Văn hóa vật chất: là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện trong các của cải vật chất do con người tạo ra.. Chính vì vậy vănhóa vật chất sẽ ảnh hưởng to lớn đến trình độ dân trí,
Trang 1Các yếu tố cấu thành văn hóa (1)
Văn hóa là một phạm trù phức tạp và đa dạng Để hiểu bản chất của văn hóa, cần xem xét các yếu tố cấu thành văn hóa Dựa vào khái niệm về văn hóa, có thể chia vănhóa thành hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Văn hóa vật chất: là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện trong các của cải
vật chất do con người tạo ra Đó là các sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệutiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở
hạ tầng xã hội như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng tàichính như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính trong xã hội Văn hóa vật chất được thể hiện qua đời sống vật chất của quốc gia Chính vì vậy vănhóa vật chất sẽ ảnh hưởng to lớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viêntrong nền kinh tế đó.Một điểm lưu ý khi xem xét đến văn hóa vật chất, chúng ta xemxét cách con người làm ra những sản phẩm vật chất thể hiện ở tiến bộ kỹ thuật vànghệ thuật, ai làm ra chúng và tại sao Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đã ảnh hưởngđến mức sống và giúp giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội
Ví dụ như nếu là một quốc gia tiên bộ kỹ thuật, con người ít tin vào số mệnh và họ tintưởng rằng có thể kiểm soát những điều xảy ra đối với họ Những giá trị của họ cũngthiên về vật chất bởi vì họ có mức sống cao hơn Như vậy, một nền văn hóa vật chấtthường được coi là kết quả của công nghệ và liên hệ trực tiếp với việc xã hội đó tổchức hoạt động kinh tế của mình như thế nào
Văn hóa tinh thần: là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao
gồm kiến thức, các phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm
cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời), các giá trị và thái độ, các hoạt động vănhóa nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, các phương thức giao tiếp và cách thức tổ chức
xã hội.Kiến thức là nhân tố hàng đầu của văn hóa,thường được đo một cách hìnhthức bằng trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng kiến thức khoa học, hệthống kiến thức được con nguời phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sungnâng cao và không ngừng đổi mới qua các thế hệ.Các phong tục tập quán là những qui ước thông thường của cuộc sống hàng ngàynhư nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ ăn uống trong bữa ăn, cách xử sựvới những người sung quanh, cách sử dụng thời gian…Phong tục tập quán là nhữnghành động ít mang tính đạo đức Sự vi phạm phong tục tập quán không phải là vấn đềquan trong, người vi phạm chỉ bị coi là không biết cách cư xử chứ ít khi bị coi là hưhỏng hay xấu xa Vì thế, người nước ngoài có thể được tha thứ cho việc vi phạmphong tục tập quán lần đầu tiên đến một nước khác Tập tục có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với tập quán, nó là những qui tắc được coi làtrọng tâm trong đời sống xã hội, việc làm trái tập tục có thể gây ra hậu quả nghiêmtrọng Chẳng hạn như tập tục bao gồm các yếu tố như sự lên án các hành động trộmcắp, ngoại tình, loạn luân, giết người Ở nhiều xã hội, một số tập tục đã được cụ thểhóa trong luật pháp Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành
từ trước Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêngbiệt Thói quen thực hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khi thực hiệnchúng
Ví dụ thói quen ở Mỹ là ăn món chính trườc khi ăn món tráng miệng Khi thực hiệnthói quen này, họ dùng dao và nĩa ăn hết thức ăn trên nĩa và không nói khi có thức ăntrong miệng Ở nhiều nước trên thế giới, thói quen và cách cư xử hoàn toàn khácnhau Ở các nước La tinh có thể chấp nhận việc đến trễ, nhưng ở Anh và Pháp, sựđúng giờ là giá trị Người Mỹ thường sử dụng phấn bột khi tắm nhưng người Nhật
Trang 2Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được các thanh
viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ảnh trước một sự
vật dựa trên các giá trị Ví dụ thái độ của nhiều quan chức tuổi trung niên của Chính
phủ Nhật Bản với người nước ngoài không thiện chí lắm, họ cho rằng dùng hàng
nước ngoài là không yêu nước Thái độ có nguồn gốc từ những giá trị, ví dụ người
Nga tin tưởng rằng cách nấu ăn của Mc Donald là tốt nhất đối với họ (giá trị) và do đó
vui lòng đứng xếp hàng dài để ăn (thái độ)
1.1 Khái niệm văn hóa Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
1.1.1 Văn hóa trước hết phải có tính HỆ THỐNG Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan
mật thiết với nhau Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép
cộng đơn thuần của những tri thức bộ phận E.B Taylor định nghĩa văn hóa như một " phức hợp bao gồm tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như mộtthành viên của xã hội tiếp thu được" Định nghĩa văn hóa trong các loại từ điển, các công trình nghiên cứu thường
mở đầu bằng câu: "Văn hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các giá trị " Quan niệm cảm tính này là sản phẩmcủa lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học - khi mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập.Với tư cách là một khoa học lý luận, VĂN HÓA HỌC có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệttrên cơ sở những tư liệu do các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học ) cung cấp với mụcđích phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển Nghiên cứu văn hóa dân tộc theo lối này khôngchỉ là tìm hiểu "Cái gì?", mà chủ yếu là tìm hiểu "Tại sao?" và "Như thế nào?" Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ
có tính bản chất giữa các sự kiện, văn hóa học sẽ cho phép ta, chẳng hạn, nếu biết được một dân tộc sống ở đâu, ănnhư thế nào, có thể nói được rằng dân tộc đó mặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào Từ đó, người đọc cóthể suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hóa mà anh ta bắt gặp
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện
được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội
mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
1.1.2 Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính GIÁ TRI Trong từ "văn hóa" thì văn (ở Đông phương đối
lập với "võ") có nghĩa là "vẻ đẹp" (= giá trị), hóa là "trở thành", văn hóa có nghĩa là "trở thành đẹp, thành có giá trị" Văn
hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần) Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm
my (chân, thiện, mỹ) Các giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ đều thuộc phạm trù giá trị tinh thần.
Giá trị tinh thần còn bao gồm các tư tưởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo dục ), trong đó có cả bản thân cáchthức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệm ngàn đời, con người đã tích lũy được Theo nghĩa này, văn hóa có thểđược xem như một dạng hoạt động: Theo L White [1949], văn hóa là một phạm trù khoa học biểu thị một lĩnh vực hoạtđộng đặc biệt chỉ có ở riêng xã hội loài người, với những quy luật hành chức và phát triển riêng của mình Tuy nhiên,tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểuquá rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người Chẳng hạn, theo L White [1975: 68-70] thì thậm chí ngay cảnhững hiện tượng như tội ác có tổ chức (maphia) cũng được xem là một loại "véctơ văn hóa"!
Trang 3Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt
giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta cóđược cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xuhướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời Nhờ vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng cóthể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Chẳng hạn, việc chửi nhau hoặc chiến tranhthuộc số những biện pháp giải quyết xung đột (= có phần giá trị!) Ngược lại, ô-tô, máy bay, công trình thủy điện trongkhi đem lại lợi ích rõ rệt cho con người thì đồng thời cũng làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái (= phi giátrị!) Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữamức độ "giá trị" và "phi giá trị" của chúng
Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng vào những thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có hay không có giá trị tùythuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn Chẳng hạn, chế độ chiếm hữu nô lệ với tính dã man của nó quen
được xem là phi giá trị Song, ngay chính F Engels trong "Chống Đuyrinh" cũng đã từng nói rằng "nếu không có chế độ
nô lệ cổ đại thì không thể có chủ nghĩa xã hội hiện đại", bởi lẽ nhờ nó tạo ra sự phân công lao động trên một quy môrộng lớn mà nền văn minh Hy Lạp được hình thành Mà - như F Engels giải thích - "nếu không có cơ sở văn minh HyLạp và đế quốc La Mã thì không thể có châu Âu hiện đại được" Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phongkiến, vai trò của Nho giáo, triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế Bởi vậy, không
thể áp đặt một quan niệm về phẩm chất của giá trị cho mọi không gian, mọi thời gian, không thể đưa khía cạnh này vào
ngay trong định nghĩa như có người đề nghị
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức
năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện
và thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển
Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người Từ việc điều chỉnh xã hội, văn hóa có chức năng phái sinh là động lực cho sự phát triển của xã hội.
