Thời kỳ 1951 – 1954: Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương
Trang 1DANH SÁCH NHÓM 7
Phan Huỳnh Thảo Nguyên – K124081409
Nguyễn Hoàng Trọng – K124081458ảo Nguyên – K124081409
Phạm Thị Bích Hạnh - K124081376
Phạm Minh Tú - K124081456
Trần Như Quỳnh - K124081425
Chu Minh Thông - K124081434
Phạm Thị Mỹ Lan - K124081390
Nguyễn Thiên Trường - K124082356
Trần Quang Thiện - K124081441
Thị Mỹ Lan-K124081390
Trang 2TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
I. Ngân hàng thương mại:
1 Định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu
2 Lịch sử hệ thống NHTM Việt Nam:
Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước
a Thời kỳ 1951 – 1954: Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành
lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương của Đảng và nhà nước là: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách;Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền
tệ với địch
b Thời kỳ 1955 – 1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc xây
dựng và chiến đấu, vừa ra sức chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam; mọi hoạt động kinh tế xã hội phải chuyển hướng theo yêu cầu mới Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia đã thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải phóng Miền Nam
c Thời kỳ 1975 – 1985: Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải
phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ở miền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm
vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam – Bắc vào năm 1978 Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng – chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm
80, và kéo dài cho tới ngày nay
Trang 3d Thời kỳ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số “cột môc” có tính đột phá sau đây:
- Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước
ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần – Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công
ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp – Trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:
+ Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương – là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2
+ Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống ngân hàng là quá trình ra đời hàng loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khác nhau gồm Ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, QTDND, công ty tài chính…Trong thời gian này, 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
- Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi mới và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên niên kỷ mới
Những dấu ấn dưới đây liên quan trực tiếp và thúc đẩy quá trình đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
- Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế (IMF, WB, ADB)
- Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo
Trang 4- Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998; Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long (Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997)
- Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999)
- Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMCP
- Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng – Bước cuối cùng tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra
- Năm 2003: Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn quốc
tế đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NHCSXH trên cơ sở Ngân hàng phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với tín dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Tiến hành sửa bước 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thập kỷ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM) đã có nhiều thay đổi quan trọng Sự xuất hiện của các ngân hàng (NH) 100% vốn nước ngoài và việc loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi nhánh NH đã khiến mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, buộc các NH Việt Nam (VN) phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển 2 trong số 5 NHTM Nhà nước (NN)
