Liệu chính phủ một quốc gia lựa chọn giải pháp vay nợ ñể bù ñắp thiếu hụt ngân sách và ñáp ứng nhu cầu chi tiêu công sẽ có tác ñộng như thế nào ñến nền kinh tế và có hay không một “gánh
Trang 1NỢ CÔNG - SỰ TÁC ðỘNG ðẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ GÁNH
NẶNG CỦA THẾ HỆ TƯƠNG LAI
Lê Thị Minh Ngọc Khoa Tài chính - Học Viện Ngân hàng
Nợ công ñang trở thành vấn ñề nóng bỏng không chỉ ở riêng Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản mà nhiều nước ñang phát triển trên thế giới cũng ñang phải ñối mặt, trong ñó có Việt Nam Nợ công của nhiều quốc gia ñã vượt quá cao so với ngưỡng an toàn: Nhật (200%GDP), Mỹ với khoản nợ 14.580,7 tỷ USD tính ñến thời ñiểm tháng 8/2011 ñã vượt quá 100%GDP năm 2010; nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) có tỷ lệ nợ tương ñương hơn 60% GDP- mức giới hạn an toàn mà
EU ñưa ra; nguy cơ vỡ nợ công ở Hy lạp (152%GDP), Italy (120% GDP), Tây Ban Nha cũng ñã lan tỏa và có những tác ñộng tiêu cực tới những quốc gia hàng ñầu EU khác như: ðức (82%GDP), Pháp (92% GDP), Anh (80% GDP) 1
Bộ Tài chính dự kiến nợ công của Việt Nam năm 2011 ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ ñồng, tương
ñương 58,7% GDP Mặc dù chỉ số trên vẫn ñược xem là trong ngưỡng an toàn nhưng nếu không có
một chương trình và kế hoạch quản lý nợ công hiệu quả, ñặc biệt là nợ nước ngoài thì nguy cơ mất
Nợ công ñang ñe dọa ñến ñà phục hồi và sự ổn ñịnh của nền kinh tế toàn thế giới, viễn cảnh của cuộc tái suy thoái kinh tế toàn cầu cũng ñã ñược ñặt ra Liệu chính phủ một quốc gia lựa chọn giải pháp vay nợ ñể bù ñắp thiếu hụt ngân sách và ñáp ứng nhu cầu chi tiêu công sẽ có tác ñộng như thế nào ñến nền kinh tế và có hay không một “gánh nặng” về thuế ñè lên vai thế hệ tương lai?
Quan ñiểm về nợ công
Nợ công (public debt) thường ñược hiểu là nợ của khu vực công Cần phải phân biệt giữa nợ công
và nợ quốc gia Nợ quốc gia hiểu một cách rộng rãi là nợ của các ñối tượng mang quốc tịch của một quốc gia- bao gồm cả nợ của khu vực công và nợ khu vực tư nhân không ñược bảo lãnh
Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về nợ công: Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công
là toàn bộ những khoản nợ của chính phủ và những khoản nợ ñược chính phủ bảo lãnh Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công bao gồm nợ của khu vực tài chính công và khu vực phi tài chính công Tại hầu hết các nước trên thế giới, nợ công ñược xác ñịnh bao gồm nợ của chính phủ và nợ
ñược chính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền ñịa phương
(Bungari, Rumani, Việt Nam…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan,
1
Theo dữ liệu của IMF
Trang 2Macedonia…) Như vậy, quan niệm về nợ công cũng còn tùy thuộc vào thể chế kinh tế- chính trị của mỗi quốc gia
Luật Quản lý nợ công Việt Nam số 29/2009/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy ñịnh nợ công bao gồm: Nợ chính phủ, nợ ñược chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền ñịa phương, trong ñó:
Nợ chính phủ là khoản nợ ñược ký kết phát hành nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, các khoản
nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành, không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ chính phủ bão lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước,
nước ngoài ñược Chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền ñịa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Nỗ lực kéo nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 với các gói kính thích kinh tế, quốc hữu hóa các khoản nợ tư nhân, các chương trình giảm, giãn thuế và tăng chi tiêu công ñã ñể lại hậu quả là sự tăng lên một cách ñáng kể khoản nợ công của các quốc gia
