1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

2021 NN th kinh nghiem nghien cuu va xa

18 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình văn hóa học đường phù hợp đang là mối quan tâm thực sự của các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý giáo dục.. Công trình này khảo sát, đánh giá ki

Trang 1

Tạp chí Khoa học

SCIENTIFIC JOURNAL OF

HOCHIMINH CITY CADRE ACADEMY

H U M A N R E S O U R C E

D E V E L O P M E N T

04(04) 2021

Trang 2

Giấy phép xuất bản

Số 551/GP-BTTTT do

Bộ Thông tin và Truyền thông

cấp ngày 26/11/2020, khổ 19 x 27cm

In tại Công ty TNHH SX TM

Tân Lý Hoàng Long (54 đường TX 18,

P Thạnh Xuân, Q.12, TP HCM)

Phát hành

Qua mạng lưới Bưu điện Việt Nam

Tòa soạn: 324 Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Điện thoại: 028.22 737 859 - Fax: 028.38 412 495

Email: tapchi@hcmca.edu.vn

ISSN 1859 - 2732

TẠP CHÍ XUẤT BẢN HAI THÁNG MỘT KỲ

TRIẾT - CHÍNH TRỊ HỌC

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 5 NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng 13

Cơ hội và thách thức trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 19 KINH TẾ HỌC - QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Giải quyết các mối quan hệ trong đổi mới quản lý của chính quyền đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh 26

Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

9001 trong công tác cải cách hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 33 VĂN HÓA - XÃ HỘI HỌC

Văn hóa tộc người - nguồn tài nguyên phát triển du lịch (trường hợp văn hóa Khmer và Hoa ở Trà Vinh) 44

Nâng cao văn hóa công vụ dựa trên đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay 53

Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số

ở Việt Nam - sự cần thiết và các giải pháp xây dựng lực lượng dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số 61 KHOA HỌC GIÁO DỤC

Kinh nghiệm nghiên cứu và xây dựng văn hóa học đường Châu Âu 69

SỐ 04 (04) 2021

Giá: 25.000đ

MỤC LỤC

TS Trần Thị Hà Vân

PGS.TS Nguyễn Duy Bắc ThS Phạm Thị Huyền Ngân ThS Hà Thanh Hương - TS Nguyễn Hữu Sơn ThS Đậu Ngọc Linh

TS Nguyễn Đệ - TS Bùi Thị Ngọc Trang

TS Nguyễn Hồng Điệp - ThS Nguyễn Thiện Đạt ThS Trịnh Xuân Thắng

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thơ

Phó Tổng biên tập phụ trách

TS Lê Thị Trúc Anh

Phó Tổng biên tập

PGS.TS Nguyễn Văn Y

Hội đồng biên tập

PGS TS Nguyễn Tấn Phát

(Chủ tịch)

TS Lê Thị Trúc Anh

(Thường trực)

PGS TS Nguyễn Duy Bắc

PGS TS Nguyễn Minh Tuấn

PGS TS Trương Thị Hiền

PGS TS Ngô Thị Phương Lan

PGS TS Vũ Tình

PGS TS Đinh Phương Duy

PGS TS Nguyễn Văn Y

TS Bùi Thị Ngọc Trang

TS Phan Hải Hồ

TS Trần Thị Hà Vân

Thư ký tòa soạn

ThS Ngô Thị Thanh Tiên

Trình bày

Nguyễn Hào

Tạp chí khoa học

Phát triển nhân lực

HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

Binh Thanh Dist, Ho Chi Minh City

Tel: 028 22 737 859

Fax: 028 38 412 495

Email: tapchi@hcmca.edu.vn

ISSN 1859 - 2732

JOURNAL ISSUED EVERY TWO MONTH

NO.04 (04) 2021

Price: 25.000 VNĐ

PhD Tran Thi Ha Van

Assoc.Prof.PhD Nguyen Duy Bac

MA Pham Thi Huyen Ngan

MA Ha Thanh Huong - PhD Nguyen Huu Son

MA Dau Ngoc Linh

PhD Nguyen De - PhD Bui Thi Ngoc Trang PhD Nguyen Hong Diep - MA Nguyen Thien Dat