Không phải ngẫu nhiên mà UNESCO nhấn mạnh rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của pháttriển
1.1.3 Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính NHÂN SINH Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động
thực tiễn của con người Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiêntạo Nhưng nó không phải là sản phẩm của hư vô, mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổidưới tác động của con người, là "phần giao" giữa tự nhiên và con người: VĂN HÓA = TỰ NHIÊN Ç CON NGƯỜI.Đặc trưng này cho phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với những giá trị tựnhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người (như các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) Sự tác động của con
người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đẽo gỗ tạc tượng) hoặc mang tính tinh thần (như việc đặt tên, tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên: vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu ).
Như vậy, "văn hóa học" không đồng nhất với đất nước học như nhiều người quan niệm [Vereschagin
-Kostomaro1983: 40] Nhiệm vụ của đất nước học là giới thiệu thiên nhiên - đất nước - con người, đối tượng của nó baogồm cả các giá trị tự nhiên Và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị Về mặt này thì nó rộng hơn văn hóa học Mặtkhác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học
Trang 4Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan
trọng Chức năng giao tiếp là chức năng thứ ba của văn hóa Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là
nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp giữa nhữngngười thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa
1.1.4 Văn hóa còn có tính LICH SƯ Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong
một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; và chính nóbuộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống (truyền = chuyển giao, thống = nối
tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng Truyền thống văn
hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích
lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận
Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn
hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà cònbằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống
chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách) Một đứa trẻ sau khi ra đời nếu được sống với cha mẹ, nó sẽ được
giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi nó sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, nó sẽ mang tính cách của loài thú Khôngphải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương Tây, từ "văn hóa" (culture, cultura) đều có chứa một nghĩa chung làchăm sóc, giáo dục
Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử: Nếu gien sinh học di
truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa là một thứ "gien" xã hội di truyền phẩm chất con người lạicho các thế hệ mai sau
1.1.5 Trở lên là những đặc trưng cơ bản Những đặc trưng khác, nếu có, chỉ là biến dạng của bốn đặc trưng này.Tổng hợp bốn đặc trưng đó, ta sẽ có được khái niệm "văn hóa" như trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Xác định khái niệm "văn hóa"
Trang 5Trên cơ sở này, ta có thể nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau:
VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
1.2 Văn hóa với các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật
1.2.1 Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng "văn minh" (civilization, civilisation) như một từ đồng nghĩa với "vănhóa" Thực ra, như viện sĩ D Likhacho[1990] có nhận xét, "đây là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết vớinhau, song không đồng nhất Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi đó thì vănminh hướng tới sự hợp lý, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi" Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến các tiệnnghi vật chất Như vậy, văn hóa và văn minh khác nhau trước hết là ở tính giá trị: trong khi văn hóa là một khái niệm
bao trùm, nó chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh thiên về các giá trị vật chất mà thôi.
Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hóa; từ "văn minh" có thể được định
nghĩa khác nhau trong các từ điển khác nhau, song chúng thường có chung một nét nghĩa là nói đến "trình độ pháttriển" Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểutượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, nó trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy
vi tính Một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa rất nghèo nàn, và ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú.
Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: Văn hóa
mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng, không dễ gì mua bán hoặc thay đổi được; còn văn minh thì có tính quốc tê, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân
loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà cái vật chất thì dễ phổ biến, lây lan
Và sự khác biệt thứ tư, về nguồn gốc: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn
bó nhiều hơn với phương Tây đô thị Các nền văn hóa cổ đại hình thành từ trên hai nghìn năm trước công nguyên như
Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa đều là sản phẩm của phương Đông Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn
hóa Hy Lạp thì cũng sau các nền văn hóa phương Đông cổ đại tới hàng nghìn năm (thế kỷ XI-III trước công nguyên) vàđược hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa phương Đông gần nó nhất là Ai Cập vàLưỡng Hà - từ hệ thống thần thoại, lịch pháp cho đến chữ viết - chỗ nào cũng thấy dấu ấn của ảnh hưởng phươngĐông Về vị trí và đặc điểm kinh tế thì các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn là
những nơi sản xuất nông nghiệp Trong các ngôn ngữ phương Tây, từ "văn hóa" bắt nguồn từ chữ cultus tiếng La-tinh
có nghĩa là "trồng trọt" Từ trồng trọt phát triển ra nghĩa chăm sóc (cây cối), từ "chăm sóc (cây cối)" dẫn đến chăm sóc (con người) = giáo dục Trong khi đó thì từ "văn minh" trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas tiếng La-tinh có nghĩa là "thành phố" Nghĩa gốc này kéo theo mình hàng loạt từ và nghĩa phái sinh trong các ngôn ngữ châu Âu: "thị dân", "công dân" (civilis) , từ đó đến civilisation, civilization là "làm cho trở thành đô thị",
đầy đủ tiện nghi như đô thị (= văn minh)
Như vậy, VĂN MINH (văn = vẻ đẹp, minh = sáng) là khái niệm mang tính quốc tế, có nguồn gốc tư phương Tây
đô thị và chitrình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yêu về phương diện vật chất.
Trang 61.2.2 Ở Việt Nam còn có các khái niệm "văn hiến" và "văn vật" Từ điển thường định nghĩa văn hiên là "truyền thống văn hóa lâu đời", còn văn vật là "truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử", "công
trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử" So sánh các định nghĩa này, ta thấy "văn hiến" và "văn vật" thực ra chỉ là
những khái niệm bộ phận của "văn hóa", chúng chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hóa thiên
về "truyền thống lâu đời", mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ được không bị chiến tranh và thời gian hủy hoại chính là
các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công trình, hiện vật) Chính vì
vậy mà ông cha ta thường nói đất nước 4000 năm văn hiên (chứ không nói văn vật, vì trải qua 4000 năm, phần lớn các giá trị vật chất đã bị tàn phá), nhưng lại nói Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn vật (vì trong 1000 năm trở lại đây,
từ khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long, các giá trị vật chất còn lưu giữ được nhiều)
Phương Tây không có hai khái niệm "văn hiến" và "văn vật", cho nên hai khái niệm này không thể dịch ra các ngônngữ phương Tây được Văn vật và văn minh tuy cùng thiên về giá trị vật chất, nhưng lại rất khác xa nhau
Để dễ phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật, những điều nói trên được trình bày trong bảng 1.2.
Chứa cả giá trị vật
chất lẫn tinh thần
Thiên về giá trịtinh thần
Thiên về giá trịvật chất
Thiên về giá trịvật chất - kỹ thuật
Có bề dày lịch sư Chỉ trình độ phát triển
Gắn bó nhiều với phương Đông nông nghiệp
Gắn bó nhiều vớiphương Tây đô thị
Bảng 1.2: So sánh văn hóa, văn minh, văn hiên, văn vật
1.3 Cấu trúc của hệ thống văn hóa
1.3.1 Như đã nói, lâu nay, tính hệ thống của văn hóa chưa được chú ý đầy đủ, cho nên cũng chưa có được một
mô hình hệ thống văn hóa đầy đủ và có sức thuyết phục
Theo cách nhìn truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần rất đơn giản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần[Arnoldo1985: 31-46] Cấu trúc này không sai, nhưng nó là cấu trúc cơ sở, rất đơn giản, không thể cho thấy hết được
sự phong phú và phức tạp của hệ thống văn hóa
L White [1949: 346-366] phân chia văn hóa thành ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tư tưởng Đào Duy Anh [1951:8] dựa theo F Sartiaux mà chia văn hóa thành ba phần: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt trí thức NhómVăn Tân [1973] thì phân biệt văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần; nhưng văn hóa xã hội (phong tục,tập quán ) đâu có nằm ngoài văn hóa tinh thần? M.S Kagan cũng chia văn hóa ra ba thành tố, trong đó, bên cạnh vănhóa vật chất và văn hóa tinh thần là văn hóa nghệ thuật [1974: 188-208]; nhưng có nghệ thuật nào lại không phục vụcác nhu cầu tinh thần?
Trang 7Một số tác giả khác nói đến bốn thành tố như văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệthuật [Ngô Đức Thịnh 1987], hoặc hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật[Nguyễn Tấn Đắc 1987].