đã thực hiện cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo mô hình đa sở hữu được gần hai năm Các NHTM cổ phần (CP) một mặt đang cấu trúc lại, có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cùng lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu là 3.000 tỉ VND Tất cả các động thái này nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3 Khái quát tình hình các ngân hàng thương mại ở Việt Nam:
a Những thành tựu:
- Phát triển nhanh về số lượng và nguồn vốn sở hữu: sau khi đổi mới, nhất là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống các NHTM VN đã có bước phát triển nhanh về mặt số lượng Tính đến tháng 10/2012, hệ thống các NHTM VN có 39 NHTM cổ phần, 1 NHTM nhà nước, 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, hệ thống các NHTM đã có mạng lưới bao phủ đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt có NHTM đã xây dựng
hệ thống các chi nhánh bao phủ đến tận huyện, thậm chí là tới các xã, liên xã; mạng lưới của hệ thống NHTM trải rộng khắp đến các vùng, miền của đất nước, qua đó ngày càng đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước
- Hệ thống vốn điều lệ được nâng cao: theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì đến năm 2010, vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại phải đạt 3.000 tỷ VND Đến nay, các ngân hàng đã thực hiện xong quy định vốn pháp định tối thiểu, trong đó một số ngân hàng còn có số vốn điều lệ khá cao như: VCB, BIDV, Viettinbank, Agribank, ACB
Trang 5- Dư nợ cho vay tăng nhanh trong những năm vừa qua: trên thực tế, hệ thống NHTM
VN đã và đang đóng vai trò chi phối thị phần tín dụng (86,47% toàn hệ thống) Tính đến hết tháng 10/2012, dư nợ cho vay toàn ngành kinh tế đạt 2.939.892 tỷ đồng [6], đây là nguồn vốn đáng kể góp phần cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, cũng như góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội
- Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa: việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối đã được tiến hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các địa phương
- Hệ thống công nghệ ngành ngân hàng đã có sự tiến bộ rõ rệt: Điều này được thể hiện rất rõ là nếu như trước đây, trong khâu thanh toán phải mất thời gian từ 1 ngày đến hàng tuần mới thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thanh toán, thì ngày nay nhờ có đổi mới công nghệ, thời gian thanh toán đã được rút ngắn chỉ được tính bằng phút, thậm chí bằng giây Hơn thế nữa, nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàng thương mại đã đưa ra được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, chẳng hạn như: dịch vụ như ATM, POS, EDC, Internet Banking, Telephone Banking, ngân hàng trực tuyến
b Những khó khăn:
- Một là, nợ xấu ngân hàng đang đứng ở mức cao: Theo báo cáo của một số số ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng đều tăng trong 9 tháng đầu năm 2012; nợ xấu đặc biệt tăng mạnh tại các ngân hàng như ACB từ 0,9% lên 2,1%; của Sacombank từ 0,57% lên 1,4%; của BaoVietBank từ 4,56% lên 6,13%; của NaviBank
từ 2,92% lên 3,97% Một số ngân hàng giữ được tốc độ nợ xấu tăng không quá mạnh, như ở Techcombank từ 2,82% lên 2,94%; KienLongBank từ 2,77% lên 2,78% Riêng ngân hàng PGBank giảm được nợ xấu từ 3,06% cuối năm ngoái xuống còn 2,96%
- Hai là, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - “CAR”) có thể giảm sụt nếu các NHTM trích lập quĩ dự phòng đúng, đủ theo đúng quy định của NHNN: thời gian qua, theo báo cáo của các NHTM VN đa số các NHTM đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu trên 8% theo khuyến nghị của Hiệp ước Basel II, tuy nhiên, tỷ
lệ CAR còn có khác nhau giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ nợ xấu tăng cao, trong khi các nguồn thu khác giảm xuống, điều tất nhiên tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như các NHTM tuân thủ đúng theo quy định của NHNN, hạch toán đúng, đủ dự phòng cho các khoản nợ