Sự tác ñộng của nợ công ñến nền kinh tế
Bàn về sự tác ñộng của nợ công ñến nền kinh tế, vẫn tồn tại nhiều quan ñiểm khác nhau, trong ñó
có hai quan ñiểm chủ ñạo: Quan ñiểm truyền thống, ñại diện là Keynes cho rằng: Khi chính phủ vay
nợ ñể bù ñắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công không thay ñổi sẽ tác ñộng ñến hành vi tiêu dùng của người dân Cụ thể là làm mức tiêu dùng tăng,
từ ñó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng, việc làm trong ngắn hạn Tuy nhiên, về dài hạn lại làm cho tiết kiệm quốc gia (national saving) giảm và kèm theo ñó là những hệ lụy khác Quan ñiểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832) lại cho rằng mức thuế cắt giảm ñược bù ñắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác ñộng ñến tiêu dùng như quan ñiểm về
nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn Ngược lại, nó sẽ làm các khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người dân ñang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ ñến trong tương lai ñể chi trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiện tại Trong thực tế, hai quan ñiểm luôn tồn tại song hành Vì vậy, ñể ñưa ra nhận ñịnh quan ñiểm nào phù hợp với từng thời ñiểm của quốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng,
ñó là hành vi của người tiêu dùng
Xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ ñể tài trợ
vốn, ñáp ứng nhu cầu ñầu tư cho các dự án, công trình trọng ñiểm quốc gia, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Giải pháp tăng nợ công ñể bù ñắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn
Trang 3Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn cũng là nguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, ñầu tư giảm, tiết kiệm giảm và khuyến khích luồng vốn từ nước ngoài chảy vào, từ
ñó làm cho sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại Nợ công tăng cao, vượt quá giới
hạn an toàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép từ bên trong lẫn bên
Thứ nhất, nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private saving), dẫn ñến hiện tượng thoái lui ñầu tư tư nhân
Khi chính phủ tăng vay nợ, ñặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy vốn tư nhân sẽ ñược thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ ñó ñẩy lãi suất tăng, chi phí ñầu tư tăng và có thể dẫn ñến
xét mối quan hệ cung- cầu trên thị trường tín dụng
T ạ i Bi ể u ñồ 1: Tr ạ ng thái cân b ằ ng ñầ u tiên t ạ
ñ i ể m E, t ạ i ñ ó lãi su ấ t là i 1 và t ổ ng kh ố i l ượ ng qu ỹ
cho vay là L1 Khi Chính ph ủ t ă ng vay n ợ , c ầ u tín
d ng c ủ a Chính ph ủ (D G ) t ă ng lên m ộ t l ượ ng
b ng ∆ D G s ẽ làm ñườ ng c ầ u tín d ụ ng c ủ a n ề n
kinh t ế d ị ch chuy ể n t ừ D 1 ñế n D 1 + ∆ D G K ế t qu ả
là ñ i ể m cân b ằ ng m ớ i c ủ a th ị tr ườ ng t ạ i E’ Lãi
su ấ t th ị tr ườ ng t ă ng ñế n i 2 và l ượ ng ti ề n cung
ứ ng t ă ng lên L2 Lãi su ấ t trên th ị tr ườ ng t ă ng s ẽ
làm gi ả m nhu c ầ u v ố n vay c ủ a các doanh nghi ệ p
cho ñầ u t ư Nó c ũ ng làm gi ả m nhu c ầ u vay c ủ a
các h ộ gia ñ ình ñể ñầ u t ư ho ặ c mua s ắ m các lo ạ
hàng hóa nh ư ô tô, nhà c ử a
Biểu ñồ 1 Tác ñộng của nợ công ñến lãi suất
Xoay xở với vấn ñề thâm hụt ngân sách và nhu cầu chi trả cho các khoản nợ công ngày càng tăng cao, thị trường tài chính của các quốc gia Hy lạp, Italy, Tây Ban Nha ñang ñứng trước những cơn sốt khi lãi suất trái phiếu chính phủ của các quốc gia này liên tục tăng cao và ñạt ñến mức kỷ lục kể
