1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

2021 NNTh mt s thanh t van hoa hc d

24 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này làm phát sinh nhu cầu quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu đời sống văn hóa sinh viên trong hệ thống các trường đại học; nhờ vậy VHHĐ được xác định là một dạng thức tiểu văn h

Trang 2

V¨n hãa häc TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

TRƯƠNG VĂN MINH Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam: từ e dè khái niệm đến lạc quan xu thế 24

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

BÙI THỊ THANH MAI Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội: niềm tin về tính xác thực tỷ lệ thuận với số lượng khách tham quan 32

NGUYỄN ĐỨC THẮNG Biến đổi của một số câu lạc bộ, giáo phường

ca trù tại Hà Nội hiện nay 40

NGUYỄN ĐÌNH LÂM

Tư tưởng phát triển tân nhạc Việt Nam đáp ứng thị hiếu âm nhạc mới 47

TRẦN LY LY Mối quan hệ giữa âm nhạc và múa trong nghi lễ lên đồng: sự thể hiện đức tin của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ 54

NGUYỄN HOÀNG HƯNG Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với việc trưng bày về văn hóa các tộc người 61

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Trang 3

TƯ LIỆU - THÔNG TIN

TRƯƠNG HOÀNG VINH

Nghề đan võng ngô đồng ở Cù Lao Chàm 77

Ảnh bìa: Hoa ngô đồng ở Cù Lao Chàm Ảnh: Cao Trung Vinh.

In tại Công ty cổ phần SXTM Ngọc Châu, theo giấy phép xuất bản số 226/GP-BTTTT

Giá: 25.000Đ

Trang 4

MỘT SỐ THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG

Nguyễn Ngọc Thơ*

Tóm tắt: Văn hóa học đường là một tiểu văn hóa ứng với môi trường giáo dục, vừa chứa đựng sắc thái

văn hóa dân tộc vừa chuyển tải và chia sẻ các giá trị đặc thù chung toàn nhân loại Văn hóa học đường hình thành phải dựa trên những giả định ban đầu (niềm tin, giá trị, tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu v.v.), trở thành môi trường và chất xúc tác để hoạt động dạy và học, các sinh hoạt gắn với môi trường học đường cũng như mục tiêu giáo dục con người được thực hiện suôn sẻ và hiệu quả Bài viết này đi từ khái luận đến cấu trúc các thành tố văn hóa học đường, trong đó đặc tả một số thành tố tiêu biểu nhất để phác họa bức tranh nội hàm của văn hóa học đường qua nền tảng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của thế giới Nghiên cứu này được thực hiện dưới góc nhìn văn hóa học, lấy yếu tố nghi lễ (trọng tâm là các nghi thức cận “ngưỡng” trong học đường) và hiệu quả của nó (quan điểm của Victor Turner (1968/1969) và Seligman và Weller (2012) làm môi trường và thước đo cho sự kiến tạo và vận hành văn hóa học đường Theo đó, điểm mấu chốt quyết định tính chất và hiệu quả của văn hóa học đường nằm ở việc kiến tạo

“ngưỡng”, trạng thái “cộng cảm”, “chia sẻ” và các khả năng sáng tạo chứa đựng các giá trị giả định của các hoạt động và yếu tố mang tính lễ tục trong nhà trường**

Từ khóa: Giáo dục, văn hóa học đường, cấu trúc, thành tố

1 Khái luận Văn hóa học đường

Văn hóa học đường (dưới đây viết tắt là

VHHĐ)* là một vấn đề không mới, tuy rằng

lịch sử nghiên cứu vấn đề chỉ bắt đầu từ thập

niên 1930 ở Hoa Kỳ và châu Âu Có thể nói

xuất phát điểm ban đầu của phong trào nghiên

cứu VHHĐ chính là cuộc đại khủng hoảng

kinh tế thế giới cuối thập niên 1920 - đầu thập

niên 1930 Trước đó, VHHĐ ở Mỹ bắt đầu

manh nha từ cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ

XIX, bắt nguồn từ những cuộc nổi dậy, xô xát

của sinh viên Mỹ trong một số trường đại học,

do một số sinh viên giàu có và “hiểu đời” hơn

lãnh đạo gây nên Họ cố tình chống lại những

sự áp đặt khắc nghiệt của lãnh đạo trường và

* PGS.TS, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh

** Bài viết này trích một phần nội dung của công

trình nghiên cứu mang mã số A2018-18b-01 do

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ.

các giáo sư, nhà quản lý trong trường (1) Song phải đến thập niên 1930 VHHĐ mới đạt đến cao trào Lúc bấy giờ xã hội Mỹ bất ổn, công ăn việc làm rất hạn chế, sinh viên trong các trường đại học chưa muốn ra trường Điều này làm phát sinh nhu cầu quan tâm, tìm hiểu

và nghiên cứu đời sống văn hóa sinh viên trong hệ thống các trường đại học; nhờ vậy

VHHĐ được xác định là một dạng thức tiểu văn hóa (subculture) đặc thù của tổng thể xã

hội Thời ấy, tiêu biểu nhất phải kể đến các

công trình Boys in White của Becker (et al 1961) và Student culture in Vassar của

