một suy nghĩ mới? (do tác giả gửi đến người đọc)
- Một đóng góp mới của tác giả? (nghệ thuật hoặc nội dung)
6- Nón xanh da trời : (TỔ CHỨC) màu của bầu trời, đứng cao hơn tất cả mọi
thứ khác Chiếc nón xanh da trời sẽ có chức năng giống như nhạc trưởng, nó sẽ tổ chức các chiếc nón khác
- Tổ chức tư duy
- T ập hợp mọi ý kiến, tóm tắt, kết luận và ra kế hoạch
5.3/ Tiến trình tiết ôn tập bằng phương pháp BĐTD:
5.3.1/ Công việc chuẩn bị:
a Giáo viên:
Để vận dụng BĐTD vào bài học ôn, giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài học, chuyển hoá đượccác ý chính mang tính trọng tâm lên một bản đồ sao cho logic khoa học Nếu giáo viên không sửdụng máy chiếu phục vụ cho tiết dạy thì sử dụng bảng phụ và vẽ các BĐTD lên bảng phụ đó Nếugiáo viên sử dụng máy chiếu phục vụ cho tiết dạy thì bài học sẽ tiến hành thuận tiện và đơn giảnhơn rất nhiều Trên BĐTD được trình chiếu, những thông tin chính không thể hiện đầy đủ mà đểtrống, hoặc phát bảng phụ cho học sinh và yêu cầu học sinh tự hình dung rồi liên kết các tri thức
để vẽ bản đồ (Bài viết này được soạn thảo cho tiết dạy sử dụng máy chiếu, áp dụng công nghệthông tin)
b Học sinh:
Nghiên cứu sách giáo khoa Soạn kĩ các câu hỏi hướng ôn tập vào vở Suy nghĩ, thảo luậnnhóm và trả lời câu hỏi của giáo viên
5.3.2/ Tiến trình tiết ôn tập:
Kiểm tra bài cũ : Giáo viên goi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư duy của bài học cũ
trước lớp Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu hỏi để học sinh trả lời Bắt buộc 100%hoc sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và các sơ đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặcmột túi hồ sơ để sử dụng khi ôn tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vỡ ghi bài Học sinh cũng
có thể có một tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học Về nhà học sinh sẽ tự chỉnh sửa
sơ đồ tư duy bằng hình vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy và lưu trên máy tính cánhân để ôn tập các kì thi
Bài mới: Giáo viên giới thiệu nội dung, mục đích yêu cầu của tiết học.
Hoạt động 1: Lập sơ đồ tư duy : Mở đầu bài học, giáo viên có thể cho học sinh lập sơ đồ
tư duy theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý của giáo viên
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy : Cho một vài học sinh hoặc đại diện
của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập Quahoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng
Trang 14thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong nhữngđiểm cần rèn luyện của học sinh hiện nay.
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy : Tổ chức cho học sinh
thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duyvề kiến thức của bài học Giáo viên sẽ làngười cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy về hình thức, từ đó dẫn dắt đếnkiến thức trọng tâm của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy : Giáo viên cho học sinh lên
trình bày, thuyết minh về kiến thức bài học thông qua một sơ đồ tư duy do giáo viên đã chuẩn bịsẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc sơ đồ tư duy mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa,hoàn thiện Giáo viên có thể giới thiệu sơ đồ tư duy khác của học sinh chuẩn bị ở nhà bằng phầnmềm mind – map (Mind Manager) (vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả cácnhóm học sinh có chung 1 kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiếnthức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức – nếu cần)
Lưu ý khi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời giáo viên nên hỏi những câu liên quan đến sự
thông hiểu để học sinh vận dụng khi làm bài bài kiểm tra Khi học sinh trả lời giáo viên nên độngviên khuyến khích và có thể hỏi tiếp những câu có liên quan đến kiến thức của bài học cũ để họcsinh vừa học kiến thức mới, vừa ôn tập kiến thức cũ đã học