từ khi tham gia vào khu vực ñồng tiền chung Euro Thời ñiểm tháng 8/2011, lãi suất trái phiếu Chính phủ Tây Ban Nha kỳ hạn 10 năm tăng lên tới 6,45%, tại Italy lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm cũng lên tới 6,18% gần bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp (TPCP kỳ hạn 10 năm với lãi suất hơn 7,8%) tại thời ñiểm quốc gia này phải cầu cứu các khoản cứu trợ quốc tế bởi nguy cơ
vỡ nợ công
E
D1 + DG E’
S
D1
L1 L2
O
i2
i1
Trang 4Các đợ t trái phi ế u đượ c phát hành liên t ụ c v ớ i lãi
su ấ t ngày càng t ă ng cao đ ã làm các nhà đầ u t ư lo
ng ạ i v ề kh ả n ă ng thanh tốn khi đ áo h ạ n, nhi ề u
nhà đầ u t ư đ ã ồ ạ t bán r ẻ trái phi ế u c ủ a các qu ố c
gia này khi nguy c ơ khĩ kh ă n v ề n ợ cơng đ ang
ngày càng tr ở nên tr ầ m tr ọ ng h ơ n
Bên c ạ nh đ ĩ, để c ứ u tr ợ cho kh ủ ng ho ả ng n ợ cơng
c ủ a Hy L ạ p, khu v ự c t ư nhân đ ã đ ĩng gĩp 50 t ỉ
euro trong t ổ ng gĩi c ứ u tr ợ th ứ hai tr ị giá 109 t ỉ
euro (155 t ỉ USD) c ủ a IMF nh ằ m tái c ấ u trúc các
kho ả n n ợ , ng ă n ch ặ n s ự lây lan sang các n ề n kinh
t ế Châu Âu khác, c ủ ng c ố l ạ i giá tr ị c ủ a đồ ng Euro Biểu đồ 2 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm
Nguồn: Bloomberg.com
Thứ hai, nợ cơng làm giảm tiết kiệm quốc gia (national saving)
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượng quốc dân (GDP) theo cơng thức: Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (1)
Trong đĩ: Y: thu nhập quốc gia; C: Tiêu dùng tư nhân; S: tiết kiệm tư nhân; T: thuế trừ đi các khoản thanh tốn; I: ðầu tư nội địa, G: Chi tiêu của chính phủ, NX: Xuất khẩu rịng
Như vậy: S + (T-G) = I + NX (2) Hay: T- G = I + NX - S (3)
Phương trình (3) chỉ ra rằng, khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G<0) tức I + NX < S, như vậy, những khả năng cĩ thể xảy ra là: Tiết kiệm tư nhân (S) tăng, đầu tư nội địa (I) giảm và xuất khẩu rịng (NX) giảm Khi chính phủ tăng vay nợ để bù đắp thâm hụt, chúng ta lần lượt xem xét những khả năng này cĩ thể xảy ra và sự tác động của nĩ đến tiết kiệm quốc gia:
(1) Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lập luận rằng, tiết kiệm tư
nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của tiết kiệm của chính phủ Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta tạm thời giả định tiết kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính vì vậy mà tiết kiệm quốc gia giảm
(2) ðầu tư nội địa giảm (I): ðầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng vốn nội địa giảm Lượng
vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm trên mỗi đồng vốn sẽ cao hơn, năng suất lao động sụt giảm, từ đĩ làm giảm mức lương và thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia
(3) Xuất khẩu rịng giảm (NX): Khi chính phủ tăng vay nợ, lãi suất trong nước tăng tương đối so với
lãi suất nước ngồi, dẫn tới luồng tiền từ nước ngồi đổ vào trong nước tăng khiến cho tỷ giá hối
đối tăng, làm cho giá của hàng hĩa sản xuất trong nước đắt hơn hàng hĩa nước ngồi, trở nên kém
cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, từ đĩ giảm xuất khẩu rịng
Xuất khẩu rịng giảm, đầu tư nước ngồi giảm cĩ nghĩa rằng người dân nội địa sẽ sở hữu ít vốn nước ngồi hơn Trong trường hợp này, thu nhập người dân nội địa sẽ giảm, tiết kiệm quốc gia giảm Giảm xuất khẩu rịng cũng là một trong những nhân tố dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại
Trang 5ðặc biệt, khi thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại cùng xảy ra sẽ dẫn ñến hiện
tượng “thâm hụt kép” gây tác ñộng tiêu cực ñến sự phát triển nền kinh tế