1.3.2 Để tiếp cận văn hóa như một hệ thống, cần phải vận dụng chính lý thuyêt hệ thống.
Theo lý thuyết này [xem, ví dụ: Blauberg 1969; Sadovskij 1974] thì:
a) Mọi HỆ THỐNG đều bao gồm các YẾU TỐ và các QUAN HỆ giữa chúng; mạng lưới các mối quan hệ tạo thànhCẤU TRÚC;
b) Mỗi yếu tố của hệ thống, đến lượt mình, đều có thể là một hệ thống con - một TIỂU HỆ;
c) Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với MÔI TRƯỜNG
Trên cơ sở này, chúng tôi thấy hợp lý hơn cả là xem văn hóa như một hệ thống gồm bốn thành tố (bốn tiểu hệ) cơbản, mỗi tiểu hệ lại có hai vi hệ nhỏ hơn như sau: Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định -một chủ thể văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm
hiểu, và do vậy đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và về bản thân con người
-đó chính là hai vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận thức.
Tiểu hệ thứ hai liên quan trực tiếp đến những giá trị văn hóa nội tại của cộng đồng người - chủ thể văn hóa: đó
là văn hóa tổ chức cộng đồng Nó bao gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan
đến tổ chức xã hội trong một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị), và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống mỗi người như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ
thuật )
Cộng đồng người (chủ thể văn hóa) hiển nhiên là tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường tựnhiên (thiên nhiên, khí hậu, v.v.) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội, dân tộc, quốc gia láng giềng) Cho nên,
hệ thống văn hóa còn bao gồm hai tiểu hệ nữa liên quan đến cách thức xử sự của cộng đồng dân tộc với hai loạạ̣i môi
trường ấy Hai tiểu hệ đó là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Với mỗi loại môi trường, đều có thể có hai cách xử thế phù hợp với hai loại tác động của chúng (tạo nên hai vi
hệ): tận dụng môi trường (tác động tích cực) và đối phó với môi trường (tác động tiêu cực) Với môi trường tự nhiên, có
thể tận dụng để ăn uống và giữ gìn sức khỏe, để tạo ra các vật dụng hàng ngày ; đồng thời phải đối phó với thiên tai(trị thủy), với khoảng cách (giao thông), với khí hậu và thời tiết (quần áo, nhà cửa, kiến trúc) Với môi trường xã hội,
bằng các quá trình giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng các thành tựu của các dân tộc, quốc gia lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình; đồng thời lại phải lo đối phó với họ trên các mặt
trận quân sự, ngoại giao
1.3.3 Cũng như mọi loại ranh giới, ranh giới giữa các bộ phận của hệ thống văn hóa không thể vạch ra một cáchquá rạch ròi, nhất thành bất biến Để xếp sắp một hiện tượng văn hóa vào hệ thống, phải căn cứ vào đặc điểm điểnhình của nó Chẳng hạn, mục đích của nhà cửa là để đối phó với môi trường tự nhiên, nhưng con người lại cũng đã tậndụng chính môi trường tự nhiên để tạo ra nó Ngoại giao vừa có trách nhiệm đối phó vừa có trách nhiệm tận dụng môi
trường xã hội, nhưng trách nhiệm đối phó nặng nề hơn (không phải ngẫu nhiên mà ta có khái niệm mặt trận ngoại giao).
Trang 8Một hệ thống văn hóa có thể được xem xét dưới góc độ các bình diện đồng đại và lịch đại, khái quát và cụ thể Mônlịch sử văn hóa lâu nay chủ yếu quan tâm đến bình diện cụ thể và lịch đại, còn môn văn hóa học đang bàn chủ yếu
quan tâm đến bình diện khái quát và đồng đại Tuy nhiên, vì văn hóa vừa có tính hệ thống, lại vừa có tính lịch sử cho
nên một miêu tả cụ thể tốt nhất là phải tính tới cả hai bình diện ấy Nếu lấy diện lịch đại làm cơ sơ thì trong mỗi giai
đoạn lịch sử sẽ phải lưu ý đến tính đồng đại - VĂN HÓA SỬ (lịch sử văn hóa) phải được xây dựng như thế Ngược lại,
nếu lấy diện đồng đại làm cơ sơ thì trong mỗi hệ thống con lại phải chú ý đến mặt lịch đại - VĂN HÓA HỌC phải được
xây dựng như thế
Dưới góc độ đồng đại, hệ thống văn hóa còn có thể có những cách phân chia khác Chẳng hạn, trong quan hệ
với địa bàn cư trú, có thể phân biệt văn hóa biển, văn hóa đồng bằng và văn hóa núi Trong quan hệ với cộng đồng, có thể phân biệt văn hóa dân gian và văn hóa chính thống Cũng vậy, trong quan hệ với chủ thể văn hóa, có thể phân biệt văn hóa Việt với văn hóa các dân tộc ít người Những cách phân chia này cần được kết hợp xem xét trong những
trường hợp cần thiết Cả bốn thành tố của hệ thống văn hóa đều bị quy định bởi một gốc chung là loại hình văn hóa
Nếu mô hình cấu trúc của hệ thống văn hóa cho ta thấy CÁI CHUNG, cái đồng nhất trong tính hệ thống của các nền văn hóa thì loại hình văn hóa sẽ cho ta thấy CÁI RIÊNG, cái khác biệt trong tính hệ thống của chúng.
Cấu trúc của hệ thống văn hóa trong quan hệ với loại hình văn hóa vừa trình bày có thể tóm tắt trong hình 1.1.
Văn hoá nhận thức Nhận thức về vũ trụ
2.1 Văn hóa học so sánh: từ đa dạng đến tương đồng
2.1.0 So sánh các nền văn hóa trên thế giới, người ta thấy chúng vô cùng đa dạng và phong phú Chính vì vậy màkhi nói đến chúng, người ta thường liệt kê; chẳng hạn, Arnold Toynbee kể ra 38 nền văn minh thế giới, trong đó vănminh Việt Nam xếp cạnh văn minh Triều Tiên, Nhật Bản Song, cũng đã từ lâu, người ta nhận thấy giữa các nền vănhóa có không ít nét tương đồng
2.1.1 Để giải thích sự tương đồng này, người ta đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau [xem Ngô Đức Thịnh 1993: 66], nhưng tựu trung lại, có thể quy về ba thuyết
19-Từ cuối thế kỷ XIX ở Tây Âu đã phổ biến thuyết khuếch tán văn hóa (cultural diffusion) với những đại biểu như F.
Ratsel, L Frobenius, F Grabner, W.Schmidt ở Đức, Áo; G Elliot Smith, W Rivers ở Anh Quan điểm chủ yếu củanhững người theo thuyết này là văn hóa được hình thành từ một trung tâm rồi được "truyền bá", "lan tỏa" ra các nơikhác bằng cách mô phỏng hoặc nhờ những cuộc thiên di của các dân tộc Có lan tỏa toàn bộ hoặc lan tỏa bộ phận(truyền bá những yếu tố riêng lẻ của một nền văn hóa); lan tỏa tiên phát (trực tiếp từ nơi phát sinh) hoặc lan tỏa thứ
Trang 9sinh Việc cực đoan hóa thuyết này đã dẫn đến chỗ bị giới cầm quyền thực dân lợi dụng để đề cao dân tộc này vàkhinh rẻ các dân tộc khác, đi ngược lại quyền lợi của con người.