MA Trinh Xuan Thang

Assoc.Prof.PhD Nguyen Ngoc Tho

PHILOSOPHY AND POLITICAL SCIENCE

Responsibility of cadres, party members and people in protecting our Party’s ideological base 5 RESOLUTIONS OF PARTY AND REALITY OF

HO CHI MINH CITY

Promoting the cultural values and Vietnamese people’s strength

in the light of the XIII National Party Congress 13

Opportunities and challenges in attracting foreign invest-ment in Ho Chi Minh city at present 19 ECONOMICS AND STATE ADMINISTRATION

Harmoniously solving the relationships in innovative man-agement of urban government in Ho Chi Minh city 26

Application of quality management system according to ISO 9001 standard in public administrative reform in Ho Chi Minh city 33 CULTURE - SOCIOLOGY

Ethnic culture - resource for tourism development (case study

of Khmer and Hoa cultures in Tra Vinh province) 44

Improving the culture of civil service culture on the basis of the civil service morality 53

Propagandizing and mobilzing the ethnic minorities in Vietnam - necessity and solutions to building mobilization force in the ethnic communities 61 EDUCATIONAL SCIENCE

Experience in research and construction of school culture

in Europe 69

Deputy Editor - In - Chief (Executive)

PhD Le Thi Truc Anh

Deputy Editor - In - Chief

Assoc.Prof.PhD Nguyen Van Y

Editorial Council

Assoc.Prof.PhD Nguyen Tan Phat

(Chairman)

PhD Le Thi Truc Anh

(Permanent)

Assoc.Prof.PhD Nguyen Duy Bac

Assoc.Prof.PhD Nguyen Minh Tuan

Assoc.Prof.PhD Truong Thi Hien

Assoc.Prof.PhD Ngo Thi Phuong Lan

Assoc.Prof.PhD Vu Tinh

Assoc.Prof.PhD Dinh Phuong Duy

Assoc.Prof.PhD Nguyen Van Y

PhD Bui Thi Ngoc Trang

PhD Phan Hai Ho

PhD Tran Thi Ha Van

Editorial Secretary

MA Ngo Thi Thanh Tien

Presented by

Nguyen Hao

Issue license

No 551/GP - BTTTT, issued

on 26 November 2020

by Ministry of Information and Media

Printed at:

Company Tan Ly Hoang Long

(54, TX 18, Thanh Xuan,

Dist 12, HCM city)

CONTENTS

Trang 4

TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC - SỐ 04 (04) 2021 69

KHOA HỌC GIÁO DỤC

KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG

Ở CHÂU ÂU

PGS.TS NGUYỄN NGỌC THƠ (*)

TÓM TẮT

Văn hóa học đường (VHHĐ) đang là một trong những vấn đề được xã hội Việt Nam quan tâm bởi nó có mối quan hệ mật thiết đến con đường hình thành nhân cách và lối sống giới trẻ, ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội trong hiện tại và tương lai Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng

mô hình văn hóa học đường phù hợp đang là mối quan tâm thực sự của các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý giáo dục Công trình này khảo sát, đánh giá kinh nghiệm nghiên cứu và xây dựng VHHĐ một số quốc gia tiêu biểu ở châu Âu và Bắc Mỹ nhằm trình bày các mô hình, hệ thống giá trị, và phần nào đó là phương pháp xây dựng VHHĐ của thế giới với hy vọng cung cấp thêm nguồn dữ liệu khoa học cho việc kiến tạo VHHĐ phù hợp với xã hội Việt Nam hiện nay Bài viết này là phần một của công trình, giới thiệu một số mô hình ở châu Âu Trong số

Từ khóa: văn hóa học đường, kinh nghiệm, châu Âu.

ABSTRACT

School culture is one of the concerns of the entire Vietnamese society because it is directly related to the formation of the personality and lifestyle of young people, and directly affects the present and future society This paper studies and evaluates the experience of learning and building school culture in Europe and North America, and introduces the educational model, value system, and some methods of building school culture in these developed countries The research will provide a scientific data source for the construction of modern school culture in Vietnam This article is part of the whole work, introducing some typical models in Europe In the next issue, the author will introduce the experience of North America.

Keywords: school culture, experience, Europe.

