KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN TIỂU LUẬN KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐỀ TÀI: NỀN KINH TẾ XANH LAM VÀ TRIỂN VỌNG ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH THUẬN The blue economy and ability to apply
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
TIỂU LUẬN KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI: NỀN KINH TẾ XANH LAM VÀ TRIỂN VỌNG
ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
The blue economy and ability to apply in Binh Thuan province
GVHD: TS.ĐẶNG MINH PHƯƠNG HVTH: NGUYỄN GIA BẢO
MSHV: 1670385
TPHCM, tháng 11 năm 2016
Trang 2TIỂU LUẬN KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
NỀN KINH TẾ XANH LAM VÀ TRIỂN VỌNG ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
The blue economy and ability to apply in Binh Thuan province
GVHD: TS Đặng Minh Phương HVTH: Nguyễn Gia Bảo – MSHV: 1670385
1 MỞ ĐẦU
Hiện nay, xã hội đang đối mặt với hàng loạt vấn đề môi trường, trong đó, vấn đề cạn kiệt tài nguyên và gánh nặng lên hệ sinh thái đang được nhắc đến ngày càng nhiều Đã có nhiều học thuyết được đưa ra nhằm cải thiện vấn đề này và học thuyết Kinh tế xanh lam –
The blue economy là một trong những ý tưởng nổi bật trong những năm gần đây
Lấy ý tưởng cải tiến những giải pháp xanh (green revolution) tuy bảo vệ môi trường như khá tốn kém và kéo theo những hệ lụy không mong muốn, thuyết kinh tế xanh lam theo đuổi ý tưởng Không phát thải – Zero emission, từ đó tìm kiếm để nhân rộng các công nghệ lấy cảm hứng từ tự nhiên và mang lại các lợi ích kinh tế mà vẫn đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: nước sạch, lương thực, công việc và nơi cư trú Học thuyết này thu hút rất nhiều các nhà kinh tế, chuyên gia tài chính, các doanh nghiệp cũng như các học giả để tổng hợp và đúc kết các kết quả thành công nhất từ những các nghiên cứu với hy vọng biến thuyết kinh tế xanh lam trở thành cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba
Tỉnh Bình Thuận nói riêng được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều nguồn tài nguyên, đồng thời, đây cũng là một trong các các địa phương có tiềm năng du lịch rất lớn Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa quá nhanh như hiện nay, áp lực lên các nguồn tài nguyên là không nhỏ Đồng thời, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên là hiện hữu khi các xu hướng phát triển này chưa thực sự bền vững Từ thực tế đó, việc nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong học thuyết kinh tế xanh lam và đem vào áp dụng tại Bình Thuận sẽ mang lại nhiều cơ hội cho địa phương này
2 MỤC TIÊU
Mục tiêu của tiểu luận này là hiểu được khái niệm và tinh thần của học thuyết Kinh tế Xanh lam, đồng thời, nắm rõ những nguồn lực hiện có tại tỉnh Bình Thuận để đề xuất các
ý tưởng giải pháp tốt nhất, hài hòa nhất với tự nhiên để đối mặt với các thách thức kinh tế,
xã hội và môi trường hiện nay
Trang 33 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG KINH TẾ XANH LAM
a Ý tưởng chung
Nguồn tài nguyên đang cạn kiệt dần của Trái Đất phải tiếp tục đáp ứng cho các nhu cầu tăng lên không ngừng của con người và loài Việc chưa thực sự sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và năng lượng, cộng thêm phát triển của cơ khí, máy móc tự động càng khiến cho ngưỡng chịu đựng của thiên nhiên dần đi đến giới hạn của mình