Bushnell (1963) Theo tác giả Becher (2), việc nghiên cứu văn hóa gắn với tầng lớp sinh viên trong các trường đại học ở Mỹ đã rất thành công, thấu đáo và mang tính hệ thống (3) Theo Peters và Waterman (1982) nghiên cứu VHHĐ ở Mỹ chịu chi phối bởi trào lưu nghiên cứu văn hóa tổ chức, trong đó thập niên 1960

chủ yếu diễn giải theo hướng văn hóa tổ chức

Trang 5

(organizational culture), trong khi đến thập

niên 1970 thì nhìn nhận theo hướng văn hóa

doanh nghiệp (corporate culture) (4) Đến hai

thập niên cuối thế kỷ XX, VHHĐ đã thực sự

trở thành một trào lưu nghiên cứu - ứng dụng

rộng rãi ở Mỹ và lan rộng toàn thế giới, trở

thành một phân khoa học liên ngành thú vị nằm

giữa Nghiên cứu văn hóa (Cultural studies),

Quản lý học (Management studies) và Giáo

dục học (Pedgogics) Tùy vào trọng tâm nội

dung và giả định nghiên cứu ban đầu mà các

nhà nghiên cứu, các trường phái lựa chọn nhấn

mạnh một trong ba phương diện ấy

Trong tiếng Anh, VHHĐ được gọi chung

là school culture (5), thế nhưng trong tiếng

Việt tồn tại hai khái niệm: văn hóa học đường

và văn hóa nhà trường Trong tiếng Hán,

VHHĐ được gọi là hiệu viên văn hóa

(校園文化), về mặt hình thức gần gũi hơn với

khái niệm school culture Xét về nghĩa rộng,

cả hai khái niệm này đều có thể hiểu là có

cùng ý nghĩa, song xét về bản chất hai khái

niệm vẫn có điểm khác biệt Khái niệm

VHHĐ có phổ nghĩa rộng hơn và bao trùm cả

khái niệm văn hóa nhà trường VHHĐ lấy

hoạt động học đường (dạy - học) và các mối

quan hệ tương tác giữa các nhóm khách thể

làm trọng tâm (cả bên cung cấp và bên thụ

hưởng hoạt động học đường); trong khi khái

niệm văn hóa nhà trường lấy đơn vị, tổ chức

(ở đây khái niệm nhà trường là một tổ chức)

làm đơn nguyên xem xét, đánh giá văn hóa

Nói cách khác, khái niệm văn hóa nhà trường

được hiểu theo trục tổ chức và quản lý (bên

cung cấp hoạt động học đường) hơn là hoạt

động dạy và học trong học đường Trong

khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi thống

nhất dùng khái niệm văn hóa học đường,

trong tiếng Anh là school culture, tiếng Hán là

hiệu viên văn hóa (校園文化)

Theo Peterson và Deal, VHHĐ là "mô

hình sâu sắc của các giá trị, tín ngưỡng và

truyền thống đã hình thành trong suốt lịch sử

của trường” (6), là những mạng lưới phức tạp của những câu chuyện, truyền thống và nghi thức vừa chớm nở khi giáo viên, học sinh, phụ huynh và quản trị viên làm việc cùng nhau và giải quyết những khủng hoảng và thành tựu (7) VHHĐ "chú trọng nhiều hơn đến cảm giác và giai điệu hiện tại của nhà trường, nó nhấn mạnh nội dung cảm xúc của các mối quan hệ và tinh thần trong đơn vị” (8) VHHĐ hàm chứa những ý nghĩa xã hội ổn định và ngấm ngầm, nó giúp hình thành nên niềm tin

và thái độ theo thời gian VHHĐ có sức bền cao, có ảnh hưởng quan trọng tới các hoạt động con người, nó đúc khuôn cách con người suy nghĩ, hành động và cảm nhận” (9)

Còn đứng ở góc nhìn tổ chức, Schein (1985) xác định VHHĐ là những mạng lưới phức tạp của những truyền thống và lễ nghi được các thế hệ giảng viên, sinh viên, phụ huynh và nhà quản lí cùng xây dựng theo thời gian thông qua qua trình sống, làm việc, đối mặt và vượt qua các thử thách (10) Rossman, Corbett, và Firestone (11) thì xác định VHHĐ hàm ý cách thức mọi hiện tượng đang diễn ra, nó giúp diễn giải các sự kiện, thái độ, ngôn từ, hành vi và tạo nghĩa cho chúng Đồng thời VHHĐ cũng quy định cách thức con người nên theo cũng như mô thức thái độ chuẩn mực phù hợp với từng tình huống cụ thể Wilson trước đó trong khái niệm về văn hóa cũng nhấn mạnh “văn hóa chính là kiến thức được chia sẻ và trao truyền về những thứ được biểu trưng hóa và phải được biểu trưng hóa trong hành động và vật mẫu tạo tác” (12)

Ở Việt Nam, tác giả Hồ Bá Thâm khái luận VHHĐ phải là một dạng văn hóa mở, nó kích thích sự sáng tạo của người dạy và người học, vừa mang tính dân tộc vừa mang hơi thở thời đại Tác giả Thái Duy Tuyên nhấn mạnh VHHĐ là “những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người được tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân và quá trình thành nhân cách” (13),