1 Đặt vấn đề

Châu Âu và Bắc Mỹ, cùng với Autralia, New Zealand và một số quốc gia, vùng lãnh thổ Đông Á, là các trung tâm giáo dục đại học lớn, có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu Giáo dục Âu - Mỹ phát triển đều đặn, tạo

(*) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc

gia Thành phố Hồ Chí Minh

(1) Bài viết này và bài viết “Đặc trưng văn hóa học đường” đăng

trong số 2(2)-2021, tr 39-55 của cùng tác giả được trích từ nội

dung của công trình nghiên cứu mang mã số A2018-18b-01 do

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ

Trang 5

nên nguồn động năng và “chuẩn mực” giáo

dục và văn hóa giáo dục trong thế giới đương

đại Đây cũng là hai trong ba khu vực thu hút

nhiều giáo sư và sinh viên quốc tế đến lao

động và học tập nhất trên thế giới (cùng với

châu Úc) Những kết quả này phản ánh một

phần những động năng văn hóa học đường

(VHHĐ) khá sôi động của hai khu vực, trong

đó không ít khía cạnh của nó (chẳng hạn như

về triết học gắn kết học đường với thị trường,

tư tưởng khai phóng trong đào tạo ) dần dà

lan tỏa trở thành những giá trị chung cho học

đường thế giới

Trong giáo dục và văn hóa giáo dục, thế

giới chú ý nhiều nhất đến khu vực Tây và Bắc

Âu Ở khu vực Nam Âu, Italy gần đây phát

triển giáo dục học đường theo phong cách Mỹ,

do đó VHHĐ cũng dần chuyển dịch theo xu

hướng “khai phóng” và “gắn kết thị trường”

Trong lịch sử thế kỷ XX, khối Đông Âu gắn

với nhà nước Liên bang Xô Viết (1922-1991),

nền giáo dục và văn hóa giáo dục cũng chịu

ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng chủ nghĩa

xã hội lấy tính xây dựng và công năng giáo

dục làm trọng tâm Sau 1991, giáo dục Đông

Âu chuyển dịch gần hơn với Tây Âu Trong

nội dung bài viết này chúng tôi tập trung chủ

yếu ở việc phân tích, đánh giá và rút ra bài

học kinh nghiệm trong xây dựng VHHĐ của

khu vực Tây Âu với các trường hợp cụ thể của

Anh, Pháp và Đức (cùng với Canada và Hoa

Kỳ ở Bắc Mỹ)

Ba quốc gia Anh, Pháp và Đức “sở hữu” ba

truyền thống và phong cách giáo dục khá khác

biệt nhau, trong đó nước Anh được đánh giá

là có nền giáo dục “khai phóng” nhất, được

nhiều khu vực trên thế giới học tập và phát

triển lên thêm, trong đó có thể kể đến Mỹ, Canada, Australia và New Zealand Nước Đức cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX cũng từng sở hữu nền giáo dục tiến bộ, song với

vị trí lằn ranh giữa hai khối tư bản và xã hội chủ nghĩa và sự kiện nước Đức bị chia cắt làm hai phần (Tây Đức và Đông Đức) trong giai đoạn 1949-1990, nền giáo dục Đức có phần bị kéo chậm lại bởi xuyên suốt thời gian ấy nhu cầu thống nhất quốc gia và thống nhất giáo dục mới là mục tiêu cao nhất Sau mốc 1990, nước Đức chợt nhận ra rằng giáo dục đại học của mình “tụt hậu”, không có trường đại học nào của Đức đứng ở các thứ hạng cao của xếp hạng đại học của thế giới Lúc này, chính phủ

và ngành giáo dục Đức thay đổi, bắt đầu xem xét, đánh giá và “học tập có điều kiện” mô hình giáo dục Mỹ VHHĐ ở Đức vì thế cũng đang chuyển dịch từ mô thức quản lý chặt từ trên xuống dần sang xu thế chung của thế giới

là lấy người học và các mối quan hệ tương tác giữa người học và các bên có liên quan làm trung tâm Song do quá trình chuyển đổi của giáo dục Đức chưa hoàn thiện, bài học kinh nghiệm mà giáo dục đại học Đức đúc kết chưa nhiều, song trải nghiệm ấy của nước Đức có thể là một bài học mang tính quá trình, tính trải nghiệm cho Việt Nam