- Ba là, tình hình thanh khoản của các NHTM đôi lúc còn bấp bênh: năm 2011, tỷ lệ sử dụng vốn trong hệ thống ngân hàng lên tới hơn 100%, dẫn đến thiếu thanh khoản; nay tình hình này đã được cải thiện, tỷ lệ sử dụng vốn dao động từ 93 - 96%, nhưng chưa chắc chắn
- Bốn là, rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái: những bất ổn về kinh tế vĩ mô ở trong nước
và trên thế giới, đặc biệt là lạm phát cao trong những năm trở lại đây và những chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN nhằm kiềm chế lạm phát đã đặt hệ thống NHTM trước những rủi ro rất lớn về lãi suất Bên cạnh đó, những biến động lớn và đột ngột
về lãi suất, cùng với những biện pháp điều hành lãi suất còn mang nặng tính hành
Trang 6chính đã khiến cho các NHTM thường xuyên trong trạng thái đối phó, khi thì chạy đua tăng lãi suất huy động, khi lại giữ lãi suất cho vay ở mức rất cao để phòng ngừa biến động lãi suất
- Năm là, các tổ chức tín dụng ngân hàng yếu kém cần được tái cơ cấu: Từ quý IV/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ngoài việc tập trung nghiên cứu, xây dựng Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) thì đã triển khai các biện pháp giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống thông qua việc triển khai
cơ cấu ngay một số ngân hàng yếu kém cần ưu tiên tập trung xử lý Ngay sau khi Đề
án được phê duyệt, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 734/QĐ-NHNN ban hành
Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng triển khai thực hiện Đề án Quyết định này
đã phân công rõ ràng nhiệm vụ của từng đơn vị theo các lộ trình cụ thể và triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để tiến hành cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng phù hợp với mục tiêu, định hướng và lộ trình nêu tại Đề án Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước là một trong những quan điểm nhất quán của Chính phủ và NHNN trong việc cơ cấu Quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và chi phí của ngân sách nhà nước cho xử lý những vấn đề của hệ thống các tổ chức tín dụng
Kết luận: Khách quan mà nói, thời gian qua hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)
đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô tài sản, mạng lưới giao dịch, sản phẩm dịch vụ, cũng như hệ thống công nghệ ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì hệ thống NHTM cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém; do đó
việc tái cơ cấu lại để hệ thống NHTM hoạt động hiệu quả hơn là việc cần phải làm
đối với các NHTM VN trong giai đoạn hiện nay Mục tiêu của nghiên cứu này là sẽ đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động của các NHTM VN trong thời gian qua và gợi ý một số chính sách nhằm tái cơ cấu hệ thống NHTM trong thời gian tới
II Tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại:
1.Định nghĩa:
Tái cơ cấu ngân hàng thương mại là việc các ngân hàng thương mại “thay đổi” một, một vài hoặc trên tất cả các phương diện vốn, tài sản, tài chính, cơ cấu tổ chức, tư duy quản lý, cách thức quản trị điều hành, … Từ đó giúp cho các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, lành mạnh và có hiệu quả hơn
2 Các phương thức tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và những nguyên tắc:
a Các phương thức tái cơ cấu:
Trên phương diện vĩ mô, vấn đề mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng cần phải được
“cơ cấu lại” theo hướng mới là không nên đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao bằng mọi giá mà thay vào đó là một mức tăng trưởng hợp lý, bền vững Khi đó áp lực tăng trưởng kinh tế không đè nặng lên hệ thống ngân hàng, làm cho khu vực này dễ tổn thương và kém hiệu quả Một số cơ cấu vĩ mô khác cũng cần được cơ cấu lại để
Trang 7đảm bảo phát triển và tăng trưởng bền vững như cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu ngành sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngân sách…