Trang 6

trong đó, VHHĐ Việt Nam phải hun đúc cho

được hệ thống giá trị, niềm tin, hoài bão và lí

tưởng cao đẹp Nguyễn Minh (2009) và Đặng

Văn Minh (2009) khẳng định VHHĐ bao

trùm các giá trị cơ bản, chuẩn mực đạo đức,

mẫu hành vi của các thành viên (lãnh đạo,

giáo viên học sinh, cán bộ nhân viên), trang

phục, ngôn ngữ giao tiếp, khung cảnh nhà

trường, tình cảm, sự tôn trọng của các thành

viên với nhau (14) Phạm Văn Khanh cho rằng

“VHHĐ là những giá trị, những kinh nghiệm

lịch sử của xã hội loài người đã tích lũy trong

quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và quá

trình hình thành nhân cách” (15) Còn theo

Phạm Ngọc Trung, VHHĐ được xem là “một

môi trường hoạt động đặc biệt của con người,

mang tính xã hội và lịch sử Tùy theo triết lí

giáo dục của từng thời đại hoặc của từng quốc

gia mà người ta có thể xây dựng những cấu

trúc khác nhau” (16) Theo Vũ Dũng, khái luận

VHHĐ là “hành vi ứng xử của các chủ thể

tham gia hoạt động đào tạo trong nhà trường, là

lối sống văn minh trong trường học” (17)

Nguyễn Vũ Bích Hiền và cộng sự cho rằng:

văn hóa nhà trường “là một tập hợp các chuẩn

mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử”,

“là những nét đặc trưng riêng biệt tạo nên sự

khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác

và sự khác biệt giữa trường này với trường

khác”, “là những giá trị tốt đẹp được hình

thành bởi một tập thể và được mỗi cá nhân

trong nhà trường chấp nhận” (18) Trong một

bài viết khác, chúng tôi từng khái luận rằng văn

hóa học đường là hệ thống các giá trị chuẩn

mực được kiến tạo và không ngừng hoàn thiện

qua các quá trình tương tác, ứng xử giữa nhà

quản lý giáo dục, cán bộ giảng viên, sinh viên

và cộng đồng với nhau trong hoạt động dạy và

học và trong ứng xử với thế giới bên ngoài

nhằm xây dựng môi trường học đường nhân

văn lành mạnh, tạo tiền đề phát huy hiệu quả

truyền thống dạy và học đặc thù của các đơn vị

giáo dục hướng tới đáp ứng nhu cầu nguồn

nhân lực có đầy đủ tài - trí - đức và có tư duy

sáng tạo đa văn hóa cho xã hội (19)

Tóm lại, văn hóa từng được hiểu là mô

thức, “tập hợp những đặc trưng” hay “hệ thống các giá trị” thể hiện qua hành vi tương tác và ứng xử trong môi trường học đường, giữa các nhóm đối tượng với nhau (nhà quản lý, giảng viên, sinh viên) và với nhà trường với tư cách là một thiết chế văn hóa Trên đại thể, VHHĐ là hệ thống các giá trị chuẩn mực được kiến tạo và không ngừng hoàn thiện qua các quá trình tương tác, ứng xử giữa nhà quản lý giáo dục, cán bộ giảng viên, sinh viên và cộng đồng với nhau trong hoạt động dạy và học và trong ứng xử với thế giới bên ngoài nhằm xây dựng môi trường học đường nhân văn lành mạnh, tạo tiền đề phát huy hiệu quả truyền thống dạy và học đặc thù của các đơn vị giáo dục hướng tới đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có đầy đủ tài - trí - đức và có tư duy sáng tạo đa văn hóa cho xã hội

VHHĐ biểu hiện ra thành các cung cách, quy tắc và giá trị ứng xử trong các hoạt động dạy và học sao cho chúng đạt được mục tiêu,

sứ mệnh ban đầu (những giả định) Cách thức

“ngưỡng” thông qua các nghi lễ, nghi thức đặc thù có sức mạnh khơi dậy các cảm xúc, cảm thức con người, cùng tạo nên trạng thái

“cộng cảm” và chia sẻ chung giữa các thành viên cùng nhóm với nhau Quan điểm này của Victor Turner về sau được hai tác giả Seligman và Weller (2012) chia sẻ trong lý luận về sự tương tác giữa các khái niệm (quan niệm, notion) và nghi lễ, nghi thức (ritual) để sáng tạo nên những trải nghiệm chung được chia sẻ (shared experience) Tuy nhiên, đích đến của VHHĐ không phải chỉ là những cảm thức “cộng cảm” hay sự sẻ chia mang tính