Hậu quả thiên tai ñã khiến cho Chính phủ Nhật Bản phải tăng chi ngân sách ñể tái thiết ñất nước Những khoản chi này sẽ làm trầm trọng thêm gánh nặng nợ công vốn ñã rất cao của Nhật Bản (95.000 tỷ Yên, tương ñương 200% GDP năm 2010) Mặc dù là quốc gia có truyền thống tiết kiệm nội ñịa cao, nhưng tỷ lệ này ñang có xu hướng ngày càng giảm ñi: từ mức 10% tổng thu nhập quốc dân năm 1990 xuống 5% vào cuối thập kỷ 90 và chỉ còn trên 2% vào năm 2009 Khi ñối mặt với vấn ñề thiếu vốn, Nhật Bản có thể từ một nước xuất khẩu trở thành nước nhập khẩu vốn Dòng vốn nước ngoài ñổ vào Nhật tăng khiến cho tỷ giá giữa ñồng Yên và các ñồng tiền khác tăng cao, gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu Có ñến 40% doanh nghiệp Nhật Bản sẵn sàng di dời cơ sở sản xuất ñể tránh tác ñộng của sự tăng giá ñồng Yên này, ñiều này làm cho mạng lưới công nghiệp
và sản xuất quốc gia bị tổn hại và ñe dọa trực tiếp ñến việc làm, thu nhập của người dân
Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản ở mức cao (chiếm khoảng 7% GDP), nợ công ngày càng tăng cùng tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng giảm sẽ sớm dẫn ñến nguy cơ làm cho tiết kiệm quốc dân của Nhật Bản giảm, thậm chí có thể rơi vào trạng thái âm, cản trở tốc ñộ tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát ñược tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên hoặc do chi phí ñẩy Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên, một mặt
sẽ tạo áp lực ñẩy lãi suất lên cao
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí ñầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm Bên cạnh ñó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ tăng dẫn
ñến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ ñó tác ñộng tiêu cực ñến tốc
ñộ tăng trưởng thực của nền kinh tế (bằng tốc ñộ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát)
Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào trong nước có thể giảm sức ép cân ñối ngoại tệ trong ngắn hạn Về mặt dài hạn, áp lực trả nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ
ñẩy cầu ngoại tệ tăng lên, ñồng nội tệ giảm giá làm tăng chi phí ñầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu,
máy móc, thiết bị dẫn tới nguy cơ lạm phát Tỷ giá tăng làm chi phí thanh toán nợ trở nên ñắt ñỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu ñựng của ngân sách sẽ dẫn ñến nguy cơ vỡ nợ
Bảng 1 Tổng nợ công của Việt Nam tính ñến thời ñiểm tháng 9/2011
Chỉ tiêu 2009 2010 2011
Nguồn: Theo thống kê của tạp chí The Economist
Trang 6Trong ñó nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng cao (chiếm 42,2% GDP trong năm 2010, 39% GDP năm 2009) Theo Bộ Tài chính, tổng lượng tiền mà ngân sách phải trả các ñối tác nước ngoài năm 2010
là 1,67 tỉ USD (riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD) ðặc biệt, lãi vay và số khoản vay có lãi suất cao (từ 6-10%) ngày càng tăng cao và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn (năm 2008: 925,49 triệu
tăng nhưng dự trữ ngoại hối của Việt Nam lại giảm Tỷ lệ dự trữ ngoại hối của Việt Nam/tổng dư
nợ ngắn hạn ñã và ñang sụt giảm với tốc ñộ rất nhanh, từ mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, 3 lần vào năm 2009 và chỉ còn gấp khoảng 2 lần trong năm 2010 Vay nhiều hơn, lãi suất cao hơn, khả năng tự tài trợ vốn trong nước lại thấp khiến rủi ro về thanh khoản của các khoản vay cao hơn
Bên cạnh ñó, chất lượng ñầu tư công kém hiệu quả vẫn luôn là vấn ñề bất cập trong công tác quản
lý và ñiều hành ngân sách của Việt Nam Nghị quyết 11 của Chính phủ Việt Nam vẫn ñang triển khai một cách quyết liệt ñể cắt giảm ñầu tư công- một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển kinh tế và lạm phát tăng cao hiện nay (dự báo khoảng 19% năm
2011 theo IMF)
Nguồn : Báo cáo thường niên của Bộ Tài chính
Thứ tư, nợ công làm méo mó các hoạt ñộng kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước ngoài thì ñều có tác ñộng làm méo mó các hoạt ñộng kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
2 Bản tin nợ nước ngoài số 7 – Bộ Tài chính
Trang 7Nếu vay nước ngoài, nguồn ựể trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản thu thuế Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai ựể trả lãi cho các ựối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng từ ựó giảm chất lượng cuộc sống
Vay trong nước có thể ựược coi là ắt tác ựộng hơn bởi lý do chắnh phủ nợ chắnh công dân nước mình và cũng chắnh họ là người ựược hưởng thụ các lợi ắch do các khoản chi tiêu công tạo ra Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị ựánh thuế ựể trả lãi cho chắnh họ do ựang sở hữu trái phiếu chắnh phủ thì vẫn có những tác ựộng khiến cho các hoạt ựộng kinh tế của người ựó bị bóp méo Dù cho Chắnh phủ dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sảnẦ), ựánh thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn ựến những sai lệch trong các hoạt ựộng kinh tế của một
cá nhân như thay ựổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ ựó ảnh hưởng ựến các hoạt ựộng kinh tế vi mô,
vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm Bên cạnh ựó, việc tăng thuế ựể trả lãi vô hình chung ựã tạo ra
sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và người sở hữu trái phiếu chắnh phủ, theo ựó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu sự suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm
để tránh nguy cơ vỡ nợ, sức ép cắt giảm nợ công ựã buộc nhiều quốc gia Châu Âu phải cam kết
thực hiện hàng loạt các chắnh sách Ộthắt lưng buộc bụngỢ nhằm ựổi lấy các gói cứu trợ từ phắa các
tổ chức tài chắnh quốc tế, từ liên minh Châu Âu, IMF Trong khi Bồ đào Nha phải cắt giảm chi tiêu công ựến mức Ộkhông thể chịu ựựng ựượcỢ nhằm mục ựắch kéo nợ công về số không trong vòng 05 năm tới, thì Hy Lạp cũng ựang phải ựối diện với những chắnh sách hà khắc như: Cắt giảm các khoản thưởng khu vực công, những người có thu nhập 3.000 Euro/tháng, cắt giảm 8% trợ cấp
và 3% chi tiêu cho khu vực công; không tăng lương cho khu vực công trong vòng 3 năm; chi trả tối
ựa 800 Euro cho khoản thưởng tháng 13 và 14 ựối với những người về hưu Ngoài ra, ựể tăng nguồn
thu cho ngân sách, Chắnh phủ Hy Lạp cũng phải nâng thuế VAT, thuế ựánh vào các mặt hàng xa xỉ
và các mặt hàng không khuyến khắch tiêu dùng Những chắnh sách này sẽ ảnh hưởng lớn lên một
bộ phận khá lớn người dân Hy Lạp, ựặc biệt là những người nghèo- những người sẽ bị gánh chịu sự tổn thất phúc lợi xã hội nặng nề mà nguyên nhân của nó xuất phát từ các khoản nợ công
Bng 2 N công và tình hình kinh t các nc Châu Âu 2010
Quc gia Thâm ht (-)/thng d
(+)ngân sách 2010 (%GDP)
N công/GDP
2010
N nc ngoài (%t ng n)
hn (%GDP)
Lm phát
2010
tht
2010
Tài khon vãng lai (%GDP) 2010
Nguồn: IMF World Economic Outlook, 4/2011
Trang 8Thứ năm, những tác ñộng khác
Bên cạnh những tác ñộng về mặt kinh tế, một quốc gia với khoản nợ công lớn có thể phải ñối mặt với những hệ quả khác do nó gây ra như: Làm thay ñổi quy trình quản lý Nhà nước do phải thay ñổi chính sách tài chính quốc gia ñể trang trải các khoản nợ; làm tổn hại ñến hệ số tín nhiệm quốc gia; nguy cơ suy giảm chủ quyền, giảm sự ñộc lập về chính trị hoặc khả năng lãnh ñạo quốc gia Các quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế về việc phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, và xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay ñổi bộ máy quản lý, thay ñổi các ñịnh hướng kinh tế Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay
nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương, ña phương với các ñối tác là các nước chủ nợ
Gánh nặng của nợ công lên thế hệ tương lai?
Một số nhà kinh tế học cho rằng gánh nặng của nợ công không thể chuyển giao lên thế hệ tương lai nhưng có thể ñè nặng lên chính thế hệ hiện tại Bởi khoản vốn tích lũy và việc tiêu dùng của họ ñã
bị thay thế bởi các khoản nợ của chính phủ Nhưng thực tế chúng ta ñều nhận thấy rằng, họ làm
ñiều ñó một cách tự nguyện, họ mua trái phiếu chính phủ chỉ với kỳ vọng sẽ ñược nhận ñược một
khoản lãi- một cơ hội tiêu dùng lớn hơn trong tương lai
Giả ñịnh rằng thế hệ tương lại phải ñóng thuế ñể trả lãi cho các khoản nợ, như vậy họ phải chịu
ñựng một sự giảm thật sự của thu nhập mà không có sự bù ñắp bởi sự tiêu dùng ñược tăng lên trong
tương lai Gánh nặng của nợ công chính là sự giảm trợ cấp cho những người ñóng thuế trong tương lai- họ sẽ phải ñóng nhiều thuế hơn ñể trả lãi thay vì nhận ñược các hàng hóa và dịch vụ từ phía chính phủ cho những khoản thuế này
Thế hệ tương lai cũng phải chịu ñựng sự sụt giảm về chất lượng cuộc sống do những hệ quả của nợ công gây ra Nợ công làm lãi suất tăng và giảm ñầu tư tư nhân, tốc ñộ tăng trưởng kinh tế chậm hơn, cơ hội việc làm cũng như thu nhập trong khu vực tư nhân cũng sẽ bị giảm ñi
Gánh nặng của nợ công cũng có thể ñược bù ñắp nếu các khoản vay nợ ñược sử dụng ñể tài trợ cho các dự án có khả năng sinh lời trong tương lai Như vậy, việc ñánh giá ñúng tình trạng của nợ công
và sự tác ñộng của nó lên nền kinh tế không chỉ dựa vào quy mô khoản nợ (nợ công/GDP) mà còn cần phải xét ñến cơ cấu nợ; chất lượng, hiệu quả của các dự án ñầu tư công ñược tài trợ bằng vốn vay; năng lực kinh tế, tài chính và khả năng trả nợ của quốc gia trong tương lai
Dù cho mức nợ công có thể vẫn ñang trong ngưỡng an toàn, chính phủ các quốc gia vẫn không nên chủ quan mà cần phải quan tâm ñến bản chất của khoản nợ, tránh nguy cơ dẫn ñến hiện tượng
“thâm hụt kép” gây tác ñộng tiêu cực ñến nền kinh tế
ðể ñạt ñược mục tiêu tăng trưởng, nợ công vẫn thật sự cần thiết cho nền kinh tế mọi quốc gia Bài
toán về nợ công vốn phức tạp và hiệu ứng của nó vẫn luôn là khó lường, chính vì vậy mỗi quốc gia cần phải ñánh giá ñúng quy mô, năng lực của mình ñể có thể hấp thụ một luồng vốn tín dụng tương
Trang 9ứng, ñể từ ñó chủ ñộng nhận thức, kiểm soát, quản lý việc vay- sử dụng nợ một cách hợp lý cả trong
ngắn hạn và dài hạn, ñảm bảo khả năng thanh toán và xử lý các vấn ñề phát sinh từ nợ công một cách hiệu quả, giảm thiểu các tác ñộng tiêu cực, giữ vững sự ổn ñịnh và phát triển nền kinh tế
Tài liệu tham khảo:
- Government Debt- Douglas W Elmendorf- Federal Reserve Boad, N Gregory Mankiw- Harvard University and NBER- January 1998
- The impact of high and growing government debt on economic growth- Working paper series- No 1237- August 2010- European central bank
- Public debt burden and economic growth: Evidence from Pakistan - Muhammad Nadeem Qureshi-International Research Journal of finance and economics- Issue 53 -2010
- Public finance- David N Hyman- North Carolina State University - India Edition
- Bản Tin Kinh Tế, Số 10, Ngày 31/5/2011 - Vụ Tổng hợp Kinh tế - Bộ Ngoại giao
- PGS.TS Nguyễn Văn Dần- Học viện Tài chính -Chính sách tài khóa- công cụ ñiều tiết vĩ mô nền kinh tế - 2009
- Tài liệu tham khảo môn Tài chính học- Học viện Ngân hàng - 2011
- www.wikipedia.org, vneconomy.vn