Cũng trên phương diện vĩ mô, cần phải cơ cấu lại hệ thống luật pháp tài chính, ngân hàng Hiện Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các quy định khác đang được xem xét sửa đổi một cách cơ bản Việc cơ cấu lại NHNN cũng nên được đặt ra theo lộ trình sửa đổi Luật NHNN, để đảm bảo cơ quan này hoạt động theo đúng chức năng của một ngân hàng trung ương hiện đại Việc sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng cần đưa vấn đề cải cách quản trị vào một cách tương ứng nhằm cải cách, chuyển đổi mô hình quản trị tại các NHTM cổ phần theo mô hình quản trị hiên đại, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế
Ngoài ra, cũng cần tăng cường quản trị, quản lý đối với cả hệ thống ngân hàng trên phương diện vĩ mô và vi mô Đến nay, vốn tự có của các NHTM đã được cải thiện đáng kể (hầu hết các NHTM có tỷ lệ an toàn vốn đạt và vượt 8%) Tuy nhiên vấn đề quản trị và quản lý đã và đang đặt ra yêu cầu cơ cấu lại Vấn đề quản trị cần được cải thiện để đảm bảo các NHTM cổ phần hoạt động theo đúng nguyên tắc của một công
ty cổ phần và công ty đại chúng: chế độ công bố thông tin, báo cáo tài chính; quyền của các cổ đông nhỏ lẻ; vấn đề chuyển đổi NHTMNN sau cổ phần hóa sang công ty
cổ phần thực sự… Về mặt quản lý, cải thiện quản lý rủi ro thanh khoản (như hệ thống ALCO) cần được đặt ra như một yêu cầu bắt buộc đối với các NHTM hiện nay để đảm bảo các NHTM có thể chịu đựng được các cú sốc
Về phương diện vi mô, các ngân hàng cần tiến hành cơ cấu lại thị trường, sản phẩm
và cơ cấu tài sản cho phù hợp với năng lực quản lý của mình, đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững Với cơ cấu tài sản và sản phẩm như hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam rất dễ bị tổn thương (như năm 2008) Đối với các NHTM Nhà nước vừa mới cổ phần hóa cần tập trung cải thiện quản trị tại ngân hàng này theo chuẩn quốc tế vì nơi đây tập trung nguồn lực lớn của Nhà nước, coi đây là hình mẫu
về quản trị ngân hàng hiện đại ở Việt Nam
Về mặt nhân sự, cần nâng cao trình độ quản lý của cấp lãnh đạo; cải thiện kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ của cả hệ thống Cần tạo ra một đội ngũ cán bộ chuyên gia, nhất là cán bộ phân tích đánh giá rủi ro, đi đôi với việc nâng cao khả năng quản lý rủi ro ở các NHTM (nhất là rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản…) Trước tiên, cần thành lập và đảm bảo sự hoạt của Chính phủ.động của ủy ban (cơ quan) về vấn đề quản lý rủi ro và ủy ban về vấn đề nhân sự như quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ - CP ngày 16/7/2009
Ngoài ra;
Tùy theo từng trường hợp cụ thể, các NHTM Việt Nam sẽ được cơ cấu lại theo các phương thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo trình tự thủ tục đã được qui định cụ thể trong Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11-2-2010 của NHNN, hay có thể bị rút giấy phép hoạt động, nghĩa là bị giải thể, chấm dứt hoạt động, thậm chí phá sản theo trình tự thủ tục qui định tại Thông tư số 34/2011/TT-NHNN ban hành ngày
28-10-2011 và có hiệu lực từ ngày 11-12-28-10-2011 Rõ ràng NHNN đã chuẩn bị đầy đủ, chi tiết,
cụ thể khuôn khổ pháp lý cho các phương thức cơ cấu lại hệ thống ngân hàng để mỗi
Trang 8NHTM căn cứ vào tình hình cụ thể, vào chiến lược phát triển của mình lựa chọn phương thức tham gia vào tiến trình cơ cấu lại Bên cạnh việc hướng dẫn các NHTM, các tổ chức tài chính thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục cơ cấu lại trong các thông tư nêu trên, NHNN cần chủ trì thành lập ủy ban cơ cấu lại hệ thống ngân hàng để:
- Thống nhất sự phối hợp giữa các bên liên quan;
- Tập trung xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình cơ cấu lại;
- Thống nhất hướng dẫn, tiếp nhận và xử lý các hồ sơ đề án sáp nhập, hợp nhất, mua lại, rút giấy phép, thanh lý tài sản, giám sát, điều chỉnh quá trình cơ cấu lại;
- Thống nhất ban hành quyết định cơ cấu lại và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của quá trình cơ cấu lại
Trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, kể cả dưới hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay cho giải thể, phá sản thì xử lý tài sản, đặc biệt là các nghĩa vụ nợ là phức tạp và khó khăn nhất do qui mô rất lớn, đụng chạm đến nhiều đối tượng trên địa bàn rộng lớn, trong khi các mối quan hệ lại đan xen, rắc rối, cũng như việc đánh giá chất lượng và xác định giá trị tài sản không hề đơn giản, nên NHNN cần bổ sung các phương thức xử lý tài sản trước, trong và sau quá trình cơ cấu lại với một thể chế rõ ràng để bảo đảm nguyên tắc hợp lý, công bằng, an toàn, chính xác và tránh thất thoát