Trang 7

tình cảm, mà nó phải là sự hình thành các khả

năng sáng tạo, kiến tạo mới (lý tính) của các

thành viên sau các quá trình ấy, cái mà Victor

Turner gọi là “suối nguồn của những khả năng

thuần túy” (20) và là khả năng kiến tạo các mô

thức “phản-cấu trúc xã hội (social

antistructure)” (21) Roy Rappaport cũng tương

tự khẳng định các nghi lễ (cả nghi lễ thiên về

lời nói lẫn nghi lễ mang tính hành động) chứa

đựng các khả năng sáng tạo mới (22) Nghiên

cứu này của chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến

khả năng kiến tạo các cảm thức chia sẻ chung

(quan điểm Seligman và Weller) và khả năng

kiến tạo những ý tưởng, giá trị mới (quan điểm

Turner) trong VHHĐ thông qua cơ chế nghi

thức - nghi lễ hóa Đồng thời, chúng tôi nhận

thấy rằng mặc dù trải qua quá trình nghi thức

hóa, nghi lễ hóa, tính đa dạng của các sắc thái

cá nhân trong môi trường học đường không hề

biến mất Theo các tác giả Turner (1974,

1977), Seligman và Weller (2012), các cá nhân

trong nhóm thông qua khả năng đặc biệt của

yếu tố nghi lễ, các sắc thái các sắc thái cá nhân

ấy tạm thời lắng đọng, thay vào đó yếu tố

“cộng cảm” đang hình thành giúp các cá nhân

“vượt các ranh giới” và gặp gỡ nhau ở những

điểm chung mà giả định VHHĐ muốn hướng

tới Lúc này, cá nhân quay trở lại tạo động lực

để cá nhân và cộng đồng tiếp tục sáng tạo các

giá trị mới Điều cần nhấn mạnh là các giá trị

sáng tạo mới này cần chứa đựng các định

hướng giá trị VHHĐ

2 Cấu trúc văn hóa học đường

Cấu trúc của VHHĐ vẫn là vấn đề còn

tranh cãi dù rằng không ít tác giả từng đề xuất

các cấu trúc của VHHĐ dưới các góc độ khác

nhau Hai tác giả Deal và Kennedy đứng ở

góc nhìn văn hóa tổ chức đã thảo luận các

thành tố của văn hóa tổ chức của một đơn vị

(bao gồm cả thiết chế học đường) gồm 1) Môi

trường hoạt động/vận hành - yếu tố quyết định

những việc cần làm để tiến tới thành công; 2)

hệ giá trị bao gồm quan niệm và niềm tin cốt

lõi của đơn vị - yếu tố hình thành hạt nhân của

VH đơn vị; 3) Hình ảnh nhân vật tiêu biểu - những hình mẫu có thực về tinh thần trách nhiệm và hiệu quả; 4) Hệ thống nghi thức và nghi lễ chứa đựng lề lối, trường quy hoạt động mỗi ngày của đơn vị; và 5) Hệ thống các mạng lưới văn hóa làm phương tiện/công cụ giao tiếp trong đơn vị như người kể chuyện, mạng lưới cán bộ chủ chốt, người dẫn dắt và kết nối các cá nhân v.v (23) Trong khi đó, hai tác giả Trung Quốc là Shen và Tian chú trọng mặt quản trị học đường đã phân VHHĐ thành ba thành tố, gồm 1) Văn hóa vật chất (chỉ sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất

và các tài sản hữu hình đặc trưng của nhà trường); 2) Văn hóa quản trị (bao gồm hệ thống quản trị và các cơ chế, chính sách vận hành nhà trường) và 3) Văn hóa tinh thần (chỉ

hệ thống các giá trị cốt lõi, quan điểm học thuật và cách thức, kết quả mọi người tham gia vào các hoạt động văn hóa của nhà trường) Theo hai tác giả này, thành tố văn hóa tinh thần đóng vai trò chủ chốt của VHHĐ Tác giả Edgar H Schein (2004) thì nhấn mạnh nhiều hơn nhóm các yếu tố vô hình trong môi trường học đường khi nhận định VHHĐ bao gồm ba thành tố có mối quan hệ tương tác hữu cơ với nhau: 1) Những quá trình

và cấu trúc hữu hình; 2) Hệ thống giá trị được tuyên bố; và 3) Những quan niệm chung gắn với môi trường học đường Schein đặc biệt lưu ý đến phương diện quan sát các quy tắc hành vi học đường, bao gồm ngôn ngữ và nghi lễ, các chỉ tiêu định hướng phát triển trong các nhóm khách thể, hệ giá trị cốt lõi của nhà trường được lựa chọn, triết lý giáo dục và chủ trương - đường lối giáo dục của đơn vị, các chuẩn mực, quy tắc tạo dựng tính hòa đồng trong đơn vị, và cuối cùng là không khí học đường (24) Còn khi sử dụng bộ công cụ đánh giá văn hóa tổ chức để tìm hiểu văn hóa tổ chức của trường đại học (OCAI) (25), hai tác giả Fralinger và Olson (2007) cũng đề xuất cấu trúc VHHĐ có ba yếu tố cơ bản, gồm: 1)

Trang 8

những mẫu vật được tạo tác mang giá trị biểu

trưng; 2) các quan niệm giá trị được tập thể

trường lựa chọn; và 3) những giả định ẩn thị

(xem thêm Hoàng Quốc Đạt 2018, tr 8)