Trong lịch sử phát triển nhân loại, chúng ta đã trải qua hai cuộc cách mạng công nghiệp lớn và khiến cho cuộc sống thay đổi nhiều mặt Trong đó, có việc công nghiệp sản xuất và tiêu thụ dần mất đi tính bền vững
Qua rất nhiều cuộc nghiên cứu trên toàn cầu, kết quả cho thấy đươc chúng ta hoàn toàn có thể mô phỏng lại tự nhiên, một hệ thống tự cân bằng trong suốt hàng triệu năm bằng việc sử dụng chất thải của quá trình này làm sản phẩm của quá trình khác Bằng cách đó, sự tồn tại của chúng ta sẽ trở nên bền vững và đáp ứng được tất
cả các nhu cầu về nước, lương thực, năng lượng, sức khỏe và nơi ở Khái niệm kinh tế xanh lam ra đời trên ý tưởng đó và được kỳ vọng sẽ trở thành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3
b Các nguyên tắc của Kinh tế xanh lam
Hiện nay, khái niệm Kinh tế xanh lam – Blue Economy chỉ mới có được những tiếp cận ban đầu từ một số tổ chức, cá nhân Nhu cầu có được những hướng dẫn rõ ràng, khoa học đang tăng lên không ngừng, đi theo nhu cầu phát triển các tổ chức theo khái niệm mới này
Dựa trên kết quả áp dụng thử nghiệm, nhóm phát triển Kinh tế Xanh lam (Blue Economy) đã đúc kết lại thành 6 nguyên tắc cơ bản cho quá trình hình thành và
áp dụng học thuyết này:
- Tính địa phương: sử dụng những nguồn lực sẵn có
- Tính hiệu quả: Thay thể những tồn tại bằng cách xóa bỏ
- Tính hệ thống: mô phỏng lại quá trình tự nhiên
- Tính lợi ích: tối ưu hóa và phát triển được dòng lợi nhuận
- Tính dồi dào: thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản
- Tính đột phá: tạo ra sự thay đổi, nắm bắt được cơ hội
Dựa vào sáu tiêu chí cơ bản này, thế giới sẽ phát triển hệ thống quản lý theo hướng kinh tế xanh lam với các tiêu chí thật sự phù hợp và có thể áp dụng cho mỗi hệ thống riêng biệt
Trang 44 HIỆN TRẠNG CHUNG KINH TẾ - TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
Bình Thuận nằm trong vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng cuả Địa Bàn Kinh tế trọng điểm phía Nam Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Thành phố Nha Trang
250 km Có quốc lộ IA, đường sắt Bắc nam chạy qua; quốc lộ 28 nối liền Bình Thuận với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với Trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu Một số đặc điểm chính của tỉnh Bình Thuận như sau:
- Diện tích tự nhiên của tỉnh Bình Thuận là 794,395 ha, trong đó 89.5% là diện
tích đất nông-lâm nghiệp
- Dân số khoảng 1,2 triệu người, trong đó, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên
khoảng 710 nghìn người Tỉ lệ thất nghiệp của lực lượng trong độ tuổi này chiếm 3.37% (khoảng 24 nghìn lao động) (Sơ bộ năm 2015)
- Tỉnh Bình Thuận gồm 10 đơn vị hành chính: Thành phố Phan Thiết (Trung
tâm tỉnh lỵ), thị xã Lagi và 8 huyện; trong đó có 1 huyện đảo Phú Quý
ình: ơ cấu tổng sản phẩm theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế năm 2010 và
năm 2015 g n: Ni n gi h ng ỉnh nh Th ận n
Nền kinh tế của tỉnh Bình Thuận nhìn chung được chia thành 3 nhóm ngành chính: nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp-xây dựng và dịch vụ Nguồn thu từ ba nhóm ngành này đồng đều, trong đó, tỉ trọng cao nhất là nguồn thu từ nhóm ngành dịch vụ GDP của tỉnh sơ bộ năm 2015 là khoảng 43 nghìn tỉ đồng, chỉ số phát triển năm 2015 ước tính vào khoảng 7,8%, cao nhất trong 5 năm từ 2011-2015 Tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh là 16 nghìn tỉ đồng trong đó, chiếm cơ cấu nhiều nhất là vốn dành cho công nghiệp
chế biến, chế tạo – Manufacturing (23.13%), tiếp đến là nhóm ngành dịch vụ lưu trú, ăn
31%
25%
39%
5%
2010
Agriculture, forestry and fishing
Industry and construction
Service
Product taxes minus subsidies product
29%
25%
41%
5%
2015
Agriculture, forestry and fishing Industry and construction Service
Product taxes minus subsidies product
Trang 5uống (15.22) và ngành nông lâm ngư nghiệp (10.52%) Điều này cho thấy được tiềm năng phát triển của tỉnh là tương đối lớn và có định hướng rõ ràng
5 CÁC THẾ MẠNH VÀ TRỞ NGẠI CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
Về h h u: Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo,
nhiều nắng, nhiều gió, không có mùa đông và khô hạn nhất cả nước với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ cao đều, trung bình trong năm là 26 - 270
C, tổng tích ôn tương đối lớn 6,800 – 9,9000 /năm;
độ ẩm trung bình 75 - 85%; lượng mưa trung bình 800 - 2000 mm/năm, phân hóa theo mùa và khu vực theo hướng tăng dần về phía Nam
(1)
(2) Hình: (1) Bản đồ chỉ số hạn hán tỉnh Bình Thuận tháng 02/2015 từ ảnh vệ tinh
LANDSAT 8 (Ngu n: Viện Công nghệ Vũ rụ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) (2) Bản đồ cảnh báo khô hạn tỉnh Bình Thuận ngày 22/04/2016 (Ngu n: Trung
Tâm Phòng Tránhvà Giảm Nhẹ Thiên Tai)
Trang 6Nhìn chung, đặc điểm điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên do lượng mưa thấp, phân bố theo mùa, địa hình dốc, lượng bốc hơi cao, thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô, nhiều nắng, gió cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống dân cư
Về tài nguyên, Bình Thuận có nhiều tích tụ khoáng sản đa dạng về chủng loại: vàng,
wolfram, chì, kẽm, nước khoáng và các phi khoáng khác Trong đó, có giá trị thương mại
và công nghiệp là nước khoáng, sét, đá xây dựng
ước khoáng, có nhiều điểm nước khoáng như Vĩnh ảo (Tuy Phong), Đa Kai (Đức
Linh), Đồng Kho (Tánh Linh) Văn Lâm, àm ường, Tà kóu (Hàm Thuận Nam), Phong Điền ( àm Tân) Riêng 4 điểm Vĩnh ảo, Văn Lâm, àm ường, Đa Kai là loại nước khoáng thuộc loại cacbonat - natri được dùng làm nước giải khát, khả năng khai thác khoảng 300 triệu lít/năm Nước khoáng khu vực Tuy Phong có đủ điều kiện để sản xuất tảo với sản lượng lớn
Trữ lượng sa khoáng Ilmenit 1,08 triệu tấn, Zicon 193 nghìn tấn, đi cùng với Zicon
còn có nhiều Monazit và đất hiếm àm lượng TiO2 43- 45%, hàm lượng ZrO2 48, 6 -
59, 5% Sa khoáng Ilmenit - Zicon phân bố ở mũi Kê Gà ( àm Thuận Nam), mũi Né (Phan Thiết), Tân Thiện (Hàm Tân), Thiện ái (Bắc Bình).Nguồn khoáng sản lớn nhất của Bình Thuận là cát trắng thủy tinh với tổng trữ lượng 496 triệu m3 cấp P2, hàm lượng SiO2 97- 99% Phân bố ở Dinh Thầy, Tân An, Tân Thắng (Hàm Tân), Cây Táo, Long Thịnh, Hồng Sơn ( àm Thuận Nam), Nhơn Thành, Phan Rí và Phan Rí Thành (Bắc Bình) Có thể thoả mãn yêu cầu sản xuất thủy tinh cao cấp và kính dân dụng hoặc xuất khẩu nguyên liệu
Về thuỷ hải sản, Bình Thuận có ngư trường rộng 52.000 km2 có trữ lượng hải sản
lớn, thuận lợi để nuôi trồng các loại thủy sản như cua, tôm, cá, trai ngọc, rong biển,… Lực lượng tàu thuyền đánh bắt có hơn 7200 chiếc với tổng công suất lên tới hơn 870.000
CV Sản lượng khai thác hải sản hàng năm đạt 210.000 tấn (Ước tính năm 2015) Đảo Phú Quý (32 km2) là Trung tâm đánh bắt và dịch vụ hỗ trợ đánh bắt xa bờ, đang được đầu tư để trở thành khu kinh tế mở với các chức năng khai thác, chế biến hải sản và cung cấp các dịch vụ biển, dịch vụ hàng hải, dầu khí
Toàn tỉnh có hơn 100 cơ sở chế biến thuỷ sản Thủy sản của Bình Thuận đã xuất khẩu vào các thị trường Nhật Bản, Bắc Mỹ, Tây Âu, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Australia, Có 3 cảng cá Phan Thiết, Tuy Phong và Lagi với quy mô tàu công suất 400
CV Khu công nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Phan Thiết đang được đầu tư, hoàn thiện để thu hút các dự án công nghiệp chế biến thuỷ sản Giá trị sản xuất của thủy sản năm 2015 đạt được hơn 9.800 tỉ đồng, tuy nhiên, chủ yếu nguồn thu là từ hoạt động khai thác tự nhiên (76%)
Về Nông, lâm nghiệp, diện tích gieo trồng đất nông nghiệp của một số các cây trồng
nổi bật của tỉnh như sau: lúa (40.050 ha), ngô (19.573 ha), săn (30.868 ha), rau đậu các
Trang 7loại (21.384 ha), điều (16.588 ha), cao su (42.482 ha), Thanh Long (26.069 ha) Trong
đó, thanh long là sản phẩm nổi tiếng, sản lượng năm 2015 đạt 468.355 tấn
Đàn bò thịt khoảng 163.492 con, heo thịt 279.244 con, dê 31.009 con cùng với nhiều loại gia súc, gia cầm khác
Diện tích rừng tự nhiên là 254.570 ha, rừng trồng là 37.799 ha chia thành rừng sản xuất và rừng phòng hồ Tuy nhiên chỉ số phát triển của diện tích rừng trồng mới trong những năm gần đây phát triển không ổn định
Về công nghiệp, đạt mức tăng trưởng năm 2015 là 7.97% Các nhóm ngành công
nghiệp mũi nhọn của tỉnh bao gồm ngành sản xuất và phân phối điện, nhóm sản xuất và chế biến thực phẩm, nhóm ngành khai thác, khai khoáng và các ngành sản xuất trang phục, nhờ vào chính sách đầu tư của tỉnh vào các dự án công nghiệp lớn, bao gồm dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân, K N Phan Thiết và KCN Hàm Kiệm cùng với nhà máy nước khoáng Vĩnh ảo Tuy nhiên, các dự án công nghiệp này đồng thời mang lại các rủi ro về môi trường khá cao, ảnh hưởng không ít đến đời sống người dân và đặc biệt là ngành du lịch, vốn là thế mạnh của tỉnh
Về du lịch: Chiều dài bờ biển 192 km, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như: Mũi Né,
Mũi Kê gà, Núi Tà ú, Bàu Trắng, Gành Son Nhiều điểm di tích văn hoá, lịch sử nổi tiếng như: Tháp hăm Poshanư, hùa núi Tà ú, Dinh Thầy Thím, Cổ Thạch Tự, Di tích Dục Thanh Đã và đang hình thành các quần thể du lịch - nghỉ mát - thể thao - leo núi - du thuyền - câu cá - sân golf - nghỉ dưỡng - chữa bệnh, khu vui chơi giải trí Toàn tỉnh hiện
có 112 resort đang hoạt động, 772 cơ sở lưu trú với trên 12.500 phòng nghỉ àng năm thu hút trên 4.1 triệu lượt khách du lịch, trong đó, khách quốc tế là 449 nghìn lượt khách Bình Thuận đã tiến hành lập qui hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm du lịch như: Phan Thiết - Mũi Né, òm Rơm - Suối Nước, Tiến Thành - Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận - Ðami, Hàm Tân, Tuy Phong, Bắc Bình…
Về cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thu t: Hệ thống giao thông Bình Thuận đã được cải
tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Các tuyến giao thông chính: Quốc lộ 1A, QL55, QL28; Tuyến đường sắt Tp Hồ Chí Minh – Phan Thiết phục vụ cho vận chuyển hàng hoá
và du lịch; Cảng vận tải Phan Thiết (1.000 tấn) và Phú Quý (làm mới) đã được xây dựng, Cảng cá Phan Thiết, Lagi, Phan Rí Cửa, Phú Quý đã được nâng cấp; đang có kế hoạch xây dựng Cảng vận tải tổng hợp Kê Gà, huyện Hàm Thuận Nam (tiếp nhận tàu 70.000 tấn) và Cảng chuyên dùng Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong Dự kiến trong vài năm tới Tỉnh
sẽ khôi phục sân bay Phan Thiết và một sân bay mới sẽ được đầu tư xây dựng ở phía Bắc Phan Thiết
Hiện nay, Bình Thuận sử dụng nguồn cấp điện từ lưới điện quốc gia Một số nhà máy thuỷ điện đã được đầu tư và đang hoạt động tại Bình Thuận: Nhà máy thủy điện Hàm Thuận- Đa Mi công suất 475 MW, nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công suất 300 MW Bình Thuận sẽ đầu tư xây dựng 2 Trung tâm năng lượng lớn công suất 8.000MW là Trung tâm
Trang 8nhiệt điện than Sơn Mỹ và Trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân theo Quyết định của Chính phủ
Hệ thống thông tin liên lạc đã được nâng cấp, mở rộng và hiện đại hóa; Mạng điện thoại phủ sóng hầu hết các khu du lịch, khu công nghiệp, khu sản xuất trên địa bàn tỉnh
6 CÁC TRIỂN VỌNG ÁP DỤNG
ác đổi mới được đề xuất dựa trên các tiêu chí chính đã được đề cập, lấy cảm hứng từ tự nhiên, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững hơn nữa, bao gồm việc tận dụng các cơ hội nhỏ và lan truyền tính đóng góp của cộng đồng ác nhóm ý tưởng triển vọng chia thành 3 nhóm chính:
Chuyển nguyên vật liệu, dưỡng chất và năng lượng theo hướng khai thác nhiều tầng nhằm tạo ra nhiều thu nhập, việc làm và vốn xã hội hơn phương pháp kinh doanh cốt lõi
Thay đổi mô hình kinh tế thông thường băng cách biến các nguồn vật liệu độc hại/không tái tạo trở nên không cần thiết nữa
Những công nghệ nển tảng đẩy nhanh tiến độ phát triển bền vững
MÔ HÌNH THÙNG RÁC SINH HỌC – Kết hợp xử lý rác thanh long và nuôi trùng quế
gười thực hiện: Đào Y Kha, Cao Đ ng Khoa, Tôn Thất Phu Trí ĐH Kiến trúc TP.HCM)
hực hiện: 2014
Đây là mô hình xử lý rác thải từ cây trồng thanh long khá hiệu quả và đạt được giải nhất Giải thưởng olcim Price năm 2013 Thanh long là loại cây trồng có diện tích khá lớn trong cơ cấu cây trồng tại tỉnh Bình Thuận Do đó, lượng rác thải hàng năm sinh ra là khá nhiều Rác thải chủ yếu là rác hữu cơ, xuất phát từ thân cây thanh long bỏ đi ác cách xử
lý truyền thống như cho bò ăn hoặc chôn lấp, ủ hoai không thực sự hiệu quả, chi phí xử lý lại khá tốn kém Từ thực tế này Nhóm sinh viên cho ra đời dự án thùng rác sinh học, sử dụng trùn quế để phân hủy rác thải từ cây thanh long, nhằm giảm tải rác thải sinh ra, đồng thời, tăng thu nhập từ phân giun được dùng bón cây và xác giun sau khi hết vụ sẽ được bán làm thức ăn cho gia súc, gia cầm
Thùng rác sinh học bao gồm hai khay xếp chồng lên nhau và được liên kết cố định bởi hệ thống khung bên ngoài Bên dưới mỗi khay đều có một lớp lưới kẽm đan vuông để giun
dễ dàng di chuyển qua lại giữa hai khay Thùng chứa được 0,3m3 rác hữu cơ, tương ứng 165kg rác tươi, có thể giải quyết được khối lượng rác thanh long của 40 cây mỗi năm Mỗi thùng rác nếu tính tổng cộng chi phí khoảng hơn 2 triệu đồng, cách sử dụng cũng rất đơn giản Sau khi tỉa cảnh, làm vệ sinh vườn thanh long, có thể cắt hoặc xay nhỏ cành
Trang 9Sau đó đem ủ qua 3 đêm rồi cho vào thùng rác sinh học mà không sử dụng bất kỳ hóa chất hay loại thuốc gì, giun quế ở bên trong thùng sẽ từ từ ăn hết lượng cành cho vào Cứ khoảng 4 ngày, cho giun ăn một lần, phân giun tiết ra sẽ trở thành phân hữu cơ, có thể bón ngược trở lại cho cây thanh long Sau 3 tháng, có thể thu hoạch phân và giun một lần Mỗi lần thu hoạch đạt từ 80 - 90 kg phân hữu cơ, từ đó tiết kiệm được từ 4 - 5 triệu tiền phân bón
Hình: (1) Sử dụng rác từ thân cây thanh long làm nguồn nuôi giun quế (2) Mô hình thùng
rác sinh học nuôi giun quế (Nguồn: Báo điện tử Vnexpress)
MÔ HÌNH ĐIỆN NĂNG LƢỢNG MẶT TRỜI
Đơn vị đầu tư: Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN, Bộ công thương, ông ty Điện lực Bình Thuận
Năm thực hiện: 2016-2017
Như đã trình bày ở phần trên, Bình Thuận là một trong số các địa phương có số giờ nắng tương đối nhiều, cường sộ bức xạ mặt trời tương đối lớn, từ 4.9-5.7 kWh/m2/ngày, do đó, khả năng ứng dụng pin năng lượng mặt trời là rất tốt
Hình: Số giờ nắng tại một số trạm năm 2015 (Ngu n: niên giám th ng kê tỉnh Bình Thuận
n
0
50
100
150
200
250
300
350
Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec
Số giờ nắng tại một số trạm, năm 2015
(Trạm Phan Thiết - Phan Thiet Station)
(Trạm La Gi - La Gi Station)
Trang 10Xu hướng phát triển hiện tại về năng lượng sạch trên Việt Nam và thế giới đang rất phát triển Nằm trong xu hướng đó, Bộ ông Thương đã có những phê duyệt điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2011 – 2015, có xét đến
2020 Hiện nay trên địa bàn tỉnh, dự án nhà máy điện mặt trời Tuy Phong đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư Nhà máy điện mặt trời Tuy Phong sẽ được xây dựng trên diện tích gần 50 héc ta tại xã Vĩnh ảo, huyện Tuy Phong với công suất 30 MW với tổng vốn đầu tư 1.454 tỉ đồng (tương đương 66 triệu đô la Mỹ) dự kiến sẽ khởi công xây dựng giữa năm nay và bắt đầu phát điện từ năm 2017 Dự án nhà máy điện mặt trời Eco Seido Tuy Phong; nhà máy điện Sơn Mỹ; nhà máy điện mặt trời VSP Bình Thuận 2 và Công ty cổ phần Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi đã được UBND tỉnh chấp nhận chủ trương khảo sát, nghiên cứu lập dự án đầu tư
Xét về lợi ích kinh tế từ hệ thống năng lượng mặt trời, hiện tại, để tính được lợi ích kinh
tế của các loại hình năng lượng, các nhà kinh tế và năng lượng sử dụng thuật ngữ LCOE (Levelised Cost of Energy) – Mức chi phí đơn vị của năng lượng, số tiền của 1 kWh sinh
ra từ loại hình năng lượng đó L OE sẽ được tính dựa trên chi phí đầu tư ban đầu, chi phí khấu hao, chi phi vận hành và chi phí bảo dưỡng cùng với các loại hình hỗ trợ, trợ cấp tùy theo chính sách của mỗi quốc gia
Hiện tại, LCOE của loại hình năng lượng mặt trời còn cao (Trung bình toàn cầu: 0.13 USD/kWh1) Tuy nhiên, trong tương lai, các nghiên cứu mới sẽ cho ra đời các thay đổi công nghệ nhằm giảm chi phí lắp đặt, bảo trì, từ đó, mức LCOE toàn cầu năm 2025 được
kỳ vọng giám xuống còn 0.06 USD/kWh
Tuy nhiên, điểm quan trọng hơn của công nghệ này chính là mức phát thải và chi phí xủ
lý thải sẽ giảm rất nhiều so với các công nghệ khác, một khía cạnh cần được cân nhắc trong chiến lược phát triển năng lượng bền vững tại địa phương
MÔ HÌNH DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI BÌNH THUẬN (Đề xuất)
Du lịch bền vững là: “Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động
về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương (World Conservation Union, 1996)
Mặc dù khái niệm du lịch bền vững ra đời khá lâu, tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, các loại hình du lịch của Bình Thuận được xem là chưa bền vững, thông qua các biểu hiện sau:
1 Nguồn: Báo cáo The Power To Change:Solar And Wind Cost Reduction Potential To 2025 – International Renewable Energy Agency, tháng 06/2016