Khá gần với Đức là Pháp Nước Pháp bước vào thế giới đương đại từ vị trí của một nước thực dân kiểu cũ, đánh mất các thuộc địa của mình từ châu Á sang châu Phi vào khoảng giữa hai cuộc đại thế chiến Giáo dục Pháp nửa đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng quản lý - khai thác tài nguyên (từ thuộc địa), song chính sự thất bại nặng nề của người Pháp trước Phát-xít Đức trong Thế

Trang 6

PGS.TS NGuyễN NGỌC THƠ - KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨu 71

chiến thứ II đã làm thức tỉnh nước Pháp Sau

Thế chiến thứ II, Chính phủ Pháp thắt chặt

giáo dục nhằm định hướng xây dựng tư tưởng

con người Pháp phục vụ quá trình hồi phục

kinh tế - chính trị sau chiến tranh Giống với

Đức, nước Pháp có nền văn hóa học đường

được đánh giá là mang tính bảo thủ, khép kín,

nặng về quản lý từ trên xuống hơn so với giáo

dục Anh Trong VHHĐ, một số nhà phân tích

đánh giá rằng người Pháp mải mê theo đuổi

xây dựng hình ảnh người trí thức mang bản

sắc Pháp với đặc tính “lãng mạn”, “đậm chất

nghệ thuật” và “đậm nét Pháp” phần nào đó

biến giáo dục học đường Pháp thành một dạng

“bảo tàng giáo dục nghệ thuật” đặc thù Đặc

tính này làm cho VHHĐ Pháp vốn được đánh

giá là sâu sắc và hiệu quả bị coi là khá cô lập

với thế giới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ

của tương tưởng khai phóng trong giáo dục

Anh - Mỹ, người Pháp dần dà đánh mất tầm

ảnh hưởng của mình trên văn đàn giáo dục

thế giới

So với Đức và Pháp, giáo dục Anh tự thân

nó mang tính khai phóng ngay từ sau Cách

mạng Công nghiệp thế kỷ XVIII và được “trao

quyền” một cách chắc chắn từ Hiến pháp và

thể chế chính trị Anh Với sự lớn mạnh dần

của liên minh chính trị - tư tưởng Anh - Mỹ

và ít chịu ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh

thế giới I và II, nước Anh phát triển liên tục;

và nhờ vậy, nền giáo dục Anh cũng phát triển

không ngừng Cho đến nay, tiếng Anh và nền

giáo dục Anh đã có sức lan tỏa lớn, bao trùm

gần như toàn bộ khối Thịnh vượng chung

(Commonwealth) từ châu Á sang châu Mỹ,

trở thành “suối nguồn” cho sự hình thành và

phát triển nền giáo dục Mỹ Với sức thu hút

sinh viên quốc tế lớn, giáo dục Anh xây dựng

và phát triển nền VHHĐ dựa trên nền tảng coi trọng tư tưởng khai phóng, coi trọng tính đa dạng và tự do cá nhân

2 Kinh nghiệm nước Anh

Nói đến giáo dục và VHHĐ châu Âu, đầu tiên người ta sẽ nhắc tới nước Anh Đây là quốc gia có lịch sử nghiên cứu tư tưởng học đường và VHHĐ khá “dày dặn” so với phần còn lại của châu Âu Một phần thành quả ấy

có nguồn gốc từ bản thân nền giáo dục Anh với nhiều trường đại học đứng hàng đầu thế giới (ĐH Cambridge, ĐH Oxford v.v.) luôn tạo ra động năng và nhu cầu lớn cho giáo dục

và văn hóa giáo dục; một phần nữa là nước Anh sở hữu nhiều trung tâm nghiên cứu lớn và các nhà xuất bản lớn về khoa học nói chung, trong đó có khoa học về giáo dục nói riêng Yếu tố thứ ba phải kể đến độ phổ biến của ngôn ngữ Anh trên tầm thế giới đã góp phần làm “cầu nối” mang các bộ óc lớn của thế giới

về với nước Anh cùng làm nên một nền giáo dục và VHHĐ Anh khá vững chắc hôm nay Theo nghiên cứu của Prosser (1999) trong

ba thập kỷ cuối thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu giáo dục và khoa học xã hội Anh đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh nổi bật của giáo dục và VHHĐ nước này gồm:

(1) Những xu hướng chính trong lý luận và thực hành giáo dục;

(2) Trường ý nghĩa của khái niệm VHHĐ; (3) Những khuynh hướng chính trong phương pháp nghiên cứu học đường và VHHĐ;

(4) Các xu thế chính trị và ảnh hưởng của chúng đến chính sách giáo dục (tham khảo Prosser 1999, tr 2)

Trang 7

Thuở ban đầu, VHHĐ được các tác giả đề

cập đến ở từng khía cạnh cụ thể Chẳng hạn các

tác giả Lewin và đồng nghiệp (1939), Argyris

(1958) và nhóm Halpin & Croft (1963) tập

trung nhiều vào thuật ngữ “không khí/môi

trường tổ chức (Organisational climate)” Đến

những thập niên 1960-1970 giới học thuật Anh

đã bắt tay với các đồng nghiệp Mỹ và Canada

để triển khai nhiều công trình nghiên cứu lớn

về vấn đề này Tiêu biểu có thể kể nhóm Halpin

và Crofts với công trình The Organisational

Climate of Schools (Môi trường tổ chức trường

học, 1963), nhóm Coleman với công trình

Equality of Educational Opportunity (Bình

đẳng về cơ hội giáo dục, 1966), Plowden

Committee với Children and Their Primary

Schools (Trẻ em và mái trường tiểu học của

chúng, 1967), Berstein với Toward a theory

of educational transmission (Hướng tới một

lý thuyết truyền tải giáo dục, 1970) và Averch

với How effective is schooling? (Hiệu quả học

đường như thế nào, 1971) đã nêu bật ý nghĩa

quan trọng của nền tảng xã hội đối với học

đường và kết quả học tập của người học, trong

đó Bernstein đã nhấn mạnh rằng giáo dục học

đường chưa thể giúp khắc phục tình trạng bất

bình đẳng xã hội

Có thể nói, xu hướng chính trị và ảnh hưởng

của chúng đối với chính sách giáo dục hai

thập niên 1960-1970 này Webb và Vulliamy

khẳng định: “VHHĐ nằm trong tầm kiểm

soát của những người quản lý trường; các nhà

lãnh đạo chính trị ”, lúc này tư tưởng khai

phóng trong giáo dục chỉ mới manh nha trên

bàn giấy (Webb & Vulliamy 1996, tr 456)

Bước sang thập niên 1970 các nhà nghiên

cứu Anh đã bắt đầu nghiên cứu học đường một

cách tổng thể hơn đi vào các bình diện cụ thể của nó Lúc này hợp tác giữa hai bờ Đại Tây Dương càng thắt chặt hơn với dự án xây dựng

“của Trên cơ sở Bảng hỏi miêu tả môi trường

tổ chức (trong học đường) do Halpin và Crofts xây dựng năm 1963, tác giả Finlayson (1970,

1973) phát triển lên thành chỉ số môi trường

học đường (School Climate Index) áp dụng để

tìm hiểu bản chất xã hội, nhận thức, tình cảm của thầy và trò trong các trường mới thành lập (xem thêm Prosser 1999, tr 2-3)

Với công trình 15.000 giờ: Trường trung

học và ảnh hưởng của chúng đối với trẻ em (Fifteen Thousand Hours: Secondary Schools and Their Effects on Children), nhóm tác

giả Rutter, Maughan, Mortimore và Ouston (1979) bắt đầu sử dụng thuật ngữ “đạo đức” (ethos) để diễn tả nội dung VHHĐ trong nghiên cứu Theo đó, các bình diện như “giáo dục khả năng hỗn hợp”, “đánh giá chương trình giảng dạy”, “chăm sóc mục vụ”, “phong cách giảng dạy” đã được phân tích khá toàn diện làm nổi bật diện mạo VHHĐ Theo đánh giá của Prosser (1999, tr 5), dường như thuật ngữ “climate” được các nhà nghiên cứu về hiệu quả học đường dùng nhiều hơn, trong khi thuật ngữ “văn hóa” (culture) được các nhà nghiên cứu về tiến bộ học đường yêu thích, các thuật ngữ “đạo đức” (ethos), “bầu không khí” (atmostphere) và “nhịp điệu” (tone) được dùng để mô tả phẩm chất của trường học Ở hai bên bờ Đại Tây Dương, người Mỹ thích dùng thuật ngữ “không khí học đường (school climate)” trong khi người Scotland thì thích dùng “đạo đức học đường (school ethos) Trong thập niên 1970 này nước Anh chia thành hai trường phái định tính và định lượng

Trang 8

PGS.TS NGuyễN NGỌC THƠ - KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨu 73

(Dey, 1993) Các nghiên cứu về hiệu quả học

đường lúc bấy giờ đa phần dựa trên nghiên

cứu định lượng và phương pháp thống kê,

chẳng hạn công trình của nhóm Rutter (1979)

nói trên

Thập niên 1980 bắt đầu nở rộ xu hướng

nghiên cứu VHHĐ thể hiện qua các khái

niệm đạo đức học đường, môi trường học

đường, văn hóa, không khí học đường và nhịp

điệu học đường Nhóm tác giả Mortolas et

al (1988) quen dùng thuật ngữ “không khí/

môi trường học đường” thay vì “đạo đức học

đường” (school climate) trong khi Smith và

Tomlinson (1989) thì dùng khái niệm “đạo

đức học đường” (school ethos), trong đó các

tác giả đều nhấn mạnh tới các đặc tính học

đường như “có trật tự”, “an toàn” hoặc “tích

cực” (xem Prosser 1999, tr 3) Nổi bật hơn,

Fullan (1982) đã nhấn mạnh rằng VHHĐ đặc

biệt quan trọng vì nó xác định hệ thống giá trị

hướng dẫn(1) của nhà trường trong việc chuyển

đổi tiến bộ và và tăng cường khả năng đáp

ứng mục tiêu giáo dục

Đến giữa thập niên 1980 xu hướng nghiên

cứu định lượng bị hoài nghi Findlayson phản

đối Anderson, cho rằng nghiên cứu thống kê

đo không khí học đường “giống như những

người mù xem voi và báo cáo một cách thận

trọng các mụn cóc, thân cây, đầu gối và đuôi,

mỗi người trong số họ tự tin khẳng định rằng

họ đã phát hiện ra sự thật bản chất của voi”

(Perrow 1974, tr 43; Prosser 1999, tr 6-7)

Năm 1985, tác giả Striven cho rằng các nghiên

cứu nên sử dụng “các kỹ năng của nhà dân tộc

(1) Hai tác giả Deal và Kennedy (1983, tr 15) cho rằng một hệ

thống giá trị định hướng (giá trị và niềm tin) vốn không phải là

chuẩn mực trong trường học.

học” trong việc khám phá bản chất khó nắm bắt của không khí học đường bởi những người tham gia trong môi trường học đường có sự lựa chọn và tự do của họ, nghiên cứu cách này

sẽ tìm ra những kết quả ngoài ý muốn, tính

đa biến, những mâu thuẫn và xung đột cảm xúc , tất cả đều đóng góp vào không khí học đường và do đó cần phải xem xét nghiên cứu

“định tính” (dẫn trong Prosser 1999, tr 7) Trong giai đoạn này (thập niên 1980-1990) nhiều đạo luật Giáo dục và đặc biệt là luật ERA ban hành năm 1988 đã mở đường cho một sự thay đổi lớn trong một số giá trị cốt lõi của trường học ở Anh Tại cuộc bầu cử năm

1979, chính phủ của bà Thatcher đã cố gắng phá vỡ thế chi phối nghiêm ngặt của chính quyền địa phương đối với giáo dục, tiến tới xây dựng một loạt quy định mới trong luật Giáo dục Chính sách của chính phủ về các trường học địa phương (LMS) đã trao quyền cho các trường quyền kiểm soát ngân sách của mình Quyền tự chủ này đã giúp tạo dựng niềm cảm hứng lớn để nhà trường có thể xây dựng phong cách văn hóa cho riêng mình Trong khoa học, nhiều tác giả chú trọng đánh giá tác động của pháp luật với VHHĐ và chỉ

ra những điểm bất cập để giới quản lý tháo gỡ nhằm thực hiện triệt để tư tưởng khai phóng trong xây dựng VHHĐ

Giai đoạn sau năm 2000 cho đến nay, nghiên cứu VHHĐ ở Anh gần như hòa chung với dòng chảy VHHĐ ở Mỹ do sự giao lưu văn hóa - tư tưởng và giao lưu học thuật Anh - Mỹ ngày càng sâu rộng Các công trình nghiên cứu VHHĐ được xuất bản đồng thời ở cả London và các thành phố nước Mỹ cũng góp phần thắt chặt mối quan hệ này Điểm khác

Trang 9

biệt lớn nhất trong VHHĐ ở Anh so với Mỹ

chính là tính lịch sử của nền giáo dục Anh,

kèm theo nó là một phần dư vị của tính tôn

ti - đẳng cấp xã hội; trong khi ở Mỹ đó là tính

đa dạng văn hóa Nói cách khác, tính tương

đồng trong tư tưởng, quan niệm và cấu trúc

VHHĐ ở Anh và Mỹ khi đi vào bối cảnh của

từng nước đã “cụ thể hóa” thành hai “phiên

bản” chứa đựng một số khác biệt Cụ thể, ở

Anh, chính phủ yêu cầu trong chương trình

giảng dạy quốc gia phải chú ý yếu tố lịch sử

Anh, địa lý Anh và văn học Anh giai đoạn ‘cổ

điển’ (Power & Whitty 1999, tr 20) Thậm

chí, Hillgate Group (1987, tr 4) từng cho rằng

“các giá trị truyền thống của xã hội phương

Tây” ẩn chứa nền văn hóa Anh trong đó cần

được gìn giữ, quyết “không được hy sinh”

dưới tác động của tư duy khai phóng và tính

đa dạng văn hóa trong môi trường học đường

Cho đến hiện nay, khi thuật ngữ văn hóa

được diễn giải kỹ hơn cũng là lúc giới nghiên

cứu đi tìm định nghĩa VHHĐ sát hơn Nhìn

chung VHHĐ ở Anh phụ thuộc vào các yếu

tố sau:

VHHĐ nằm trong khuôn khổ văn hóa xã

hội, văn hóa quốc gia, chịu sự chi phối bởi

chính trị - văn hóa, xã hội, kể cả thị trường

lao động (xem thêm Whitty, Power & Halpin

1999)

Trường học, bệnh viện là những thiết chế

đặc thù không thể mang ứng dụng toàn bộ hệ

giá trị văn hóa phổ thông ngoài xã hội được,

bởi “bản chất VH của chúng khó có thể chia sẻ

cho người ngoài nhóm” (xem thêm Anthony

1994, tr 52)

Các thành viên trong một trường có sự tự

do lựa chọn kiến tạo “sắc màu” VHHĐ độc

đáo riêng của trường mình dựa trên khung VHHĐ chung

VHHĐ thể hiện ra thành hai tiểu hệ thống: cách hiểu bên trong và cách hiểu bên ngoài Người bên trong góp phần xây dựng phong cách VHHĐ độc đáo của trường mình song bên ngoài xã hội “nhận thức” và “đánh giá” VHHĐ của đơn vị thông qua nhiều kênh khác nhau: tiếp xúc con người; đọc bản tin, đọc website, xem các tiết mục biểu diễn (Prosser 1999, tr 9)

Có thể nói, người Anh đã thay đổi sâu sắc văn hóa tổ chức để thúc đẩy xây dựng VHHĐ

Họ thay đổi cung cách lãnh đạo, quản lý theo hướng trao quyền tự chủ tối đa cho nhà trường

và xây dựng văn hóa chuyên môn trong đội ngũ nhân lực (người quản lý, giáo viên, nhân viên hành chính ), coi đó là hai điểm mấu chốt của của lý thuyết giáo dục đương đại Những thay đổi ở góc nhìn “văn hóa tổ chức”

ở Anh đã tạo những điều kiện tối cần thiết cho môi trường học đường, tạo dựng “chất keo xã hội” để gắn kết các bộ phận lại với nhau (Seihl, 1985), và là một sản phẩm kinh nghiệm của các nhóm xã hội (Schein, 1997) Schein (1997) đặc biệt chú ý tới vai trò của tính đồng nhất và ổn định trong đơn vị nhà trường, cái có thể giúp xác định tính chất mạnh yếu của VHHĐ, theo đó, (1) các tổ chức có thể chứa các tiểu văn hóa khác nhau dựa trên các nhóm khác nhau, thay vì một văn hóa tổ chức duy nhất; (2) văn hóa nhóm có thể là lực lượng của sự mất đoàn kết của tổ chức, thậm chí là phản đối nhà quản lý; và (3) tạo dựng nền văn hóa tổ chức là công việc khó khăn và lâu dài, giới quản lý học đường cần phải kiên trì (xem thêm Waller (1932), Jackson (1968),

Trang 10

PGS.TS NGuyễN NGỌC THƠ - KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨu 75

Hargreaves (1994), Rudduck et al (1996) )

Tác giả Nias và các đồng nghiệp (1989) đồng

thuận với quan điểm của Schein (1985) cho

rằng các nhà lãnh đạo đóng vai trò chủ đạo

trong việc “tạo ra và quản lý VHHĐ”, đồng

thời cũng nhấn mạnh thêm rằng giáo viên đầu

ngành cũng có vai trò tương tự

Đương nhiên giới nghiên cứu Anh khẳng

nhận VHHĐ cũng bị ảnh hưởng bởi bối cảnh

bên ngoài của trường học như nhà doanh

nghiệp, các thiết chế chính trị - văn hóa - xã

hội Trong đó, công đoàn giáo dục cũng có

thể có tác động đến văn hóa học đường (Fink

1997)

Theo hai tác giả Stoll và Fink (1996), hiện

tại nước Anh đang hướng đến xây dựng hoàn

chỉnh nền VHHĐ với các chuẩn mực như sau:

(1) Mục tiêu chung được chia sẻ

(2) Trách nhiệm hướng tới thành công

(3) Trường đại học là ngôi nhà chung của

chúng ta

(4) Cải tiến liên tục để luôn trở nên tốt hơn

(5) Học tập suốt đời vì chính mình và vì

mọi người

(6) Chấp nhận rủi ro

(7) Hỗ trợ hết mình những ai cần giúp

(8) Tôn trọng lẫn nhau

(9) Cởi mở và tôn trọng sự khác biệt

(10) Biết hoài niệm và có óc hài hước

3 Kinh nghiệm ở Pháp và Đức

3.1 Kinh nghiệm ở Pháp

Engels năm 1885 từng nhấn mạnh rằng,

Pháp - hơn bất kỳ nơi nào khác, là vùng đất

diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp lịch sử,

và do đó, các hình thức chính trị thay đổi đã

tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội Pháp

Khi giai cấp tư sản cộng hòa chiến thắng đã

thiết kế một hệ thống giáo dục nhằm phản ánh các lý tưởng văn hóa, xã hội và chính trị của

họ Hệ thống này mang tính khép kín, khớp nối chặt chẽ và tập trung cao độ nhất ở cấp đại học Hệ thống trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử song về cơ bản vẫn giữ nguyên cái lõi khép kín của nó (Zolberg & Zolberg

1971, tr 330) Sau Đại thế chiến thứ II nước Pháp bước vào thời kỳ tự thân phát triển mà không còn hệ thống thuộc địa nữa, xã hội Pháp diễn ra quá trình tái cơ cấu lớn, các nhà hoạch định chính sách công quan tâm nhiều hơn đến việc tìm cách thay đổi hệ thống vĩ mô chung của toàn xã hội hơn là từng bình diện

cụ thể (như giáo dục chẳng hạn) Cho đến thời Chiến tranh lạnh, hệ thống giáo dục Pháp đến thời còn mang dấu ấn giai cấp khá rõ Về bản chất, giáo dục Pháp khá do dự trong việc tiến sâu vào thế giới hiện đại (Zolberg & Zolberg

1971, tr 345)

Theo Robinson, Tayler và Piolat (1990, tr.387-403), nước Pháp duy trì chương trình quốc gia chung đến bậc tú tài, đồng thời có

cơ chế kiểm tra - giám sát chặt chẽ từng khâu đoạn với yêu cầu về chất lượng người học khá nghiêm ngặt (Bernstein 1975) Ở bậc đại học, chương trình vẫn bị đóng khung cao hơn ở Anh Trong khi ở Anh không quy định chương trình quốc gia, cũng không có cơ chế kiểm tra - giám sát quá ngặt nghèo, nhà trường khá chủ động trong việc triển khai hoạt động giáo dục thì dường như giáo dục Pháp không chịu áp lực lớn của tính đa dạng ấy Nghiên cứu cho thấy với độ giám sát chặt chẽ như vậy, học sinh, sinh viên Pháp cảm thấy “tự tin hơn” và “có hành vi ứng xử tốt hơn trong lớp học” Tương tự như vậy, nghiên cứu cũng

Ngày đăng: 15/12/2021, 09:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w