Còn khi đứng ở góc độ văn hóa giáo dục,

các tác giả Peterson và Deal (2002) chia môi

trường văn hóa học đường gồm sáu thành tố

sau, gồm 1) Nội quy học đường (trong đó

phản ánh luôn yếu tố chính trị - tư tưởng); 2)

Các giá trị cốt lõi và triết lý giáo dục của nhà

trường; 3) Hệ thống nghi lễ khánh tiết đặc

trưng của nhà trường; 4) Hệ thống biểu tượng

đặc trưng riêng của nhà trường (bộ nhận dạng

thương hiệu nhà trường: logo, huy hiệu, vật

biểu, màu sắc đặc trưng v.v ); 5) Những tấm

gương đại diện dạy tốt, học tốt và lao động

tốt; và 6) Những giai thoại, mẩu chuyện về

truyền thống, thế mạnh của trường nhằm tạo

ra ấn tượng tốt về đơn vị

Cũng bàn về thành tố VHHĐ, tác giả

Edgar H Schein cho rằng, văn hóa của đơn vị

phân thành ba cấp độ, bao gồm (27):

1) Các vật mẫu (artifacts) - các sản phẩm

nhân tạo chứa đựng giá trị hữu hình, bao gồm

những tiểu hệ thống hay những quá trình có

thể nhìn thấy hay cảm nhận được; hành vi

được quan sát (dù có thể khó giải mã) Các tác

giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Việt Hồng (2018) và

Lê Văn Hảo (2018) cụ thể hoá các “vật mẫu”

này thành biểu hiện cấu trúc của môi trường

vật chất; triết lý giáo dục; kế hoạch - chiến

lược; quy tắc ứng xử học đường; ngôn ngữ

học đường; sự sáng tạo thẩm mỹ học đường;

phong cách học đường thể hiện qua trang

phục; thái độ trình bày, cách bày tỏ cảm xúc;

các huyền thoại và chuyện kể về tổ chức; danh

mục những giá trị đã được công bố; các nghi

thức và lễ kỷ niệm định kỳ đáng chú ý; bầu

không khí của cả nhóm học đường v.v

2) Niềm tin và giá trị được đồng thuận -

các yếu tố giá trị thể hiện, bao hàm ý tưởng,

mục tiêu, giá trị, nguyện vọng; tư tưởng; tính

hợp lý hóa (có thể phù hợp/không phù hợp với hành vi và các nguyên mẫu khác) Cá nhân tiếp thu, thẩm thấu được niềm tin và các giá trị qua học hỏi và hoà nhập môi trường, chúng ghi sâu vào ý thức hệ hay triết lý của trường đại học, định hướng trong việc xử lý những sự kiện không mong muốn hay các tình huống khó khăn

3) Các giả định ẩn thị cốt lõi (hay giá trị tiềm ẩn) chỉ niềm tin và giá trị vô thức, mang

tính bao trùm (nó quyết định hành vi, nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc) Theo một số tác giả nhận định, các định hướng giá trị vượt trội có xu hướng mang tính không thể đối đầu và không cần bàn cãi, do đó cực kỳ khó thay đổi, ngược lại nó ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, tạo thành nét chung trong tập thể nhà trường Những ai không chấp nhận các định hướng vượt trội này sẽ bị loại trừ khỏi tổ chức

VHHĐ là một hệ thống có các thành tố

tương tác nhau Về mặt chủ thể, theo Deal và

Peterson, yếu tố dẫn tới thành công VHHĐ nằm ở ba nhóm đối tượng chính là nhà quản lý, cán bộ giảng viên và sinh viên (trong khi yếu tố cộng đồng đóng vai trò phụ là xây dựng bối cảnh) Trong ba nhóm chủ thể này, yếu tố đóng vai trò đầu tàu vẫn là nhà quản lý Môi trường học đường thành công phải có đội ngũ những con người có thể tiếp cận, nắm bắt

và chủ động củng cố truyền thống và các giá trị cốt lõi, nhà quản lý phải có cung cách quản lý giúp duy trì và thúc đẩy việc học tập của sinh viên cũng như việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên (28) Nói cách khác, hai tác giả này có thiên hướng đồng nhất VHHĐ với văn hóa tổ chức, có phần tuyệt đối hóa vai trò khởi động của nhà quản lý trong việc tạo lập VHHĐ

Đứng ở góc nhìn giá trị giáo dục và văn hóa

và nhấn mạnh chủ thể và các mối quan hệ có liên quan, tác giả Trần Ngọc Thêm coi VHHĐ

là một bộ phận của văn hóa, theo đó, VHHĐ

Trang 9

mang cấu trúc phân tầng với ba trụ cột chính là

thầy, trò và tri thức ứng với hai mức thang giáo

dục hướng tới sự ổn định và giáo dục hướng tới

sự phát triển Ở vai trò người thầy, các cá nhân

có trách nhiệm nâng mục tiêu giảng dạy (rộng

hơn là giáo dục) từ truyền dạy kiến thức và lối

sống lên dạy phương pháp và khơi mở tiềm

năng sáng tạo của người học Ở vai trò người

học, các cá nhân định hướng phát triển từ vị trí

người thừa hành lên người tư duy và cao nhất là

vị trí người sáng tạo Còn với yếu tố tri thức, tác

giả phân định ba cấp độ: kiến thức được tiếp

thu, kiến thức được tái tạo và kiến thức được

gia tăng cho cuộc sống Dựa vào bậc học thì

phân thành các bậc phổ thông, bậc đại học và

bậc sau đại học, trong đó ở bậc phổ thông thì

trong quan hệ giáo dục lấy thầy làm trung tâm,

còn ở bậc đại học và sau đại học thì lấy trò làm

trung tâm Còn dựa vào nhu cầu xã hội thì phân

làm hai mức là ổn định xã hội và phát triển xã

hội Ở mức ổn định xã hội, yêu cầu cơ bản nằm

ở việc truyền dạy kiến thức và lối sống của

người thầy, việc tiếp thu và thừa hành của người

trò với mô thức tri thức được truyền giảng - tiếp

thu một chiều Di chuyển từ mức ổn định xã hội

lên cao hơn ở mức phát triển xã hội thì người

thầy nâng cao từ truyền dạy kiến thức và lối

sống lên thành dạy phương pháp và khơi mở

tiềm năng của học trò; ở người học đó là năng lực tư duy và năng lực sáng tạo Theo các nấc thang này, tri thức không còn ở dạng “được tiếp thu” thô sơ nữa mà đã phát triển lên thành “được tái tạo” và “được gia tăng” Trên thực tế cách bố cục cấu trúc VHHĐ này của tác giả không khác biệt so với các tác giả Âu-Mỹ, có lẽ điểm khác biệt cơ bản nằm ở chỗ phương Tây trong tất cả các bậc học đều không “lấy thầy làm trung tâm”

mà đi từ “định hướng lấy trò làm trung tâm” ở bậc phổ thông sang “lấy trò làm trung tâm” tuyệt đối ở bậc đại học và sau đại học

Giống như khái niệm văn hóa, cái lõi của

VHHĐ chính là giá trị Giá trị là phạm trù

rộng dùng để chỉ trạng thái và hiệu quả của sự vật này so với sự vật khác, là cảm nhận chủ quan của từng cá nhân theo các cặp cấu trúc đẹp - xấu, bình thường - bất thường, cao - thấp, logic - nghịch lý, có lý và phi lý cùng phổ dao động kết nối hai thái cực của các cặp phạm trù ấy Tác giả Hofstede và Hofstede xác định vị trí cốt lõi của giá trị như là cái trục chính, chốt giữ “cán cân” truyền thống, giá trị thẩm thấu và chi phối các bình diện nghi thức, biểu tượng và các nhân vật tiêu biểu trong VHHĐ thông qua các hành động thực tiễn (practice):

Chú thích:

 Symbols: biểu tượng

 Heroes: “anh hùng”, các nhân vật mẫu

Trang 10

Theo cấu trúc này, thay đổi văn hóa có thể

sẽ diễn ra nhanh hơn ở những vòng ngoài

(biểu tượng, nhân vật đại diện, nghi thức),

những lớp “thực hành” hữu hình của VHHĐ

do học hỏi, quyết tâm kiến tạo/thay đổi hay do

va chạm, giao lưu - tiếp biến văn hóa Càng đi

vào trong lõi thì sự thay đổi diễn ra càng

chậm hơn, đó là giá trị Giá trị giúp tạo dựng

độ ổn định của một xã hội cho dù các thực

hành văn hóa có thể thay đổi liên tục (30)

Hai tác giả Argyris và Schon (1974, 1996)

trước đây từng gọi tên hệ giá trị cốt lõi trong

nhà trường là “các lý thuyết đang được ứng

dụng” vốn là những định đề ngầm điều khiển

hành vi và quyết định cách thức các thành

viên trong nhóm nhận thức, suy nghĩ và cảm

thức về sự vật (31)

Cùng đứng trên quan điểm giá trị cốt lõi,

hai tác giả Gruenert và Whitaker xác định

các thành tố thuộc hệ thống “phần mềm” của

VHHĐ có vai trò tạo điều kiện và thúc đẩy

các mối quan hệ giữa thầy, trò và tri thức

trong môi trường học đường diễn ra thuận lợi

và hiệu quả gồm các yếu tố: niềm tin và giá

trị; tầm nhìn và sứ mệnh; chuẩn mực; lề lối,

nghi thức-nghi lễ, quy định; biểu tượng;

phòng truyền thống; nhân vật đại điện;

chuyện kể học đường; mạng lưới tiểu văn

hóa v.v (32)

Để tập thể học đường cùng chung tay xây

dựng, vận hành, duy trì và phát triển VHHĐ,

chúng ta cần có hệ thống các giá trị, đức tin,

giả định (tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, v.v ),

biểu tượng cốt lõi (nhóm các thành tố gắn với

trường nhận thức - tư duy, nhóm các thành tố

gắn với trường thể hiện/biểu hiện) và hệ thống

các nghi thức, nghi lễ đặc thù để cùng phối

hợp, tạo nên cơ chế “ngưỡng”, “cộng cảm” và

các “khả năng kiến tạo mới”

3 Nhóm các thành tố nhận thức - tư duy

- Niềm tin và giá trị

Niềm tin hay lòng tin (trust, belief) chi

phối cách chúng ta nắm bắt và ứng xử với thế giới xung quanh Niềm tin là những quan điểm nhận thức hoặc nắm bắt một cách hữu thức về chân lý và thực tế (33) Niềm tin bắt nguồn từ tập thể, từ trải nghiệm cá nhân và từ việc đọc sách vở Trong trường học niềm tin

là hết sức quan trọng vì chúng đại diện cho những hiểu biết cốt lõi về năng lực sinh viên, trách nhiệm nhà giáo trong việc học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn, và thành công trong giáo dục

Niềm tin thường được hiểu là thứ tài sản quý giá gắn với cá nhân hay tập thể, là sản phẩm của quá trình tương tác xã hội của đối tượng Một khi các cá nhân, đơn vị hợp tác có niềm tin với nhau, tự thân chúng ta không mất quá nhiều thời gian để điều khiển hoạt động hợp tác Niềm tin chính là chất keo gắn kết hợp tác hiệu quả nhất (34) Trong nhà trường, sinh viên có xu hướng hình thành lòng tin một phần xuất phát từ nhu cầu hợp tác với nhau và với khoa, trường (xem thêm Kramer và Tyler 1996) Ngoài các yếu tố lý tính mang tính ràng buộc như quyền lực, sự đồng thuận hợp đồng, quy định ra thì lòng tin có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì tính hợp tác, tính xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả đơn vị (35)

Trong khi đó hai tác giả Peterson và Spencer (1990) nhấn mạnh tầm quan trọng cốt lõi của những giá trị cốt lõi và niềm tin, lý tưởng học đường vốn là những yếu tố ẩn thị được thẩm thấu và truyền đạt trong các mô thức, quá trình thái độ - hành vi, trong truyền thống, hệ thống biểu tượng, các mẫu vật và giai thoại học đường, tất cả chúng đều được chuyển tải qua nghi lễ học đường và sinh hoạt học đường

Trang 11

H.2 Vị trí các yếu tố giá trị và niềm tin trong môi trường học đường theo Peterson và Spencer (36)

Hai tác giả Groseschl và Doherty (2000)

cũng khẳng định văn hóa học đường của một

đơn vị được xác định bởi các giá trị, niềm tin

chung và hành vi của các bên liên quan khác

nhau trong cộng đồng trường học và phản ánh

các chuẩn mực xã hội của trường học

Giả định (assumption) trong môi trường

học đường được coi là hệ thống niềm tin,

nhận thức và giá trị tiền đề những thứ dẫn dắt

thái độ (xem Ott 1989) Chúng khắc ghi dấu

ấn sâu sắc trên tấm thảm văn hóa, định hình tư

duy và hành động con người một cách mạnh

mẽ Mỗi nhà trường có thể có những giả

thuyết riêng về nhóm loại sinh viên, về bản

chất của giảng dạy, về bản chất của chương

trình đào tạo Dù vậy, giả thuyết văn hóa rất

khó đạt được (36) Các nhà lý thuyết lựa chọn

lý tính khẳng định rằng lòng tin là một giả

định chủ quan mang tính cá nhân của từng cá

thể về những thứ sắp sửa diễn ra Tác giả

James Coleman cho rằng “sự tương thuộc xã

hội và chức năng hệ thống của sự việc mà

trong đó các cá nhân tìm thấy quyền lợi của

mình cả hai điều ấy sẽ gắn cá nhân với người

khác, đơn vị khác, họ bị chi phối một phần

hay hoàn toàn” (37) Nhưng nếu không có

lòng tin, sự gắn kết nếu có chỉ mang tính cơ

học và không có cấu trúc, không có thực chất

Niềm tin/lòng tin mang tới sự trải nghiệm chung, từ đó xây dựng thói quen chia sẻ ký hiệu, nghi thức và nghi lễ Lòng tin bao giờ cũng xuất phát từ sự hiểu biết chung Russel Hardin (38) khẳng định rằng một khi con người tin tưởng nhau rồi thì dễ dàng tìm thấy điểm chung trong sở thích, quyền lợi và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm/trải nghiệm Nhà trường đại học là một thực thể văn hóa mà lòng tin sẽ dễ dàng được xây dựng và dễ đóng góp nhất, bởi giảng viên và sinh viên cùng tham gia hoạt động học thuật với nhau trong một khoảng thời gian đủ dài để tương tác, xây dựng lòng tin và cùng trải nghiệm các hoạt động với nhau mà không cần dùng tới mệnh lệnh hay quy định Niềm tin không phải là những cử chỉ đơn thuần giữa hai cá thể xã hội

mà thường được thẩm thấu qua mạng lưới các mối quan hệ xã hội được tạo thành bên trong văn hóa của một đơn vị Đương nhiên niềm tin bị chi phối bởi bối cảnh xuất thân, bối cảnh văn hóa và cơ chế xã hội đã khuôn đúc các cá nhân vào văn hóa (39)

Lòng tin là một thành tố văn hóa giúp con người diễn giải thực tế và hình thành tầm nhìn

cá nhân trong ứng xử với thực tiễn xã hội Khi đơn vị phải đương đầu với hiểm nguy hay nhiệm vụ không xác định rõ ràng thì lòng tin

Trang 12

là hết sức cần thiết (Creed và Miles 1996;

Luhmann 1988; Meyerson, Weick và Kramer

1996) Các trường đại học trong thế kỷ XXI

đều trong tình trạng không ổn định do tác

động của bối cảnh xã hội, chính vì thế cần có

lòng tin để gắn kết con người chặt hơn với

nhau cùng vượt thử thách Trên thực tế nhiều

trường đại học cố gắng xây dựng các cơ chế

về quản lý và quyền lực để đối mặt với sự mất

ổn định ấy (xem Rhoades 1998), một số đơn

vị sử dụng cách tiếp cận giải tập quyền, quyền

lực phân tán, quá trình ra quyết định phải dựa

vào tập thể, lúc này lòng tin là hết sức quý giá

để kết nối những con người có thể tham gia

xây dựng quyết định (40)

Việc xây dựng niềm tin trong môi trường

học đường là một nhiệm vụ quan trọng của

VHHĐ Một trong những cách gắn kết các

nhóm khách thể vào hợp tác chính là làm thay

đổi mô hình thiết kế công việc để tăng cường

động lực và gắn kết các cá nhân với đầu ra

của đơn vị (xem thêm Mohrman và Lawler

1992) Một hệ thống giá trị học đường tốt sẽ

tạo ra một bầu không khí học đường khỏe

khoắn với tinh thần cống hiến cao của các

nhóm khách thể, từ đó thúc đẩy thực hiện các

mục tiêu giáo dục tốt hơn Theo Siehl và

Martin (1990), một khi tất cả các nhóm khách

thể trong nhà trường cùng chia sẻ một hệ

thống giá trị và niềm tin thì hiệu quả của các

hệ thống và quy trình học đường sẽ được tăng

lên rõ rệt

Các giá trị và mục tiêu sâu của nhà trường

có vai trò quan trọng, chúng định hình tầm

nhìn hướng tới hy vọng tương lai của đơn vị

(41) Giá trị là những biểu hiện hữu thức của

những cái cốt yếu mà một đơn vị phấn đấu vì

chúng Giá trị quy định tiêu chuẩn về cái tốt,

cái chất lượng, cái xuất sắc dẫn tới thái độ và

cách ra quyết định cũng như những thứ mà

con người quan tâm (Ott 1989) Giá trị không

đơn giản là mục tiêu hay đầu ra, giá trị là cái

sâu lắng của những thứ quan trọng Trong

điều kiện bình thường và tương đối, giá trị sẽ tập trung sự chú ý và quy định nên sự thành công (42)

Khi bàn về hệ giá trị học đường ở Việt Nam hiện tại, tác giả Phạm Minh Hạc đề xuất

mô hình lấy bốn yếu tố chính trực, con người, học tập và chất lượng làm nền tảng, trong đó yếu tố chính trực bao hàm tinh thần dũng

cảm, đạo đức, thẳng thắn, nói và làm đúng

đắn; yếu tố con người được lựa chọn làm tâm

điểm cho mọi hoạt động học đường và hướng tới mục tiêu phát huy cái tốt của con người;

yếu tố học tập thể hiện ra ở lòng đam mê học

tập, người học lấy học tập làm đường đời; yếu

tố chất lượng phải được gìn giữ nhất quán

xuyên suốt quá trình dạy và học (43)

- Tầm nhìn và sứ mệnh

Văn hóa sẽ chỉ bảo cho chúng ta rằng hãy làm theo truyền thống, chỉ có người lãnh đạo mới có tầm nhìn làm thay đổi VHHĐ Văn hóa nuôi dưỡng chúng ta song lãnh đạo trường mới là người dẫn dắt chúng ta (44) Vai trò lãnh đạo thể hiện đầu tiên ở việc xây dựng tầm nhìn và sứ mệnh của nhà trường

Tầm nhìn là kế hoạch định hướng tương lai

của nhà trường, là mối giao thoa giữa giá trị

và mục đích học đường Tầm nhìn của đơn vị cần phải tạo cảm hứng cho hành động Để làm được việc này, chúng ta cần phải bước ra khỏi phạm vi của văn hóa học đường truyền thống

ở một mức độ nhất định Một tầm nhìn tốt sẽ phát huy tốt hơn khi nó được xây dựng từ những thành công đã qua của đơn vị hơn là chỉ chăm chú phân tích những thất bại và bài học cho tương lai (45) Nhiều trường đại học công bố tầm nhìn bằng lời lẽ, câu chữ, song mục tiêu sâu xa hơn thường phức tạp hơn và mang tính truyền cảm hứng Việc tìm kiếm sứ mệnh và mục tiêu đích thực của nhà trường thực ra khó khăn hơn việc đọc các sứ mệnh bằng lời lẽ rất nhiều (46) Như vậy tầm nhìn là một bản thảo kế hoạch tương lai mang tính

Ngày đăng: 14/12/2021, 18:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w