Đầu thế kỷ XX, từ những ý kiến của F Boas, các nhà nhân chủng học Mỹ C.L Wisler và A.L Kroeber đã phản đối
thuyết khuyếch tán văn hóa và đề xuất thuyết vùng văn hóa (cultural areas) Trên cơ sở nghiên cứu văn hóa các dân
tộc da đỏ Mỹ, các tác giả này đã khẳng định sự tồn tại của nhiều dân tộc trên cùng một vùng lãnh thổ mà văn hóa của
họ có những điểm chung
Từ cách tiếp cận vùng văn hóa trên cơ sở một đặc trưng hạn hẹp, C.L Wisler và một số tác giả về sau đã đi đến
kết luận về sự cần thiết lựa chọn một tập hợp những đặc trưng, tạo nên tip, hay loại hình văn hóa vùng Trên cơ sở
quan điểm này, từ những năm 30, trong dân tộc học Xô-viết đã hình thành thuyết loại hình kinh tê - văn hóa mà đại biểu
là N.N Cheboksarovà một số tác giả khác Các học giả này cho rằng trong lịch sử văn hóa nhân loại từng tồn tại banhóm loại hình kinh tế - văn hóa: loại hình kinh tế - văn hóa săn bắt, hái lượm và đánh cá; loại hình kinh tế - văn hóanông nghiệp dùng cuốc và chăn nuôi; loại hình kinh tế văn hóa nông nghiệp dùng cày với sức kéo động vật [xem:Cheboksaro1971]
2.1.2 Mỗi một trong ba thuyết trên đều ít nhiều có hạt nhân hợp lý của nó Chúng thực ra không mâu thuẫn mà bổsung cho nhau, mỗi thuyết thích hợp trong những điều kiện khác nhau
Thật vậy, nếu các dân tộc chủ nhân của các nền văn hóa, cũng như các ngôn ngữ của họ, xuất phát từ cùng một
gốc thì giữa văn hóa gốc và các nền văn hóa này có thể có quan hệ "khuyêch tán", "lan tỏa".
Nếu các nền văn hóa gần gũi nhau về địa lý thì chúng có thể từ tiêp xúc đến giao lưu với nhau, và trong việc giao lưu ấy có thể xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa kia (tiếp thu thụ động) hoặc nền văn hóa này vay mượnnhững yếu tố của nền văn hóa kia (tiếp thu chủ động); rồi trên cơ sở những yếu tố nội sinh (endogenous) và ngoại sinh (exogenous) ấy mà điều chỉnh, biến cải cho phù hợp, gây ra sự tiêp biên văn hóa[1] (acculturation) Các nền văn hóa gần gũi và giao lưu với nhau này tạo nên những vùng văn hóa Cũng có thể
phân biệt vùng văn hóa ngay trong nội bộ một nền văn hóa
Sự tiếp biến văn hóa cũng có thể xảy ra khi các nền văn hóa tuy ở cách xa nhau nhưng đã có điều kiện tiếp xúc với
nhau Nếu các nền văn hóa mặc dù ở xa nhau và chưa bao giờ gặp gỡ nhau nhưng lại nằm trong những điều kiện tự nhiên và xã hội tương đồng thì chúng cũng có thể có những nét giống nhau Sản phẩm của hai trường hợp này là
những đặc trưng loại hình Đặc trưng loại hình càng mạnh và rõ ở các nền văn hóa cùng gốc và/hoặc gần gũi nhau vềđịa lý Chính vì vậy mà các nhà dân tộc học Xô-viết đã phân biệt khái niệm "loại hình kinh tế - văn hóa" với khái niệm
"vùng văn hóa - lịch sử": Nếu vùng văn hóa - lịch sử là một không gian địa lý liên tục thì loại hình kinh tế - văn hóa cóthể bao gồm cả những khu vực địa lý khác nhau
Các thuyết và các khái niệm nêu trên đều có thể được vận dụng ở những mức độ khác nhau Chẳng hạn, lý thuyếtvùng văn hóa sẽ rất hữu hiệu cho việc xác định các vùng văn hóa của người Việt và các dân tộc ít người như văn hóasông Hồng, văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, văn hóa Tây Nguyên [xem: Ngô Đức Thịnh 1993; Huỳnh KháiVinh 1995] Lý thuyết về sự lan tỏa thích hợp cho việc giải thích sự tương đồng văn hóa giữa Đông Nam Á lục địa vàĐông Nam Á hải đảo Song, để làm sáng tỏ bản sắc của văn hóa Việt Nam, điều quan trọng hơn là cần nêu được sựđồng nhất và khác biệt giữa nó với các nền văn hóa khu vực (như Trung Hoa) và thế giới (như phương Tây) Trong sự
so sánh này, việc xác định loại hình văn hóa là hết sức quan trọng Chỉ ra được các loại hình với mức độ khái quát cao
và những đặc trưng của mỗi loại, ta có thể căn cứ vào đó mà xếp bất kỳ một nền văn hóa nào vào một trong các "ô"
Trang 10phân loại đã có Ba loại hình kinh tế - văn hóa của N.N Cheboksarothiên về các đặc điểm mang tính lịch sử - kinh tế
mà chưa đồng thời phản ánh được các đặc trưng địa lý - khu vực là điều không kém phần quan trọng đối với việc xácđịnh một nền văn hóa Dưới đây là một cách tiếp cận cố gắng tính đến cả hai loại đặc điểm đó
2.2 Nguyên lý phân định loại hình văn hóa
2.2.1 Văn hóa là sản phẩm của con người (tính nhân sinh), cho nên việc phân loại văn hóa cần bắt đầu từ việc tìmhiểu sự hình thành và phân bố các chủng người trên trái đất nói chung
Lâu nay trên thế giới phổ biến cách phân chia nhân loại thành ba đại chủng: chủng Á (Mongoloid, trong cách nói
dân gian thường gọi là chủng da vàng), chủng Âu (Europeoid, dân gian thường gọi là chủng da trắng) và chủng Úc-Phi(Australo-Negroid, dân gian thường gọi là chủng da đen) Song những nghiên cứu mới hơn trong khoa nhân chủng họccho thấy rằng sự phân loại ấy mới chỉ dựa trên các đặc điểm thích nghi (màu da, hình tóc, mũi, môi )
Căn cứ vào những đặc điểm trung tính, không thay đổi trước biến động của môi trường (như nhóm máu, đường
vân tay, hình thái răng ) người ta đã chia nhân loại thành hai khối quần cư lớn: Úc-Á và Phi-Âu Đó cũng chính là hai trung tâm hình thành chủng tộc cổ xưa nhất của loài người: trung tâm phía Tây (Phi-Âu) và trung tâm phía Đông (Úc-Á)
[xem, chẳng hạn: Nguyễn Đình Khoa 1976]
Theo nhà nhân chủng học nổi tiếng người Nga N.N Cheboksarov, "ngay từ sơ kỳ đồ đá cũ (khoảng 50-30 vạn năm
trước công nguyên - T.N.T) đã xuất hiện hai trung tâm hình thành chủng tộc: sớm hơn là miền Đông-Bắc Phi và Nam A, ít nhiều muộn hơn là miền Đông-Nam A Những con người muộn hơn nữa thuộc loại hiện đại homo sapiens
Tây-dần Tây-dần phân bố rộng rãi khắp nơi trên trái đất họ tuy còn giữ lại nhiều đặc điểm trung tính nhưng đồng thời cũng tiếptục thích nghi với những điều kiện tự nhiên khác nhau để phân hóa dần thành các chủng tộc ngày nay" [1971: 146]
Từ trung tâm phía Tây, con người nguyên thủy phân tán ra thành hai đại chủng: a) Đại chủng Âu (Europeoid) bao
gồm các chủng: Ban-tích, Trung Âu và Địa Trung Hải; b) Đại chủng Phi (Negroid) bao gồm các chủng: Nam Ấn
(Dravidien), Etiopi, Đông Phi, Trung Phi, Nam Phi
Từ trung tâm phía Đông, con người nguyên thủy cũng phân tán ra thành hai đại chủng: a) Đại
chủng A (Mongoloid) bao gồm các chủng: Bắc Mongoloid, Đông Mongoloid, Nam Mongoloid, Mỹ (Indien); b) Đại
chủng Úc, hay phương Nam (Australoid, t.La-tinh Austra= "phương Nam") bao gồm các chủng: Negrito, Melanésien,
Australien, Tasmanien, Polinésien, Ainu (xem hình 2.1)
2.2.2 Sự phân biệt hai trung tâm vừa xét thành "Tây" và "Đông" là thuần túy dựa vào địa lý Trong quá trình pháttriển của lịch sử nhân loại, hình thành sự phân biệt hai khái niệm "phương Tây" và "phương Đông" về mặt văn hóa Sựphân biệt này do người châu Âu đặt ra: "phương Tây" là khu vực châu Âu nơi họ cư trú (vùng Tây-Bắc của cựu lục địaÁ-Âu); vùng đất rộng lớn phía Đông-Nam còn lại mà họ chưa biết tới, bao gồm toàn bộ châu Á và mở rộng tới châu Phi,được gọi là "phương Đông"2 Các nhà khoa học nghiên cứu về vùng đất này được gọi là các nhà "Đông phương học"