Trong đó, thủy sản là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm tỉ trọng cao trong kimngạch xuất khẩu cả nước hằng năm và cùng với cá basa, tôm là một trong các mặt hàng xuất k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
Trang 2A - LỜI MỞ ĐẦU 3
I - Lí do chọn đề tài 3
II - Phương pháp thu thập dữ liệu 3
III - Phương pháp phân tích dữ liệu 4
B - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
I - Tình hình xuất khẩu tôm hiện nay của Việt Nam và tình hình nhập khẩu tôm của Mỹ 6
1 - Tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam 6
2 - Tình hình nhập khẩu tôm của Mỹ 10
II - Phân tích lợi thế cạnh tranh của tôm Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ, so sánh với tôm của Thái Lan 11
1 - Phân tích các lợi thế cạnh tranh của tôm Việt Nam 11
1.1 - Các yếu tố về nguồn lực sản xuất 11
1.2 - Các yếu tố về nhu cầu 15
1.3 - Các yếu tố về các ngành hỗ trợ, có liên quan 16
1.4 - Các chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của các doanh nghiệp 18
2 - Phân tích lợi thế cạnh tranh của tôm Thái Lan 21
2.1 - Các yếu tố về nguồn lực sản xuất 21
2.2 - Các yếu tố về nhu cầu 24
2.3 - Các yếu tố về các ngành hỗ trợ, có liên quan 24
2.4 - Các chiến lược, cấu trúc và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp 25
3 - So sánh lợi thế cạnh tranh về ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam và Thái Lan 27
III – Kết luận 32
C – CÁC NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
A LỜI MỞ ĐẦU:
I Lí do chọn đề tài:
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao thương với các nước, các khu vực trên thế giới, kinh tế nước ta đã có những bước tiến vượt bậc Càng ngày, vị thế của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam càng được khẳng định trên thị trường thế giới, không chỉ tăng về giá trị xuất
Trang 3khẩu qua hằng năm, chất lượng hàng hóa ngày càng được nâng cao mà thị trường cũng ngày càng được mởrộng Trong đó, thủy sản là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm tỉ trọng cao trong kimngạch xuất khẩu cả nước hằng năm và cùng với cá basa, tôm là một trong các mặt hàng xuất khẩu mang lạigiá trị cao nhất trong ngành thủy sản nước ta
Tuy nhiên, trong khi quá trình tự do thương mại đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, con tôm của ViệtNam đang gặp phải muôn vàn khó khăn thách thức Khó khăn từ các đối thủ cạnh tranh, khó khăn từ các thịtrường nhập khẩu và khó khăn từ chính những nguồn lực trong nước Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn,thách thức ấy thì với tình hình biến động ngày càng thường xuyên và phức tạp hiện nay trên thị trường giaothương thế giới cũng mở ra cho con tôm Việt Nam những cơ hội đột phá, phát triển mạnh mẽ Để nắm bắtđược những cơ hội cũng như đương đầu với những thách thức đó, đây chính là thời điểm chúng ta cần phảinhìn nhận lại về những ưu thế của con tôm nước nhà cũng như khả năng cạnh tranh của nó trên thươngtrường thế giới nhằm có những chiến lược thích hợp trong tương lai giúp nâng tầm con tôm Việt Nam trênthương trường Đó cũng chính là lí do mà nhóm đã chọn đề tài “Phân tích những lợi thế cạnh tranh của tômViệt Nam so với tôm Thái Lan khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ”
II Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn: các cơ quan chính phủ, các cục, tổng cục thống kê, các hiệp hội chếbiến, xuất khẩu thủy sản, các báo, tạp chí và các website…
III Phương pháp phân tích dữ liệu:
Bài viết sử dụng Mô hình kim cương của Micheal Porter để tiến hành triển khai và phân tích.
Cơ sở lí thuyết mô hình kim cương của Micheal Porter.
Khả năng cạnh tranh của quốc gia/vùng lãnh thổ sẽ quyết định đến sự thịnh vượng của vùng/lãnh thổ
đó Mặt khác, khả năng cạnh tranh này lại phụ thuộc vào năng lực sáng tạo để nâng cao năng suất TheoMichael Porter: Cạnh tranh là tạo ra năng suất và năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặcvốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng và đặc điểm của sản phẩm (yếu tố quyết định giá của sản phẩm).Như vậy, có thể có thể xem xét: năng suất của người lao động? Năng suất của người nắm đồng vốn? Năngsuất vùng, lãnh thổ/địa phương hay quốc gia? Năng suất vùng, địa phương hay quốc gia được hiểu là mứcsống tăng dần của xã hội phụ thuộc vào khả năng tăng năng suất theo thời gian của các doanh nghiệp, thểhiện cụ thể: năng suất của người lao động, năng suất của đồng vốn được sử dụng, nguồn thu nhập của quốc
Trang 4dân từ thuế để chi trả cho các dịch cụ công ích (y tế, giáo dục, an sinh xã hội ) góp phần đẩy mạnh nângcao mức sống người dân Có thể nói khả năng cạnh tranh và năng suất mới có thể đảm bảo sự thịnh vượngkinh tế lâu dài Do đó, các nền kinh tế cần xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô cótính cạnh tranh, cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc giải phóngsức cạnh tranh trong nội bộ.
Để có thể xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh cần biếtđược một quốc gia/vùng lãnh thổ đang ở giai đoạn phát triển kinh tế nào với các ưu tiên chính sách khácnhau Nền kinh tế lấy điều kiện sẵn có làm động lực tạo ra giá trị nhờ khai thác tài nguyên và các điều kiệnsẵn có do đó sẽ không đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững Giai đoạn hai nền kinh tế sẽ dựa vàonguyên vật liệu đầu vào để tạo ra hàng hóa và dịch vụ có giá trị hơn Còn giai đoạn cuối cùng đó là tạo ragiá trị độc đáo cho nhiều khách hàng, giúp cho năng suất cao hơn thông qua tổng hợp các yếu tố
Hình 1: Các giai đoạn phát triển kinh tế của quốc gia/vùng lãnh thổ
Mô hình kim cương của Giáo sư Michael Porter phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranhđồng thời đánh giá một quốc gia hay vùng lãnh thổ có môi trường kinh doanh vi mô lành mạnh hay không
Mô hình đưa ra 4 nhân tố tác động qua lại lẫn nhau và quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia/vùng lãnh thổ
đó là:
Hình 2: Mô hình "kim cương"
Trang 5- Điều kiện đầu vào sẵn có: Điều kiện sẵn có của một môi trường kinh doanh bao gồm tính hiệu quả,
chất lượng và sự chuyên môn hóa của các điều kiện sẵn có cho doanh nghiệp Các điều kiện này sẽ có tácđộng đến năng lực sáng tạo và năng suất lao động, bao gồm: vốn, con người, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở
hạ tầng vật chất và hành chính, công nghệ thông tin Các yếu tố này cần được kết hợp một cách đầy đủ đểtạo sơ sở hình thành lợi thế cạnh tranh
- Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty: Các quy định, quy tắc, cơ chế khuyến khích và áp
lực chi phối loại hình, mức độ cạnh tranh địa phương tạo ra những ảnh hưởng lớn tới chính sách thúc đẩynăng suất
- Các điều kiện về nhu cầu: Nhu cầu thị trường ảnh hưởng tới quy mô và tăng trưởng thị trưởng đồng
thời liên quan đến cả tính chất khách hàng Nhìn chung, môi trường kinh doanh lành mạnh sẽ có mức cầucao từ các nhóm khách hàng địa phương phức tạp, do đó buộc các doanh nghiệp phải cung cấp hàng hóa vàdịch vụ chất lượng cao hơn mới có khả năng thành công
- Các ngành hỗ trợ và có liên quan: Để có được sự thành công của môi trường kinh doanh vi mô cần
có được số lượng lớn nhà cung cấp có năng lực tại địa phương và thay vì từng ngành công nghiệp riêng lẻcần có các cụm ngành
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 6I Tình hình xuất khẩu tôm hiện nay của Việt Nam và tình hình nhập khẩu tôm của Mỹ:
1 Tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam:
Bảng 1: Giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam giai đoạn 2010-2012
(Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam VASEP)
Trong giai đoạn 2010-2012 tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam có những biến động mạnh mẽ.Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu cùa ngành tôm có xu hướng tăng trong giai đoạn này ( từ 2010 đến 2012tăng 6.20%), tuy nhiên trong giai đoạn 2011-2012 lại có sự giảm nhẹ (6.62%)
Năm 2010 là năm mở đầu cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ cua của ngành tôm xuất khẩu ViệtNam khi kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên đạt trên 2 tỷ USD Ước tính cả năm 2010, khối lượng xuất khẩuđạt khoảng 240.000 tấn với giá trị khoảng 2,08 tỷ USD, tăng 15,4% về khối lượng và 24,17% về giá trị sovới năm 2009 Trong năm 2010, có 341 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các mặt hàng tôm (149 DN xuấtkhẩu tôm chân trắng, 163 DN xuất khẩu tôm sú) sang 92 thị trường, tăng hơn 10 thị trường so với năm
2009 Đạt được những kết quả khả quan như vậy là do tác động của nhiều yếu tố
Đầu tiên là sự phát triển và đóng góp của tôm thẻ chân trắng Sau 3 năm (từ năm 2008) được phépnuôi tôm thẻ chân trắng đại trà trong cả nước, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng liên tục tăng qua từng năm
và đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành tôm Năm 2010, diện tích nuôi tôm thẻ chântrắng cả nước gần 25.000 ha (tăng 30% so với 2009), sản lượng đạt 135.000 tấn (tăng 50% so 2009) Nuôitập trung chủ yếu tại Quảng Ninh (gần 4.000 ha) và các tỉnh Nam Trung bộ (gần 7.000 ha) với hình thứcnuôi chủ yếu là thâm canh Trong 11 tháng năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 56.271 tấn tôm chân trắng, trịgiá xấp xỉ 370 triệu USD, chiếm 25,7% về khối lượng và 19,4% về giá trị trong tổng sản lượng xuất khẩu
Trang 7các sản phẩm tôm, giá trị xuất khẩu đứng thứ 2 sau con tôm sú Dự kiến xuất khẩu tôm chân trắng cả năm
2010 khoảng 61.000 tấn, trị giá gần 410 triệu USD Tuy nhiên, tôm sú vẫn là đối tượng chủ lực quyết địnhthành công của ngành tôm, đặc biệt tôm sú cỡ lớn là độc quyền của tôm Việt Nam Năm 2010, diện tíchnuôi tôm sú cả nước đạt 613.718 ha, tăng không đáng kể so với năm trước Diện tích nuôi tập trung ở 6 tỉnhĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang) với diện tích 564.485 ha (chiếm92%) Trong đó, diện tích nuôi thâm canh chỉ chiếm khoảng 10% (gần 63.000 ha) Tổng sản lượng tôm súnuôi đạt gần 333.000 tấn (chỉ tăng hơn 4% so với năm 2009)
Tiếp đó là nỗ lực đa dạng hóa thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm của doanh nghiệp Năm 2010,nhiều thị trường chưa phục hồi hoàn toàn, một số thị trường có sự thay đổi cấu trúc sản phẩm và quốc giacung cấp, nhưng Việt Nam đã xuất khẩu sang 92 thị trường, tăng hơn 10 thị trường so với năm 2009 do sựsụt giảm của một số nước cung cấp tôm và nhờ sự năng động, nỗ lực của các DN tôm trong nước Các DNtôm ngày càng chú trọng đa dạng hoá sản phẩm theo hướng gia tăng giá trị, góp phần làm cho giá trị xuấtkhẩu tôm tăng trưởng mạnh hơn khối lượng Trong 11 tháng, khối lượng tôm xuất khẩu tăng 13%, nhưnggiá trị tăng 23,5% so với cùng kỳ 2009 Giá trung bình xuất khẩu tôm năm nay đạt khoảng 8,7 USD/kg,tăng 8,8% so với 2009 Xuất khẩu sang hầu hết các thị trường đều tăng - chứng tỏ sản phẩm tôm Việt Namđược đánh giá cao trên thị trường thế giới Bên cạnh một số cơ hội và lợi thế thị trường, năm 2010, sự đồnglòng của các DN tôm trong chiến lược sản xuất và giá xuất khẩu cũng là một trong những yếu tố để con tômViệt Nam giữ và tăng được giá trên thị trường thế giới, đặc biệt tại các thị trường lớn Mỹ là thị trường cógiá trung bình cao nhất, đạt 10,6 USD/kg, tăng 16% so với 2009, tiếp đến Nhật Bản và EU Các thị trườngmới cũng có sự phục hồi đáng kể cho giá xuất khẩu cao như Australia, Canada và Singapore (trung bình từ8,3 - 10,1 USD/kg)
Sau cùng là do nhu cầu tôm tại các thị trường dần phục hồi Xuất khẩu tôm sang hầu hết các thịtrường chính đều tăng trưởng cao cả về khối lượng và giá trị, trong đó thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc -đặc biệt Trung Quốc có mức tăng trưởng cao nhất 54% về giá trị trong 11 tháng đầu năm Chúng ta chỉ có 2thị trường bị giảm giá trị nhập khẩu là Canada và Philippines Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu tômlớn nhất của Việt Nam, tiếp theo là Mỹ và EU
Đến năm 2011, lại tiếp tục là một năm thành công của ngành tôm Việt Nam, đóng vai trò là moặthàng chủ lực cũng như mang lại giá trị lớn trong ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam Năm 2011 cho thấydấu hiện của sự phát triển mạnh mẽ của ngành tôm Việt Nam khi mà nguồn cung tôm trên thế giới trở nênkhan hiếm, đặc biệt là tôm cỡ lớn, vốn là thế mạnh của Việt Nam Tuy nhiên, đây cũng là một năm đầy biến
Trang 8động của ngành tôm Việt Nam khi liên tục phải đối mặt với các rào cản chất lượng của các thị trường cũngnhư tình hình dịch bệnh xảy ra hết sức phức tạp Tuy nhiên Vượt qua nhữg khó khăn, con tôm vẫn là mặthàng xuất khẩu chủ lực, có đóng góp quan trọng trong giá trị xuất khẩu năm 2011 Trong 6 tháng đầu năm,
cả nước đã xuẩt khẩu 101.872 tấn tôm, trị giá 971.109 triệu USD, tăg 16,9% về khối lượng và 35.2% về giátrị so với cùng kì năm 2010 và là nhóm hàng có mức tang trường cao nhất trong các nhóm hàng thủy sảnxuất khẩu chũ lực của Việt Nam Tính đền tháng 12/2011, xuất khẩu tôm của Việt Nam đã thu về gần 2.4 tỷUSD, tang 13.7 % so với cùng kỳ năm 2010 TRong đó, tôm sú đạt hơn 1,4 tỷ USD và tôm thẻ chân trắngđạt hơn 700 triệu USD
Năm 2012 kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam đả không thể duy trì được mốc 2,4 tỷ USD như năm
2011 Tôm Việt Nam xuát khẩu sang nhiều thị trường trọng điểm đều sụt giảm do nhiều nguyên nhân, màquan trọng nhất là do những rào cản kĩ thuật được dụng lên và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu bất ổn do dịch bệnh cũng đã tác động không nhỏ đến tình hình xuất khẩutôm trong năm
Năm 2012, giá trị XK tôm sang 5 trong nhóm 10 thị trường hàng đầu NK tôm của Việt Nam giảmmạnh so với năm trước, trong đó Mỹ giảm 18,6%, EU giảm 24,5%, ASEAN giảm 24,9% Trong đó, đối vớiriêng thị trường Mỹ thì xuất khẩu tôm sang Mỹ chỉ tăng trưởng trong 2 tháng của năm là tháng 2 và 3, vớimức tăng lần lượt 32,3% và 25,8% Mười tháng còn lại chứng kiến sự sụt giảm mạnh trong XK tôm sang thịtrường này, riêng tháng 12 giảm tới 46,5% Do đó, XK tôm Việt Nam sang Mỹ chỉ đạt 454,5 triệu USD,giảm 18,6% so với năm 2011 Nhu cầu tiêu dùng ở mức thấp trong khi nguồn cung quá nhiều không nhữngđẩy giá tôm giảm mà còn kéo theo NK tôm vào Mỹ cũng giảm Giá tôm sú trên thị trường Mỹ đã liên tụcgiảm trong 10 tháng đầu năm 2011, từ 7,40 USD/pao vào tháng 1 xuống 5,90 USD/pao vào tháng 10 và chỉtăng lại từ đầu tháng 11 Giá tôm chân trắng trên thị trường này cũng theo hướng giảm ngay từ đầu năm, từ4,20 USD/pao tháng 1 xuống mức thấp nhất 3,70 USD/pao vào tháng 8 Mười một tháng đầu năm 2012,
NK tôm vào Mỹ giảm 7,6% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 481,892 tấn Nhập khẩi từ Thái Lan - chiếm tới25,2% nguồn cung tôm cho Mỹ - giảm 27,5%, từ 167.608 tấn xuống 121.536 tấn
2 Tình hình nhập khẩu tôm của Mỹ:
Bảng 2: Giá trị kim ngạch nhập khẩu tôm của Mỹ giai đoạn 2010-2012
(đvt: 1000USD)
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ Trọng Giá trị Tỉ trọng
Trang 9(Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam VASEP)
Nhìn chung, tình hình nhập khẩu tôm của Mỹ trong giai đoạn 2012 có xu hướng tăng (từ
2010-2012 tăng 3.91%) Tuy nhiên trong giai đoạn 2011-2010-2012 lại có sự giảm tương đối lớn (13,55%)
Nguyên nhân dẫn đến sự nhập khẩu tôm giảm sút của Mỹ là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới, nền kinh tế Mỹ tuy đã phục hồi nhưng vẫn còn tang trưởng rất chậm chạp Người tiêu dùngcũng đã thay đổi hành vi mua sắm và tiêu thụ, chọn những sản phẩm thay thế rẻ hơn, cắt giảm những bữatối thịnh soạn tại nhà hàng, dùng các mặt hàng chế biến sẵn tại nhà thay cho hàng quán Tình hình tiêu thụkhông mong đợi đã dẫn đến tốn kho, từ đó nhu cầu nhập khẩu tôm của Mỹ giảm rõ rệt
II Phân tích lợi thế cạnh tranh của tôm Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ, so sánh với tôm của Thái Lan:
1 Phân tích các lợi thế cạnh tranh của tôm Việt Nam:
1.1 Các yếu tố về nguồn lực sản xuất
Yếu tố tự nhiên
Việt Nam là một quốc gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương Diện tích đất liền vào khoảng331.698 km² Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phíađông, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây Hình thể nước Việt Nam cóhình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam là khoảng 1.650 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là
50 km Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải
lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm
Trang 10lục địa Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diệntích khoảng 1.000.000 km²[1] biển Đông
Ở Việt nam do điều kiện mưa nhiều đã tạo ra một số lượng sông suối rất lớn, tới khoảng 2.360 consông và kênh lớn nhỏ Dọc bờ biển, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 112 cửa sông rabiển.Các sông lớn ở việt nam thường bắt nguồn từ bên ngoài, phần trung du và hạ du chảy trên đất ViệtNam
Lưu lượng nước của các sông và kênh là 26.600 m³/s, trong tổng lượng nước này phần được sinh ratrên đất Việt Nam chiếm 38,5%, phần từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 61,5%
Việt Nam có 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Mê Kông, cùng rất nhiều các con sông nhỏ
và hệ thống sông ngòi chằng chịt
Nước ta có diện tích rừng ngập mặn lớn, gần 160.000ha Rừng ngập mặn không chỉ có vai trò quantrọng trong việc phát triển các ngành thủy sản, cung cấp môi trường sống, thức ăn tự nhiên, mà còn có vaitrò trong việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu
Diện tích mặt nước và lưu lượng nước khá lớn, những hệ thống sông ngòi chằng chịt cùng hệ thống
đê điều thủy lợi đang được phát triển là những thuận lợi quan trọng cho việt phát triển ngành thủy sản ởViệt Nam Diện tích nuôi trồng là yếu tố quan trọng nhất để tiến hành nuôi trồng thủy san – đặc biệt làngành nuôi tôm Mặc dù mới phát triển trong khoảng vài chục năm trở lại đây nhưng với những thuận lợitrên, cùng việc phát triển hệ thống thủy lợi, sự đầu tư của các doanh nghiệp thủy sản- đặc biệt là vùng ĐồngBằng sông Cửu Long nước ta được các nhà khoa học minh chứng là “vùng nước vàng” của hành tinh, vớidiện tích phù sa và nguồn lợi nước ngọt, nước lợ rất lớn, hệ thống kênh rạch đan xen đã tạo nên một mộitrường nuôi trồng thủy sản cực kỳ thuận lợi cả về điều kiện khí hậu, môi trường sống và nguồn thức ăn tựnhiên
Ngoài ra, nước ta còn nằm trong khu vực có tuyến đường vận tải biển quốc tế chiến lược và nhộnnhịp đứng thứ 2 trên thế giới, mỗi ngày có khoảng 150-200 tàu qua lại khu vực Biển Đông Trong đó cókhoảng 50% là tàu có tải trọng trên 5000 tấn, hơn 10% là tàu có tải trọng từ 30.000 tấn trở lên Biển Đông
là tuyến đường biển giao lưu hàng hóa quan trọng đối với nhiều nước châu Á Xuất khẩu hàng hóa của NhậtBản đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 25%, autralia40% và TRung Quốc 20% Với hệ thống cảng biển trải dài từ bắc đến nam cùng với vị trí chiến lược, nước
ta có điểu kiện vô cùng thuận lợi trong việc vận chuyển cũng như xuất khẩu hàng hóa nói chung và tôm nóiriêng sang các thị trường trên toàn thế giới
Trang 11Nguồn nhân lực
Theo số liệu của Tổng cục dân số Việt Nam, tính đến năm 2012 thì có khoảng 48,4% lực lượng laođộng thuộc ngành nông lâm thủy sản, chiếm gần một nửa lực lượng lao động của Việt Nam Với một lựclượng lao động khá lớn và giá nhân công rẻ, thì đây là một lợi thế của ngành nuôi tôm ở Việt Nam, giúp chotôm xuất khẩu Việt Nam có giá thành thấp, nâng cao năng lực canh tranh với các nước trên thế giới
Tuy nhiên, việc đối phó, phòng chống khi dịch bệnh xảy ra vẫn chưa được chú trọng Khi có dịchbệnh xảy ra, người nuôi trồngthường phản ứng khá chậm, dẫn đến hậu quả là tôm chết hàng loạt, gây thiệthại rất lớn Để giúp đõ người dân, các chuyên gia thủy sản đã được cử xuống các vùng nuôi trồng tôm đểgiúp đỡ trong việc nuôi trồng và cải thiện chất lượng tôm, đối phó dịch bệnh
Yếu tố tăng cường
Công nghệ phát triển rất nhanh, công nghệ tiên tiến được áp dụng vào nhiều khâu: chế biến, lưu trữ, vậnchuyển…Điều này giúp cho đầu tư vào ngành tôm tăng lên nhanh chóng (diện tích nuôi trồng liên tục tăngvượt bậc trong những năm qua, các doanh nghiệp mạnh dạn mua lại máy móc dây chuyền hiện đại và nhậnchuyển giao kĩ thuật từ các nước tiên tiến)
Cơ sở hạ tầng, hệ thống nuôi tôm
Theo số liệu của TỔng Cục Thủy sản, năm 2012 có 30 tỉnh thành nuôi tôm nước lợ, đã thả nuôi657.523ha, đạt sản lượng 476.424 tấn, tăng 0.2% diện tích và giảm 3,9 % sản lượng
Diện tích tôm sú chiếm 94,1% diện tích nuôi tôm và 62,7% sản lượng , tôm chân trắng chiến 5,9%diện tích và 27,3 % sản lượng
Khu vực ĐBSCL chiếm diện tích và sản lượng lớn nhất với 595.723ha và 358.477 tấn, trong đó tôm
sú là 579.997 ha và 280.467 tấn, tôm chân trắng 15.727 ha và 77.830 tấn
Năm 2012, cả nước có 1529 cơ sở sản xuất tôm sú giống, sản xuất được hơn 37 tỉ con giống và 185
cơ sở sản xuất tôm trắng giống với gần 30 tỷ con giống
Về thủy lợi
Cả nước có gần 2000 hồ chưa dung tích trên 0.2tr m3 nước; 10000 trạm bơm; 1000 kênh trục VùngĐBSCL tập trung thực hiện việc kiểm soát lũ phát triển thủy lợi và giao thông Bước đầu thực hiện cáccông trình thủy lợi ven biển phục vụ nuôi trồng thủy sản , gắn ngọt hóa với việc nuôi trồng thủy sản nướcmặn, nước lợ và khai thác thủy sản
Trang 12Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) là kênh quảng cáo thương hiệu hiệuquả, giúp cho việc quảng bá tôm Việt Nam đến các nước trê thế giới trở nên dễ dàng hơn
1.2 Các yếu tố về nhu cầu:
Thực tế thì giá thủy sản xuất khẩu phần lớn lúc nào cũng cao hơn so với giá bán trong nướcnên các doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn kinh doanh trong nước Nhất là tôm, khi đây là mặthàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta cũng như mức nhu cầu trên thế giới hiện nay Tôm Việt Namđang ngày càng được ưa chuộng trên thị trường thế giới vì có nguồn cung ổn định, giá thành rẻ mà chấtlượng cũng không hề thua kém các nước khác
Tôm là một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nước ta, bên cạnh đó, các quy trình về kiểm tra chấtlượng hàng nhập khẩu của các nước nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt và có tính Để tôm đạt chất lượng đểxuất khẩu, đảm bảo nguồn cung cấp không bị giảm, việc chú trọng trong công tác sản xuất và quản lý nuôitrồng rất quan trọng, kiểm soát hàm lượng thuốc kháng sinh nhằm giữ cho tôm khỏe mạnh, mặt khác, tômluôn sạch, không có hàm lượng chất chloramphenicol (CAP) và nitrofurans (NTRs) vượt qua mức quy địnhcủa các nước nhập khẩu
Tính đến hết tháng 6 năm 2013, tôm vừa dẫn đầu về giá trị xuất khẩu, đạt 1,1 tỷ USD, vừa có mứctăng trưởng giá trị mạnh nhất trong cơ cấu hàng thủy sản, với mức 8,6% Trong đó, xuất khẩu tôm chântrắng tăng 71,5% so với cùng kỳ lên 456 triệu USD, còn xuất khẩu tôm sú tăng 0,04% lên 560 triệu USD.Nhu cầu tôm Việt Nam ngày càng tăng cao chứg tỏ sức hút cũng như vị thế ngày càng được khẳng định trênthương trường
Trang 13Bên cạnh đó, với điều kiện về nguồn cung cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam là Thái Lan, đang bịdịch bệnh làm giảm sản lượng xuất khẩu vào Mỹ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển và dẫndầu thị trường tôm tại Mỹ, cụ thể theo dự báo của Hiệp hội Thực phẩm đông lạnh Thái Lan, sản lượng tômcủa nước này trong năm 2013 dự kiến giảm 50% so với 550.000 tấn năm 2012 Để có thể đạt được bước tiếntrong thị trường, các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam phải chú trọng trong chất lượng tôm, bảo quản,… đạtchất lượng cao, thu hút nguồn cầu dồi dào tại Mỹ.
1.3 Các yếu tố về các ngành hỗ trợ, có liên quan:
Công nghệ giống tôm.
Một trong những yếu tố quyết định hiệu quả nuôi tôm là chất lượng giống Vì thế, cải thiện chấtlượng giống đã được xác định là một trong các mục tiêu quan trọng nhất trong định hướng phát triểnthủy sản Việt Nam Tuy nhiên hiện nay chưa có cơ sở nào ở Việt Nam được đầu tư đúng mức để nghiêncứu gia hóa, chọn lọc di truyền và sản xuất tôm bố mẹ chất lượng cao, sạch bệnh (SPF) phục vụ chosản xuất Việc kiểm soát NK tôm bố mẹ, đặc biệt là tôm chân trắng (TCT), chưa chặt chẽ nên rất nhiều tôm
bố mẹ chất lượng thấp, giá rẻ, được đưa vào Việt Nam để sản xuất giống
Thậm chí, một số trại còn sử dụng tôm từ ao nuôi thương phẩm để làm tôm bố mẹ, nhằm giảm giáthành mà không quan tâm đến sự nhiễm bệnh và sự sinh sản cận huyết của quần đàn tôm
Kết quả là thị trường tôm giống trở nên hỗn loạn, một lượng tôm giống chất lượng kém, không sạchbệnh và đồng huyết được tung ra thị trường với giá rất rẻ so với tôm sản xuất từ nguồn bố mẹ SPF, chếtlượng cao được nhập từ các công ty chuyên sản xuất tôm bố mẹ nổi tiếng của thế giới Chính nguồn tômgiống chất lượng kém này là nguyên nhân dẫn đến bất ổn cho nghề nuôi tôm Việt Nam, tôm nuôi chậm lớn,dịch bệnh tràn lan
Một thức tế là hiện nay, nguồn tôm giống chất lượng cao ở Việt Nam chủ yếu được nhập từ nướcngoài: Thái Lan, Trung Quốc, Hawaii, Indonesia, Singapore…
Việt Nam cũng đã tích cực nghiên cứu và cũng đã cho ra đời thành công giống tôm thẻ F1-V3-VNvào năm 2008 có nguồn gốc từ Hawaii So với giống tôm nhập từ Hawaii và Thái Lan, tôm F1-V3-VN đượcchọn làm tôm bố mẹ có trọng lượng trên 50g/con đối với con đực và từ 55-60g/con đối với con cái Nhờmang lượng trứng nhiều hơn nên số lần đẻ của con cái thuộc giống này luôn dao động từ 12-15 lần/chu kỳ,
tỷ lệ sống qua thời gian nuôi thành thục và cho đẻ của tôm đạt từ 92-95%, trong khi đó giống tôm nhập từ