b Nguyên tắc cơ cấu lại
Ngay sau khi có chủ trương của Đảng về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng Đề án tái cơ cấu ngân hàng và đưa ra bốn quan điểm, nguyên tắc cơ bản đối với quá trình tái cơ cấu này
- Nguyên tắc thứ nhất là phát triển một hệ thống ngân hàng đa dạng về sở hữu, quy mô
và loại hình, nói cách khác là bao gồm cả: (1) các ngân hàng lớn đủ sức cạnh tranh tầm khu vực, quốc tế; (2) các ngân hàng lớn làm trụ cột trong hệ thống ngân hàng; (3) những ngân hàng vừa và nhỏ, TCTD phi ngân hàng hoạt động trong một số phân khúc thị trường Như vậy, tiêu chí để xác định đối tượng phải cơ cấu lại không phải là qui
mô ngân hàng “to” hay “nhỏ” mà là tiêu chí “mạnh” hay “yếu” thông qua đánh giá mức độ an toàn thể hiện ở mức độ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và tỷ lệ nợ xấu như đã nêu trên Tuy nhiên, việc cho phép một số NHTM giới hạn phạm vi hoạt động phụ thuộc vào quy mô vốn (tương tự như ngân hàng ở các nước khu vực) dường như không thực tế ở Việt Nam (ít nhất là trong khuôn khổ đề án tái cơ cấu của NHNN lần này) khi mà quy định đến cuối năm 2011 tất cả các NHTM phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỉ VND (tương đương gần 150 triệu USD) Nghĩa là, có qui mô vốn
đủ lớn để hoạt động trên phạm vi cả nước trong một thị trường tín dụng ngân hàng có quy mô chưa tới 150 tỉ USD như Việt Nam Thực tế thì đến gần cuối năm 2011, số NHTM có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ VND đã giảm mạnh từ 16/37 vào cuối năm 2010 xuống chỉ còn 4/37 (đó là Bảo Việt, Xăng dầu Petrolimex, Phương Đông, Sài gòn Công thương), nên việc phân loại nhóm các NHTM nhỏ là không cần thiết Ít nhất là trong vòng 5 năm tới NHNN chỉ nên phân loại hệ thống ngân hàng thành 2 nhóm là nhóm NHTM lớn với chiến lược trở thành tập đoàn tài chính cạnh tranh tầm khu vực
và nhóm các NHTM hoạt động tầm quốc gia tương ứng với những yêu cầu cụ thể về quy mô vốn, trình độ quản lý, mức độ đa dạng hóa hoạt động, trình độ quản trị rủi ro
Trang 9và công nghệ Ứng cử viên cho nhóm NHTM lớn không chỉ giới hạn trong số các NHTM nhà nước như Vietinbank, VCB hay BIDV,… (với quy mô vốn điều lệ trên dưới 15.000 tỉ VND) mà có thể lựa chọn cả trong nhóm NHTM cổ phần hiện nay như Sacombank, ACB, Eximbank,… đã có quy mô vốn điều lệ trên dưới 10.000 tỉ VND
- Nguyên tắc thứ hai là việc bảo đảm nâng cao tính an toàn, lành mạnh của hệ thống
ngân hàng tỏ ra không cần thiết vì đây là mục tiêu thường xuyên liên tục cần phải đạt tới của tất cả hệ thống ngân hàng chứ không chỉ trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
- Nguyên tắc thứ ba xác định việc sáp nhập, hợp nhất ngân hàng theo nguyên tắc tự
nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan là cần thiết và phù hợp với nguyên tắc chung trong cơ cấu lại hệ thống ngân hàng vì: (1) hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính nên số lượng đối tượng các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rất nhiều, đa dạng và phức tạp, theo đó, việc xử lý các đối tượng cần cơ cấu lại rất cần thận trọng để tránh làm tăng rủi ro hệ thống; (2) các phương thức cơ cấu lại cần được lựa chọn trên cơ sở tự nguyện để tránh gượng ép, duy ý chí hay “lắp ghép cơ học” như đã xảy ra trong việc hình thành các tập đoàn tổng công ty nhà nước thời gian qua, dẫn đến không những không làm tăng mức độ an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng, mà ngược lại, còn tăng thêm rủi ro cho các NHTM đang an toàn do phải tiếp nhận những NHTM quá yếu kém
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu lại rất cần sự can thiệp của NHNN với tư cách cơ quan quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng chứ không thể phó mặc cho các NHTM