(Kèm phụ bản 2 giáo án một tiết ôn tập theo phương pháp BĐTD)
IV/ Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Việc sử dụng BĐTD giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh học tập
tích cực đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả nội dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả Bản đồ Tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt
và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên.Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy Giáoviên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp họcsinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổimới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng, tôi thấy bước đầu có những kết quả khả quan.Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạyhọc Biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương,phần Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụngBĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học Một số HS trung bình đã biết dùng BĐTD đểcủng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việcứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng Việt
Sơ đồ tư duy một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều
kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay Có thể thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy, bìa,bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm
sơ đồ tư duy Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máytính phần mềm Mindmap (hay Mind Manager) cho giáo viên và học sinh sử dụng, bằng cách vàotrang web www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về bảndemo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng vàviệc sử dụng nó cũng khá đơn giản
Trang 15Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành
cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệthống, khoa học Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác nhưvấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đặcbiệt là đối với các lớp ở cấp THCS và THPT
Việc áp dụng chuyên đề vào hướng dẫn ôn và làm bài trong kỳ thi học kì và tốt nghiệp THPT bước đầu đem lại hiệu quả khả quan:
Các em khác cũng sẽ cố gắng tự hoàn thiện mình và mỗi học sinh có một tính cách, một ý
tưởng rất khác nhau khi trình bày sơ đồ tư duy của mình nhưng điều quan động là các em biết cách
tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học để học ở nhà có thể dùng ngôn ngữ nói để diễn đạt BĐTDtrinh bày trước tập thể lớp và ghi nhớ lâu kiến thức bài học
100% học sinh 2 lớp 12 do tôi giảng dạy đều biết cách thực hiện sơ đồ tư duy môn Ngữ văn Nhiều em sử dụng thành thạo phần mềm trên máy tính và ứng dụng vào môn học khác Lúc
đầu các em vẽ sơ đồ tư duy chưa quen theo cách ghi ký tự ở từng nhánh, nhưng dần dần học sinh
đã đạt yêu cầu tốt hơn Đặc biệt học sinh lớp 12 chỉ cần khoảng 20 bản đồ tư duy là tác phẩm do tựtay mình thiết lập nên các em có thể tự ôn tập thi tốt nghiệp thuận lợi hơn
Trang 16Phần III: Kết luậnI/ Những bài học kinh nghiệm:
Việc vận dụng BĐTD trong dạy học cũng như ôn tập môn Văn bên cạnh những ưu điểmnhư đã biết vẫn còn nhiều khó khăn
Bởi khái niệm của sơ đồ tư duy thì thực sự đơn giản Nguyên lý hoạt động thì đúng theonguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của bộ não Cách vẽ cũng rất giản đơn và còn rất nhiềutiện ích khác khiến cho sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến toàn cầu
Nhưng tại Việt Nam,và ở hầu hết các trường học còn rất ít người sử dụng BĐTD
Vậy nguyên nhân là tại sao?
Với kinh nghiệm gần 4 năm giảng dạy về sơ đồ tư duy với nhiều dạng và cách thức khác nhau, tôi đã tìm hiểu và đúc kết được một số nguyên nhân sau:
1 – Sơ đồ tư duy sử dụng nhiều màu sắc quá, trông như tranh vẽ của trẻ con vậy Lại mất công
Ngoài ra ta cũng có thể thấy được một số hạn chế của Bản đồ tư duy.
- Đừng ngộ nhận sử dụng Bản đồ tư duy là đổi mới phương pháp dạy học Cũng như CNTT,Bản đồ tư duy chỉ là phương tiện trong quá trình dạy học
- Không phải bài nào, chương nào cũng sử dụng bản đồ tư duy cho hiệu quả cao Cần sử dụngBản đồ tư duy cho hợp lí và phù hợp với nội dung và hình thức bài học
- Bản đồ tư duy nếu bị lạm dụng sẽ làm hạn chế kĩ năng viết bài (cảm và sử dụng ngôn từ) củahọc sinh
Vì vậy nếu giáo viên ứng dụng phương pháp này cần giúp học sinh hiều việc lập BĐTDhoàn toàn không phụ thuộc tuyệt đối vào những nguyên nhân trên mà hãy biến những nguyên nhântrên thành ưu điểm
Bên cạnh đó giáo viên phải tạo tâm lý thoải mái và tôn trọng những suy nghĩ riêng của học sinhthì học theo phương pháp BĐTD mới có hiệu quả
II/ Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Học sinh phải chăm chỉ học theo sơ đồ tư duy của mình phát họa Không học thuộc lòngtheo kiểu học vẹt, mà nên học theo kiểu xây dựng các dàn ý cho mỗi bài học Ví dụ một bài có baonhiêu ý lớn, trong mỗi ý lớn có bao nhiêu những ý nhỏ Nắm lấy những sự kiện chính, nhân vậtchính, địa danh chính,… Sau đó viết diễn đạt lại theo văn phong của mình
Việc làm ấy không chỉ giúp học sinh ghi nhớ mà còn giúc học sinh thỏa sức sáng tạo và hơnhết các em sẽ tin vào chính mình, đây là điều cần thiết cho một học sinh lớp 12 trong thời hội nhập
Trang 17III/ Khả năng ứng dụng triển khai:
Dạy học văn bằng cách sử dụng BĐTD rất phù hợp với công nghệ thông tin hiện nay Tuynhiên, kinh phí mua sắm thiết bị còn ít, trình độ giáo viên sử dụng thiết bị còn hạn chế, nên cầnđầu tư hơn nữa cho việc mua sắm thiết bị, giáo viên phải được bồi dưỡng đến thành thạo sử dụngcông nghệ thông tin đặc biệt là sử dụng BĐTD trong rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh ở tất cảcác bộ môn, trong đó có Ngữ văn
Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD mà khôngcần sử dụng máy vi tính, vì học sinh có thể tận dụng nguồn giấy còn thừa ở tập học những nămtrước Vì lẽ đó tôi tin chắc đây là phương pháp có thể áp dụng rộng rãi và hiệu quả trong mọi hoàncảnh
IV/ Những kiến nghị đề xuất:
Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố quyết định, chi phối:chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy của thầy, ý thức, thái độ học tập củatrò Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt Có thể khẳng định, đổi mớiphương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay Cần khôi phục động lực học tập,khơi dậy niềm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôicuốn Cần tiến hành thi cử nghiêm túc, đánh giá chính xác, khách quan năng lực học tập thực sựcủa học sinh đối với môn học này để có những điều chỉnh kịp thời Về lâu dài, Bộ GD&ĐT có thểxem xét phương án đưa môn Ngữ Văn có mặt trong tất cả khối thi của kỳ thi ĐH, CĐ Theo đó,những khối thi khoa học tự nhiên (A, B) môn Ngữ văn có thể được tính hệ số 1 Được biết, việcđưa môn Ngữ văn vào tất cả các khối, ngành thi của kỳ thi ĐH đã được Trung Quốc thực hiện từlâu bởi tính thiết thực và nhân văn của nó Nếu biện pháp này được mạnh dạn áp dụng, chắc chắnchất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các trường phổ thông sẽ có những biến chuyển tích cực
BGH, tổ chuyên môn cần nhân rộng đề tài cấp trường, có điều tra theo dõi quá trình thamkhảo, vận dụng trong ôn thi tốt nghiệp của đơn vị, để chuyên đề thật sự là bài viết hỗ trợ đắc lựccho học sinh, giáo viên
Sở giáo dục nên khuyến khích những giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm trong ôn thi tốtnghiệp viết một số chuyên đề, báo cáo, nhân rộng để những giáo viên trẻ có cơ hội học hỏi vàtham khảo
Chuyên đề có sự tham khảo rất nhiều từ các tài liệu và kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp củabản thân và đồng nghiệp Tuy nhiên ở góc độ giáo viên của trường vùng sâu, tuổi nghề còn ít…nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, mong nhận được sự nhìn nhận, đánhgiá và góp ý khách quan từ quý đồng nghiệp và BGH để bài viết thật sự hữu ích hơn trong việc tìm
ra phương hướng giúp đỡ học sinh tự ôn và làm bài tốt môn Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệpTHPT
Tri Tôn, ngày 15 tháng 01 năm 2013
Người thực hiện
Cao Thị Thu Hồng