Đặt trong bối cảnh hiện nay, từ việc nghiên cứu, phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối cũng như lợi thế so sánh, Việt Nam đã nhận thấy được những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh gì và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI
TRONG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN XUÂN THIÊN MÔN HỌC: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
NHÓM 3
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2019
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIFTA The ASEAN – India Free
Trade Area Hiệp định Thương mại Tựdo ASEAN - Ấn ĐộASEAN Association of Southeast
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam ÁEAEU Eurasian Economic Union Liên minh Kinh tế Á ÂuITC International Trade Center Trung thâm thương mại
Quốc tế
Advantage Chỉ số lợi thế so sánh hiệnhữuSITC Standard International
Trang 5và toàn cầu hóa đang mở ra trước mắt cho Việt Nam nhiều cơ hội và cũng không ít khó khăn thách thức Ngoài mục tiêu hợp tác để bảo vệ nền hòa bình và ổn định khu vực nói riêng và phạm vi thế giới nói chung, Việt Nam gia nhập ASEAN và các tổ chức kinh tế quốc tế còn vì những lý do khác, trong đó mục tiêu và các lợi ích kinh tế trong quá trình hợp tác là vấn đề được ưu tiên Để có thể nắm bắt được các cơ hội cũng nhưng khắc phụcnhững khó khăn nhằm nâng cao hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế, mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại thì Việt Nam cần nhận thức được những lợi thế tuyệt đối cũng như lợi
thế so sánh đang có để có thể có một chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại lâu dài và bền vững Năm bắt lợi thế của bản thân, tự nhận ra khuyết điểm của chính mình sẽ giúp cho Việt Nam có những bước đi chuẩn xác hơn trên con đường hội nhập quốc tế phía trước
Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thương mại được coi là phát triển nhất và có tính hệ thống logic với nhau Các lý thuyết thương mại quốc tế là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp Trải qua nhiều thế kỷ, thực tiễn thường xuyên biến đổi, xã hội ngày càng hiện đại và văn minh, nhưng các tư tưởng của các nhà kinh tế vẫn luôn có giá trị áp dụng cho đến hiện tại, đặc biệt là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo hiện nay vẫn được các nước tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào đời sống thực tiễn Việt Nam chúng ta tất nhiên không nằm trong ngoại lệ
Đặt trong bối cảnh hiện nay, từ việc nghiên cứu, phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối cũng như lợi thế so sánh, Việt Nam đã nhận thấy được những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh gì và sẽ cần bổ sung cơ cấu trong quá trình hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới ở những lĩnh vực nào? Bài nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ những câu hỏi nêu ra
ở trên và đưa ra một số định hướng giải pháp đối với Việt Nam nhằm vận dụng lý thuyết lợi thế tuyệt đối cũng như lợi thế so sánh trong bối cảnh phát triển hiện nay, nhất là việc
Trang 6phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam có thể đạt hiệu quả cao và góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu để hiểu được lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối là gì, từ việc phân tích
về lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối rút ra được điều gì cho Kinh tế đối ngoại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày nay, cần vận dụng các lý thuyết đó như thế nào để đem lại hiệu quả cao
- Đi sâu phân tích rõ thực trạng lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối đang được sử dụng trong Kinh tế đối ngoại Việt Nam như thế nào
- Đưa ra các định hướng cũng như giải pháp nhằm tận dụng lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối một cách hợp lý nhất để phát triển Kinh tế đối ngoại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối trong Kinh tế đối ngoại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng kết hợp các phương pháp định tính như : phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê
Trang 7CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LÝ
THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI 1.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
1.1.1 Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith
A Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương Mô hình kinh tế cổ điển cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảođược lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổ điển gọi đây là bức tranh đen tối của tăng trưởng Trong điều kiện đó A Smith cho rằng có thểgiải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương
Theo Smith, lợi thế tuyệt đối chính là chi phí sản xuất một sản phẩm A của quốc gia này (I) thấp hơn so với chi phí sản xuất của chính sản phẩm A ấy của một quốc gia khác (II) Khi đó, quốc gia này (I) sẽ tập trung vào sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp và đem trao đổi với quốc gia khác (II) Bằng cách đó, lao động của các quốc gia sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn và sản phẩm của cả hai quốc gia sẽ tăng lên
1.1.2 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Giả sử 1 giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6 mét vải, 1 giờ lao động ở Việt Nam chỉ sản xuất được 1 mét vải Trong khi đó 1 giờ lao động ở Mỹ thì chỉ sản xuất được 4 kg gạo, còn ở Việt Nam thì sản xuất được 5kg gạo Các số liệu được biểu thị ở bảng như sau:
Bảng 1: Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế tuyệt đối hai nước Việt Nam và Mỹ
Trang 8Việt Nam và ngược lại Việt Nam có năng suất lao động cao hơn về sản xuất gạo so với
Mỹ Do đó, Mỹ sẽ tập trung sản xuất vải để đem trao đổi lấy gạo của Việt Nam (xuất khẩu vải và nhập khẩu gạo) Còn Việt Nam sẽ tập trung sản xuất gạo và xuất khẩu để nhập khẩu vải
Nếu Mỹ đổi 6 mét vải lấy 6kg gạo của Việt Nam thì Mỹ được lợi 2kg gạo vì nếu 1 giờ sản xuất trong nước thì Mỹ chỉ sản xuất được 4kg gạo mà thôi Như vậy, Mỹ sẽ có lợi 2:4=1/2 giờ lao động
Việt nam sản xuất trong 1 giờ lao động chỉ được 1 mét vải, với 6m vải trao đổi được Việt Nam phải mất 6 giờ đồng hồ Nếu Việt Nam tập trung 6 giờ đó vào sản xuất gạo sẽ được
6 giờ x 5kg/giờ = 30 kg gạo Mang 6kg đem trao đổi lấy 6 mét vải, còn lại 24kg Như vậy, Việt Nam sẽ tiết kiệm được 24:5kg/h tương đương gần 5 giờ lao động Qua ví dụ trên ta thấy thực tế là Việt Nam có lợi nhiều hơn so với Mỹ Tuy nhiên điều này không quan trọng, mà quan trọng hơn là cả hai bên đều có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh và mang đi trao đổi
1.1.3 Ưu và nhược điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
1.1.3.1 Ưu điểm
- Mô tả được hướng chuyên môn hóa trong trao đổi giữa các quốc gia
- Giải thích được một phần lý do của thương mại quốc tế đối với một số mặt hànggiữa các nước đang phát triển với các nước phát triển
1.1.3.2 Hạn chế
- Chưa giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước
có lợi thế hơn hẳn những nước khác ở mọi sản phẩm hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả sản phẩm
1.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
1.2.1 Lý thuyết cổ điển về lợi thế so sánh của David Ricardo
Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá,
trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage) Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác
Trang 9Để xây dựng quy luật lợi thế so sánh của mình, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản và trực tiếp hơn:
- Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định
- Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia
- Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài
- Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động
- Công nghệ của hai quốc gia như nhau
- Chi phí sản xuất là cố định
- Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)
- Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
- Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế
- Chi phí vận chuyển bằng không
- Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá
Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm màquốc gia đó không có lợi thế so sánh
Theo quy luật này, ngay cả một quốc gia là "kém nhất" (tức là không có lợi thế tuyệt đối
để sản xuất cả hai sản phẩm) vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia khác được coi
là "tốt nhất" (tức là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm) Và quốc gia thứ hai lại càng có lợi hơn so với trước khi họ giao thương Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước
có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so vớicác nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vàophân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế
Xét ví dụ:
Bảng 2: Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế so sánh hai nước Việt Nam và Mỹ
Trang 10Sản phẩm Mỹ Việt Nam
Sự khác nhau giữa bảng 2 và 1 là ở chỗ bây giờ ở Việt Nam năng suất lao động chỉ sản
xuất được 2 kg gạo hay vì 5kg trước đây (ở bảng 1.).
Trong ví dụ này, Việt Nam không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai loại sản phẩm
là gạo và vải so với Mỹ
Từ số liệu trong bảng, có thể nhận thấy: lao động ở Việt Nam có năng suất lao động trongviệc sản xuất vải bằng 1/6 của Mỹ và có năng suất lao động trong việc sản xuất gạo bằng 1/2 của Mỹ Do đó, Việt Nam có lợi thế so sánh trong việc sản xuất gạo Ngược lại, dù nước Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại sản phẩm là vải và gạo nhưng vì lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải của Mỹ (6:1) lớn hơn lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo (4:2) nên Mỹ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải Hay nói cách khác, nước Mỹ có
cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải Việt Nam tuy không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn có lợi thế so sánh trong việc sản xuất gạo
Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ có lợi từ thươnrg mại quốc tế nếu nước
Mỹ chuyên môn hóa sản xuất vải và xuất khẩu một phần để đổi lấy gạo được sản xuất tại Việt Nam Còn Việt Nam, cùng lúc đó, sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo và xuất khẩu một phần để đổi lấy vải của Mỹ
1.2.2 Sự phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo
Nhận ra những hạn chế từ Lý thuyết cổ điển của D Ricardo, các nhà kinh tế học hiện đại tiếp tục nghiên cứu lợi thế so sánh dựa trên các cách tiếp cận khác hơn và mở rộng mô hình nghiên cứu
Những nhà kinh tế thế hệ sau và theo trường phái Ricardo (còn gọi là Ricardian) tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận khác hơn và mở rộng mô hình nghiên
Trang 11cứu so với Ricardo Tiêu biểu như Haberler, Heckscher - Ohlin và Paul Krugman
Haberler đã vận dụng lý thuyết chi phí cơ hội để nghiên cứu giải thích lợi thế so sánh Môhình nghiên cứu của Ricardo với một yếu tố sản xuất đó là lao động, nhưng đối với Heckscher - Ohlin nghiên cứu lợi thế so sánh với mô hình 2 yếu tố sản xuất, đó là lao động và vốn trong điều kiện chi phí cơ hội tăng Mô hình thương mại của Heckscher - Ohlin còn gọi là 2 x 2 x 2 (2 quốc gia, 2 sản phẩm và 2 yếu tố sản xuất) Paul R.Krugmanxem xét lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều hàng hoá
1.2.3 Ưu và nhược điểm của lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo
1.2.3.1 Ưu điểm
- Giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế giữa các quốc gia là do (i) các quốc gia buôn bán với nhau vì họ khác nhau; (ii) các quốc gia buôn bán với nhau để đạt đƣợc lợi thế nhờ quy mô sản xuất; (iii) lợi ích của thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh
RCAij = (Xij/Xi)/( ∑Xwj/Xw)
Trong đó:
- RCAij: Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu trong xuất khẩu của quốc gia i đối với sản phẩm j;
- Xij:Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của quốc gia i;
- Xi= ∑jXij: Tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia i;
- Xwj= ∑iXij:Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j toàn cầu;
- Xw=∑i∑jXij: Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu
Trang 12Nếu tỷ trọng xuất khẩu của nước i đối với sản phẩm k lớn hơn tỷ trọng sản phẩm đó trong tổng xuất khẩu của thế giới, tức là RCAij> 1 thì quốc gia i được coi là có lợi thế
so sánh đối với sản phẩm j Hệ số này càng lớn chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao Ngược lại nếu RCAij< 1 thì quốc gia i không có lợi thế so sánh về trong sản xuất, xuất khẩu sản phẩm j
Trang 13CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀ LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI
TRONG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM 2.1 Lợi thế tuyệt đối trong Kinh tế đối ngoại Việt Nam
Có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản
xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn
Lợi thế tuyệt đối được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước
2.1.1 Lợi thế về vị trí địa lý
+) Việt Nam (bao gồm các hải đảo) rộng khoảng 331 nghìn km2 đất liền và hơn 1triệu km2 biển tiếp giáp (thềm lục địa), tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông.Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nắng ấm, mưa nhiều, và độ ẩm cao đã tạo,hệ thống sông ngòi dày đặc(112 con sông
& suối) đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động nông,lâm, ngư nghiệp hay các hoạt động đa canh
+) Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Nam Á có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, vừa gắn liền với lục địa Á - Âu vừa tiếp giáp với Biển Đông và thông ra Thái Bình Dương, là vùng kinh tế sôi động bậc nhất thế giới
+) Nằm ven biển Thái Bình Dương, nhìn ra biển Đông, với 3.260km bờ biển Biển Đông
là cửa ngõ thông ra thế giới, là “mặt tiền”, là nhân tố đảm bảo lợi thế địa - chiến lược trọng yếu của nước ta, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Biển Đông nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải, hàng không huyết mạch của thế giới, thông thương giữa Ấn
Độ Dương với Thái Bình Dương, giữa châu Âu, châu Phi, Trung Cận Đông với các nước Đông Nam á và Đông Bắc á.Có thể nhận thấy rằng, vùng biển và dải ven biển nước ta có
vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng.Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông Trung Quốc có
Trang 1429/39 tuyến hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏnhập khẩu được vận chuyển bằng biển qua Biển Đông.Lượng xuất khẩu hàng hóa qua Biển Đông của các quốc gia Đông Nam Á là 55%, các quốc gia công nghiệp mới là 26%,
Úc là 40% Đối với Việt Nam, 100% hàng hóa xuất nhập khẩu đều phải đi qua Biển Đông
2.1.2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng
+) Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên trong đó khoảng 7 triệu héc-ta (ha) đất trồng,
13 triệu ha đất rừng Vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổ nhưỡng Việt Nam có tính chấtchung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao,
từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây.Tài nguyên nước mặt và nước ngầm của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới,trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới.Nước ta có tới 3/4 diện tích là đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích Rừng Việt Nam là kho tài nguyên quí báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, rừng làm cho không khí trong lành, điều hoà khí hậu.Tài nguyên sinh vật phong phú đa dạng
+) Mặc dù tài nguyên khoáng sản của Việt Nam không giàu, nhưng đa dạng, gồm khoảng
100 loại quặng kim loại và phi kim loại.Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của thế giới là Thái Bình Dương và Ðịa Trung Hải Công tác thăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá được trữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản Tiềm năng khai khoáng, chế biến và tinh chế là rất lớn Lợi thế này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định cần được khai thác hợp lý thì mới có hiệu quả
Các loại khoáng sản có quy mô lớn :
- Than: trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn ở độ sâu 300 m (1991), chủ yếu là ở Quảng Ninh, Thái Nguyên Năm 1996 lượng than khai thác là 10,9 triệu tấn than lộ thiên
- Boxit : trữ lượng vài tỉ tấn, hàm lượng quặng cao 40 - 43%, chất lượng tốt, tập trung nhiều ở Nam Việt Nam
- Thiếc: ở Tĩnh Túc - Cao Bằng có hàng chục ngàn tấn, khai thác còn ít
- Sắt: phân bố ở phía bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, ven sông Hồng Trữ lượng khoảng gần 1 tỉ tấn
- Apatit: trữ lượng trên 1 tỉ tấn (2015)
- Ðồng: trữ lượng khoảng 600 ngàn tấn, khai thác còn ít (2015)
Trang 15- Crom: trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, chất lượng không cao (2015)
- Vàng: phân bố nhiều ở Bồng Miêu - Bắc Lạng ; vàng sa khoáng quy mô nhỏ ở BắcCạn, Thái Nguyên, Hà Tuyên , trữ lượng khoảng 100 tấn (2015)
- Ðá quý: có nhiều ở sông Chảy (Yên Bái), Thanh Hóa, Nghệ An, Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Granat, Rubi, Saphia
- Ðá vôi: ở miền Bắc, miền Trung có trữ lượng lớn và miền Nam (Hà Tiên, trữ lượng 18 tỉ tấn số liệu năm 2015)
- Cát thủy tinh: phân bố dọc theo bờ biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận, trữ lượng
là 2,6 tỉ tấn (2015).+Dầu mỏ: tập trung trong các trầm tích trẻ tuổi ở đồng bằng ven biển và thềm lục địa Trữ lượng Vịnh Bắc Bộ là 500 triệu tấn, Nam Côn Sơn
400 triệu tấn, Ðồng bằng sông Cửu Long 300 triệu tấn, vịnh Thái Lan 300 triệu tấn Sản lượng của Việt Nam 1995 là 10 triệu tấn/năm Từ 1991 -1995 Việt Nam sản xuất 20 -23 triệu tấn dầu thô Nhiều mỏ dầu lớn như Bạch Hồ, Ðại Hùng đang được khai thác và sản lượng ngày càng tăng
+) Việt Nam có 3260 km bờ biển với vùng lãnh thổ rộng tới 226000 km2, diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 2 triệu ha trong đó 1 triệu ha nước ngọt; 0,62 triệu ha nước lợ và 0,38 triệu ha nước mặn Phần lớn diện tích này đã được đưa vào sử dụng để khai thác hoặc nuôi trồng thuỷ sản
Biển nước ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tế cao, 650 loài rong biển, 300 loài thân mềm, 300 loài cua, 90 loài tôm, 350 loài san hô… Biển nước
ta có trữ lượng cá khoảng 3,6 triệu tấn, tầng trên mặt có trữ lượng 1,9 triệu tấn, tầng đáy
có trữ lượng 1,7 triệu tấn Ngoài ra còn có 40.000 ha san hô ven bờ, 250.000 ha rừng ngập mặn ven biển có sự đa dạng sinh học cao Trong đó có 3 khu sinh quyển thế giới là: vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), rừng Sác Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) và vườn quốc gia Cát Bà (hải Phòng) Đồng thời nước ta còn có 290.000 ha triêu lầy, 100.000 ha đầm phá
+) Tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, độc đáo như thế, mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc khai thác, những năm gần đây ngành Du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Hơnthế, bằng tiềm năng và sản phẩm du lịch của mình, ngành Du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bè bạn khắp năm châu ngày càng hiểu biết và yêu mến đất nước Việt Nam
- Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó khoảng 2.500 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hoá, dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước, như đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu Đặc biệt quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ
Trang 16Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật - văn hoá khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn.
- Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh đặc sắc, độc đáo nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh như: Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh) ; động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hoá), Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) ; thác Bản Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thuỷ điện Sông Đà (Hoà Bình - Sơn La), hồ thuỷ điện Trị An (Đồng Nai),
hồ thuỷ điện Yaly (Tây Nguyên), hồ Thác Bà (Yên Bái), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, đã hai lần được UNESCO công nhận là di sản của thế giới), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), đảo Phú Quốc (Kiên Giang) Với 3.260 km bờ biển có 125 bãi biển, trong đó có 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh),
Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)
2.1.3 Lợi thế tuyệt đối về hàng nông sản xuất khẩu
- Theo Bộ Công Thương, 2011-2018 là giai đoạn tăng trưởng vượt bậc về kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam; trong đó, tăng trưởng xuất khẩu vượtmục tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Xuất khẩu trong 8 năm tăng gấp 2,51 lần (từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 243,48 tỷ USD vào năm 2018) Việt Nam đã nhanh chóng cải thiện vị thế trên bản đồ xuất nhập khẩu thế giới.Để đạt được những thành quả đó, Việt Nam đã tận dụng những lợi thế sẵn
có, thúc đẩy trao đổi hàng hóa đặc biệt là các hàng hóa trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam như : gạo, cafe, hồ tiêu,mây tre đan, xuất khẩu cá da trơn, Các hàng hóa xuất khẩu ngày càng được nâng cao về chất lượng, đa dạng vềchủng loại đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng của khách hàng
- Nước ta là một nước nông nghiệp, có đến 70% dân số lao động trong lĩnh vực này
Vì vậy, sản xuất nông nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, đóng góp khoảng 24% GDP, gần 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu Diện đất trồng lớn và nguồn lao động dồi dào đã giúp ngành nông lâm ngư nghiệp Việt Nam sản xuất ra được nhiều hàng hóa và xuất khẩu.Ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần quan trọng đưa Việt
Trang 17Nam từ cảnh thiếu ăn, đói nghèo phải nhập khẩu lương thực trở thành một trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới với lượng xuất khẩu trung bình hàng năm khoảng 5-6 triệu tấn gạo Thị trường gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 43-44 triệu tấn, trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 50% về sản lượng.Năm 2018, diện tính cà phê của cả nước rất lớn khoảng 720.000 ha tập trung chủ yếu ở Dak Lak , Lâm Đồng, Gia Lai ,Sơn La Đây cũng là nơi tập trung các nhà máy chế biến
- Thời gian qua các DN ngày càng chủ động tham gia tìm kiếm thị trường, tích cực hội nhập Theo Tổng cục Hải quan, năm 2018 có 85,6 nghìn DN có hoạt động xuấtnhập khẩu hàng hóa, trong khi năm 2017 mới chỉ có 79,8 nghìn DN Ước tính đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 100 nghìn DN xuất nhập khẩu hàng hóa… Tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) đều ghi nhận
sự tăng trưởng vượt trội, thị phần xuất khẩu tại các thị trường trọng điểm được khẳng định.Năm 2018 tăng trưởng xuất khẩu trên nhiều thị trường, đạt mức hai con số như: Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 41,2 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2017; Xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 24,74 tỷ USD, tăng 13,9%; Xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 18,85 tỷ USD, tăng 11,8%, xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 18,2 tỷ USD, tăng 22,8%.Nhiều mặt hàng xuất đã khẩu tận dụng tốt cơ hội từ cắt giảm thuế quan tại các thị trường có FTA để tăng trưởng Sau khi Hiệp định
AANZFTA có hiệu lực, với mức thuế suất thuế nhập khẩu về 0%, xuất khẩu điều sang Australia tăng trưởng bình quân đạt 12,9%/năm; Thủy sản đạt 6,9%/năm; Hồ tiêu xuất khẩu sang Nhật Bản tăng trưởng đạt 12,8%/năm; Cà phê đạt 8,0%/năm sau khi Hiệp định VJFTA có hiệu lực; hay hồ tiêu xuất khẩu sang Ấn Độ tăng trưởng đạt 14,3%/năm, thủy sản đạt 12,3% năm sau khi Hiệp định AIFTA có hiệu lực; sau khi Hiệp định Việt Nam - EAEU có hiệu lực, hạt điều xuất khẩu sang Liênbang Nga tăng 59,6%, rau quả tăng 19,9%, dệt may tăng 53,5%
2.2 Lợi thế so sánh trong Kinh tế đối ngoại Việt Nam
2.1.1 Lợi thế so sánh của Việt Nam
Nổi bật nhất về lợi thế so sánh của Việt Nam là chi phí sản xuất thấp và lực lượng lao động có tay nghề cũng như kinh nghiệm tốt
Thật vậy, Việt Nam là đất nước đang phát triển, có nhiều ưu đãi từ thiên nhiên và con người nên chi phí sản xuất các ngành nhìn chung là thấp Với bề dày lịch sử gần 1000