tự sắp xếp Bởi lẽ, NHNN cần tạo ra khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cơ cấu lại diễn ra suôn sẻ, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc cơ cấu lại; mặt khác, NHNN cũng cần có những hỗ trợ cần thiết để các NHTM vượt qua những trở ngại trong quá trình cơ cấu lại
- Nguyên tắc thứ tư là cơ cấu lại ngân hàng được triển khai dưới nhiều hình thức, biện
pháp và theo lộ trình thích hợp căn cứ vào đặc điểm của ngân hàng cụ thể
Bốn nguyên tắc của NHNN về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nêu trên là rất cần thiết, song như vậy là chưa đủ vì còn thiếu một số nguyên tắc quan điểm không kém phần quan trọng, như:
- Nguyên tắc gắn quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, hệ thống tài chính với quá
trình cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công và với quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Bởi vì, một mặt, vốn đầu tư của các DNNN hiện chiếm trên 20% đầu tư công và các DNNN cũng chiếm trên 30% tổng tín dụng, chưa kể các DNNN cũng đồng thời là khách hàng chủ yếu của tín dụng nhà nước thông qua VDB với qui mô tới hàng trăm nghìn tỉ VND Vì vậy, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng không thể tách rời với cơ cấu lại đầu tư công và các DNNN Mặt khác, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã tham gia đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp ra ngoài ngành vào ngân hàng, chứng khoán, bất
Trang 10động sản, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính,… nên việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng không thể thực hiện thành công nếu không đồng bộ với cơ cấu lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống tài chính song không thể cơ cấu lại riêng hệ thống ngân hàng mà thiếu gắn kết với cơ cấu lại toàn bộ hệ thống tài chính do các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Hơn nữa, quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng sẽ mất phương hướng nếu không đặt trong tổng thể xác định lại vai trò của từng kênh dẫn vốn trong nền kinh tế Ngoài ra, cần bổ sung quan điểm về sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam để làm cơ
sở cho các NHTM thực hiện cơ cấu lại
- Vấn đề nổi cộm nhất trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay là nợ xấu gia tăng và tính thanh khoản thấp, nên NHNN cần có nguyên tắc về xử lý nợ xấu và tính thanh khoản cả trước, trong và sau khi cơ cấu lại hệ thống ngân hàng để thực sự lành mạnh hóa hệ thống khi kết thúc tiến trình cơ cấu lại
- Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng chỉ thành công khi gắn kết với cơ cấu lại từng NHTM, từ cơ cấu lại vốn điều lệ đến cơ cấu lại tài sản có và tài sản nợ của mỗi NHTM vì đó vừa là tiền đề, vừa là kết quả tất yếu của quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM với mục tiêu cuối cùng là tạo ra một hệ thống NHTM lành mạnh, an toàn và hiệu quả
Tóm lại, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng lần này nằm trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh
tế, thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế nên có thể nói là chưa có tiền lệ ở Việt Nam Chính vì vậy, một mặt, quá trình cơ cấu lại cần tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của những lần đổi mới sắp xếp lại hệ thống ngân hàng Việt Nam trước đó, cũng như kinh nghiệm cơ cấu lại hệ thống ngân hàng của quốc tế Mặt khác, tiến trình
cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam lần này cần được triển khai dựa trên những nguyên tắc, quan điểm, phương thức, lộ trình phù hợp với tình hình thực tế mới và mục tiêu mới là xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, an toàn, hiệu quả, có khả năng cạnh tranh tốt nhất trong vai trò trung gian tài chính không chỉ trên thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam mà còn vươn ra thị trường tài chính, ngân hàng quốc tế
III Tình hình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam:
Sau 2 năm tái cơ cấu, hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã đạt được một
số thành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn đó những khó khăn, trở ngại cần phải nhanh chóng khắc phục trong năm nay
1 Những kết quả khả quan thu được từ việc tái cơ cấu: