Do nhu cầu rất lớn của hai thị trường chính là Mỹ và EU đặt ra nhu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe tại hai thị trường này cộng hưởng với mức độ cạnh tranh cao trong và ngoài nước đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
PHẠM THỊ NGỌC ANH
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỤM NGÀNH CÁ TRA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
PHẠM THỊ NGỌC ANH
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỤM NGÀNH CÁ TRA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã ngành chính sách công: 60340402
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thành Tự Anh
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, các Quý Thầy Cô giảng viên và trợ giảng đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn Thạc sĩ Lê Thị Quỳnh Trâm và Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa đã giúp tôi trong quá trình tư duy và phân tích những vấn đề cụ thể liên quan đến đề tài tạo nền tảng quan trọng trong việc hình thành đề tài nghiên cứu
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đến Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình và đưa ra những lời khuyên quan trọng trong việc tổng hợp thông tin, phương pháp và tư duy phân tích trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu giúp tôi hoàn thiện nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đã hợp tác chia sẻ thông tin và cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu và tài liệu hữu ích để phục vụ cho đề tài nghiên cứu Cuối cùng, tôi xin gửi lòng tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã động viên và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Người thực hiện
Phạm Thị Ngọc Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH v
TÓM TẮT vi
CHƯƠNG 1 1
BỐI CẢNH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Bối cảnh ngành cá tra Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ 4
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4
2.1 Cụm ngành và xác định phạm vi cấu trúc cụm ngành 4
2.2 Khung phân tích mô hình kim cương của Micheal Porter 5
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 7
CHƯƠNG 3 8
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH 8
CỤM NGÀNH CÁ TRA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 8
3.1 Cụm ngành cá tra đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 8
3.2 Phân tích bốn yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL theo mô hình kim cương của Micheal Porter 14
3.2.1 Các điều kiện nhân tố sản xuất 14
3.2.2 Các điều kiện cầu 24
3.2.3 Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp 28
3.2.4 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các tổ chức có liên quan 33
CHƯƠNG 4 39
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 39
4.1 Kết luận 39
4.2 Gợi ý chính sách 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển
NAFIQAD Cục quản lý chất lượng nông lâm
SEAT Dự án phát triển nuôi trồng thủy
sản theo chuẩn thương mại
Sustaining Ethical Aquaculture Trade
Sở NN & PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển
thủy sản Việt Nam
Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2-1 Các nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh địa phương 6
Hình 3-1 Thị phần và thay đổi thị phần của một số cụm ngành xuất khẩu của Việt Nam so với thế giới năm 2014 10
Hình 3-2 Diện tích và năng suất cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2000–2014 11
Hình 3-3 Chuỗi cung ứng ngành hàng cá tra 12
Hình 3-4 Sơ đồ cụm ngành cá tra tại ĐBSCL 13
Hình 3-5 Bản đồ phân bổ vùng nuôi cá tra 14
Hình 3-6 Sơ đồ vị trí xây dựng cầu Cao Lãnh và Vàm Cống – Hai cây cầu lớn nhất thuộc dự án kết nối các trung tâm ĐBSCL 19
Hình 3-7 Cơ cấu chi phí sản xuất cá tra nguyên liệu vùng ĐBSCL năm 2010 20
Hình 3-8 Thị phần các công ty sản xuất thức ăn cá tra thương mại 21
Hình 3-9 Sản lượng nuôi trồng và xuất khẩu cá tra qua các năm 24
Hình 3-10 Sơ đồ chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL 24
Hình 3-11 Cơ cấu thị trường nhập khẩu cá tra của Việt Nam từ 2011-2015 26
Hình 3-12 Giá xuất khẩu trung bình của cá tra đông lạnh từ năm 2000-2012 28
Hình 3-13 Vị trí các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra 2015 29
Hình 3-14 Đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL bằng mô hình kim cương của Michael Porter 38
Trang 8TÓM TẮT
Cá tra Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là sản phẩm xuất khẩu chiến lược của Việt Nam với tiêu chuẩn chất lượng cao, giá cả cạnh tranh Năm 2014, chỉ riêng ngành cá tra đóng góp 22,56% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước, đạt khoảng 1.768 tỷ USD Mặc dù vậy, sự phát triển của ngành gặp phải nhiều khó khăn như vụ kiện chống bán phá, rào cản kỹ thuật bị áp đặt khắt khe, cạnh tranh xuống đáy Kể từ năm 2012 đến nay diện tích và sản lượng nuôi trồng giảm cho thấy năng suất ngành giảm và chưa có dấu hiệu tăng trở lại Những khó khăn đã cho thấy ngành cá tra tồn tại những điểm yếu về năng lực cạnh tranh không thể tự giải quyết mà cần có sự can thiệp của nhà nước để tồn tại và phát triển Mặc dù vậy, khi nghị định 36/2014/NĐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra của chính phủ ra đời vấn đề của ngành vẫn chưa được giải quyết triệt để Luận văn đánh giá và xác định vấn đề then chốt trong thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành nhằm
đề xuất giải pháp thích hợp nhất giúp tháo gỡ những khó khăn
Đề tài chủ yếu dựa trên Lý thuyết phân tích cụm ngành để nhận dạng cụm ngành cá tra
ĐBSCL Sau đó, tác giả tổng hợp các dữ liệu thứ cấp và thực hiện phân tích các yếu tố tại
bốn đỉnh của mô hình kim cương phát triển bởi Micheal Porter1 để tìm ra vấn đề then chốt
về năng lực cạnh tranh mà cụm ngành đang gặp phải
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu cá tra ĐBSCL xuất hiện dựa vào ưu đãi của điều kiện tự nhiên Nhờ nắm bắt được nhu cầu rất lớn của thị trường thế giới, biết tận dụng điều kiện tự nhiên, nguồn lao động giá thấp và dễ đào tạo cộng thêm sự hỗ trợ của chính phủ và các ngành có liên quan mà cụm ngành dần được hình thành và ngày càng phát triển Do nhu cầu rất lớn của hai thị trường chính là Mỹ và EU đặt
ra nhu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe tại hai thị trường này cộng hưởng với mức độ cạnh tranh cao trong và ngoài nước đã tạo áp lực giúp ngành cải thiện rất nhanh về chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cụm ngành cá tra cũng cho thấy cụm ngành còn tồn tại những điểm yếu đã và đang trở thành lực cản đối với sự phát triển
Một là, sự phụ thuộc lớn vào lợi thế tự nhiên và nguồn lao động giá thấp trong tương lai sẽ trở thành điểm yếu cản trở phát triển Bởi vì hiện nay nguồn tài nguyên nước của ĐBSCL
1
Competitiveness in the Food Industry, Porter 1990, p.127
Trang 9đang đứng trước thách thức biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong Không những vậy, ngành còn đứng trước thách thức gia tăng chi phí lao động do thiếu hụt nguồn lao động giá rẻ, thiếu kĩ năng khi phải cạnh tranh nguồn lao động với các ngành kinh tế khác trong bối cảnh Việt Nam bước qua thời kì “dân số vàng”
Hai là, sự phát triển của các yếu tố đầu vào cũng là yếu tố hỗ trợ cụm ngành không đáp ứng kịp thời nhu cầu tăng trưởng và mở rộng cụm ngành Trong hơn 15 năm qua, khi mà
cụm ngành phát triển với tốc độ rất nhanh thì cơ sở hạ tầng logistic và nguồn vốn tín dụng đều chậm phát triển về số lượng và chất lượng Tình trạng này là nguyên nhân của việc phát sinh chi phí cho doanh nghiệp, tạo động cơ cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Ba là, vấn đề cố hữu của nhiều ngành sản xuất tại Việt Nam là liên kết rời rạc sẽ là lực cản rất lớn cho sự phát triển Trong bối cảnh cạnh tranh độc quyền, việc các doanh nghiệp
hành động vì lợi ích riêng có thể dẫn đến nguy cơ phá hủy cụm ngành Cần hơn nữa sự liên kết trong xây dựng chiến lược, quản lý, thực hiện của các cơ quan có liên quan, các hiệp hội, các ngân hàng, các doanh nghiệp và hộ nuôi
Bốn là, một số nội dung trong Nghị định 36 (NĐ 36) của chính phủ chưa đúng và chưa hiệu quả NĐ 36 mặc dù có mục tiêu tốt nhưng quá trình xây dựng lại thiếu bài bản, thiếu
đánh giá và quan trọng nhất là thiếu sự tham gia của doanh nghiệp
Từ những luận điểm trên, các khuyến nghị chính sách và biện pháp khắc phục các hạn chế của cụm ngành xoay quanh vai trò của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) trong việc qui hoạch vùng nuôi, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) trong việc ban hành các qui định về sử dụng tài nguyên nước Ngoài ra, chính phủ cần tập trung nguồn lực nhằm phát triển các yếu tố đầu vào hỗ trợ cụm ngành là hệ thống vận tải biển và thiết bị cẩu phục vụ vận tải công suất lớn, đồng thời mở rộng các kênh xây dựng, phát triển và quản lý nguồn vốn thông qua các mô hình liên kết dọc Thúc đẩy liên kết cụm ngành thông qua việc hợp tác trong xây dựng chiến lược, quản lý, thực hiện của các cơ quan có liên quan, các hiệp hội, các ngân hàng, các doanh nghiệp và hộ nuôi Xây dựng khung pháp lý đầy đủ cho ngành bằng việc sửa đổi NĐ 36 theo đúng phương pháp và qui trình, nhất là phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia xây dựng chính sách
Trang 10CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh ngành cá tra Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
Trong quá trình phát triển của ngành thủy sản Việt Nam, ngành nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra được xem là ngành sản xuất có sự tăng trưởng ngoạn mục nhất Từ loài cá đánh bắt từ dòng sông Mekong, cá tra ĐBSCL đã trở thành sản phẩm cá nuôi ao đạt tiêu chuẩn cao, giá cả cạnh tranh, đáp ứng được yêu cầu của những khách hàng khó tính tại Mỹ và châu Âu Việc tăng cường hội nhập kể từ đầu thế kỉ 21 đã tạo cơ hội xuất khẩu cá tra sang nhiều thị trường và có những bước phát triển mạnh mẽ Từ năm 2000-2014, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm về diện tích 8,7%, sản lượng 31,6%, kim ngạch xuất khẩu 143,7%2 Năm 2014, chỉ riêng ngành cá tra đóng góp 22,56% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước, đạt khoảng 1.768 tỷ USD3 Tính đến tháng 8/2015, cả nước có 220 doanh nghiệp đăng ký khai hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá tra4
Tuy nhiên, quá trình phát triển của ngành cá tra không thực sự dễ dàng khi luôn gặp phải những khó khăn và trở ngại: vụ kiện chống bán phá giá kéo dài từ năm thứ ba sau khi cá tra bước chân vào thị trường Mỹ đến nay chưa chấm dứt; các thị trường chính liên tục áp đặt rào cản kỹ thuật khắt khe hơn dẫn đến tình trạng cấm nhập khẩu cá tra (tại EU, Nga,
Mỹ, Brazil,…); cạnh tranh gay gắt khiến các doanh nghiệp đua nhau giảm giá cá tra xuất khẩu khiến cả chất lượng và lợi nhuận giảm5 Những khó khăn đã cho thấy ngành cá tra tồn tại những điểm yếu về năng lực cạnh tranh khi mà những năm gần đây hộ nuôi dần bỏ
ao, doanh nghiệp dần bỏ xưởng Yếu tố cốt lõi biểu hiện năng lực cạnh tranh chính là năng suất của ngành liên tục giảm từ 217.48 tấn/ha (2012) xuống còn 190.37 tấn/ha (2014)6 Khi không tự giải quyết được các vấn đề trên, các doanh nghiệp đã kiến nghị đến các cơ quan quản lý có liên quan và thúc đẩy Chính phủ đã ban hành Nghị định 36/2014/NĐ-CP
về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra Với mục tiêu quản lý và phát triển ổn định
2
Tính toán dựa trên phụ lục 1
3
Báo cáo của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ (30/07/2015), Hội nghị Bàn giải pháp, chính sách thúc đẩy sản xuất
và tiêu thụ cá tra tại ĐBSCL
Trang 11ngành cá tra trên toàn chuỗi sản xuất, NĐ 36 là cơ hội để cải thiện hình ảnh, nâng cao vị thế sản phẩm cá tra Việt Nam, cải thiện năng lực cạnh tranh của ngành7 Tuy nhiên, một số điều khoản của Nghị định đã không giúp giải quyết được vấn đề của ngành mà còn gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp8
Tương lai của ngành cá tra đòi hỏi phải nghiên cứu và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành từ đó xác định rõ vấn đề then chốt về năng lực cạnh tranh mà cụm ngành đang gặp phải Luận văn kết hợp đánh giá ưu và nhược điểm của chính sách hiện tại rồi dựa vào kinh nghiệm đó đề xuất giải pháp thích hợp nhất giúp tháo gỡ những khó khăn của cụm ngành
Đề tài “Phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành cá tra ĐBSCL” dựa vào khung phân
tích bốn yếu tố của năng lực cạnh tranh theo mô hình kim cương của Michael Porter để phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL nhằm tìm ra vấn đề then chốt về năng lực cạnh tranh mà cụm ngành đang gặp phải Từ đó đề xuất chính sách hiệu quả nhất nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh cụm ngành cá tra ĐBSCL
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
1) Đâu là những vấn đề then chốt trong thực trạng năng lực cạnh tranh mà cụm ngành
cá tra ĐBSCL đang gặp phải?
2) Các cơ quan chính phủ và các hiệp hội cần có chính sách cần thiết gì để cải thiện năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL?
7
Ngọc Thủy (2014), Nghị định 36: Cần có lộ trình và thông tư hướng dẫn, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu
thủy sản Việt Nam, truy cập này 26/12/2015 tại địa chỉ 36-Can-co-lo-trinh-va-Thong-tu-huong-dan.htm
http://vasep.com.vn/Tin-Tuc/785_35873/Nghi-dinh-8
Đỗ Hương (2015), Công văn số 82/2015/CV-VASEP: Xem xét, sửa đổi Nghị định 36/2014/NĐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra để tiếp tục triển khai nghị định trong thời gian tới, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, truy cập này 26/12/2015 tại địa chỉ http://vasep.com.vn/Thu-Vien-Van-
bien-va-xuat-khau-ca-tra-de-tiep-tuc-trien-khai-Nghi-dinh-trong-thoi-gian-toi.htm
Trang 12Ban/73_40741/Cong-van-so-822015CV-VASEP-Xem-xet-sua-doi-Nghi-dinh-362014ND-CP-ve-nuoi-che-1.3 Phạm vi nghiên cứu
Cụm ngành sản xuất và xuất khẩu cá tra nuôi (Pangasius hypophhalmus) chủ yếu trên địa bàn các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu ở giai đoạn từ năm 2000-2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện phương pháp phân tích định tính dựa trên nền tảng khung phân tích Lý thuyết phân tích cụm ngành để nhận dạng ngành cá tra ĐBSCL, xác định phạm vi, cấu trúc
của cụm ngành để hiểu một cách sâu sắc hơn về từng yếu tố của cụm ngành Sau đó, sử dụng phương pháp tổng hợp, mô tả và phân tích những thông tin và số liệu diễn biến hoạt động trong 14 năm gần đây của ngành để phân tích, so sánh, đánh giá nhằm thấy rõ vấn đề
về năng lực cạnh tranh mà ngành cá tra ĐBSCL đang gặp phải
Bước thứ hai, phân tích các yếu tố tại bốn đỉnh của mô hình kim cương phát triển bởi Micheal Porter9 bao gồm các điều kiện nhân tố sản xuất, các điều kiện cầu, bối cảnh và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, các ngành ngành công nghiệp hỗ trợ và các tổ chức có liên quan để phát hiện điểm then chốt trong vấn đề năng lực cạnh tranh của cụm
ngành Việc phỏng vấn các chuyên gia trong ngành cá tra, các cá nhân làm việc lâu năm trong ngành bao gồm: kỹ sư, nhân viên kinh doanh, công nhân, hộ nông dân… giúp tăng cường tính xác thực của các nguồn thông tin và có được nhận xét đúng đắn về cụm ngành Sau khi xác định rõ vấn đề then chốt về năng lực cạnh tranh mà cụm ngành đang gặp phải
và kết hợp đánh giá ưu và nhược điểm của chính sách hiện tại, đề xuất giải pháp thích hợp nhất giúp tháo gỡ những khó khăn của cụm ngành trong bối cảnh hiện nay của cụm ngành
Trang 13CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Cụm ngành và xác định phạm vi cấu trúc cụm ngành
Micheal Porter - học giả nghiên cứu và đóng góp nhiều nhất cho việc phát triển khái niệm cụm ngành và xây dựng khung phân tích cho việc áp dụng khái niệm cụm ngành để nghiên cứu đến các vấn đề về năng lực cạnh tranh Ông đưa ra khái niệm thống nhất được sử dụng dựa trên các nghiên cứu năm 1990, 1998, 2008 về cụm ngành như sau:
Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các
doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau
Khái niệm cụm ngành nhấn mạnh vai trò của sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh
tế và tính liên kết Vị trí địa lý không chỉ thể hiện được vai trò quan trọng trong cạnh tranh
và phát triển cụm ngành dựa vào lợi thế so sánh mà còn dựa vào hệ sinh thái mà doanh nghiệp tồn tại Tính liên kết thể hiện sự tương hỗ và sự cộng hưởng của các tác động lan tỏa tích cực bởi các công ty sản xuất sản phẩm bổ trợ và các công ty cùng cạnh tranh và trở nên năng động hơn Như vậy, việc xác định cụm ngành về mặt địa lý và tính liên kết đóng vai trò quan trọng trong bước phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL Việc xác định phạm vi và cấu trúc cụm ngành (hay vẽ sơ đồ cụm ngành) đòi hỏi sự thấu hiểu đối với các bộ phận của cụm ngành, mối liên kết tương hỗ giữa chúng, cũng như mối liên hệ giữa bản thân cụm ngành đang nghiên cứu với các cụm ngành có liên quan Các thành phần của một cụm ngành điển hình bao gồm các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ, các ngành liên quan (về sản xuất, công nghệ và quan hệ khách hàng), các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu, và cơ sở hạ tầng)…
Theo Porter (2008, tr.216), để xác định các bộ phận của cụm ngành thì nên bắt đầu với một
(hoặc một số) công ty lớn đại diện cho hoạt động cốt lõi của cụm ngành, sau đó tìm kiếm
Trang 14các công ty/ tổ chức thượng nguồn ( ví dụ công ty cung cấp nguyên liệu) và hạ nguồn (hậu cần xuất khẩu, nhà bán lẻ) trong chuỗi theo chiều dọc
Bước tiếp theo là nhìn theo chiều ngang để xác định các ngành công nghiệp liên quan (các
cơ sở sản xuất sản phẩm, dịch vụ có tính chất bổ sung), hoặc sử dụng chung một số nhân tố đầu vào chuyên biệt, hoặc các kênh phân phối và truyền thông tương tự nhau
Sau đó, xác định các tổ chức cung cấp cho các thành viên của cụm ngành những kỹ năng
chuyên môn, công nghệ, thông tin, vốn, cơ sở hạ tầng hoặc những đầu vào thiết yếu khác
Cuối cùng, tìm kiếm các cơ quan thuộc chính phủ hoặc các thể chế, cơ chế quản lý có ảnh
hưởng đáng kể đến hoạt động của các thành viên trong cụm ngành.
2.2 Khung phân tích mô hình kim cương của Micheal Porter
Mô hình kim cương được hình thành dựa theo quan niệm của Porter (2008) về cạnh tranh
Mô hình kim cương đề cập đến bốn thuộc tính định hình nên năng lực cạnh tranh của cụm ngành: điều kiện về yếu tố sản xuất, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và
liên quan, chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa (Hình 2-1)
Porter (2008) cho rằng những lợi thế về nhân tố sản xuất chỉ là điều cần mà không là điều kiện đủ cho cạnh tranh Vai trò của đổi mới sáng tạo và sự khác biệt chiến lược ngày càng đóng vai trò then chốt Hiệu quả đạt được nếu chỉ dựa vào các nhân tố đầu vào (như lao động và tài nguyên rẻ) sẽ không đủ để duy trì thế vị cạnh tranh, mà lợi thế quyết định nằm
ở khả năng tăng cường tốc độ cải thiện hiệu quả nhờ gia tăng năng suất
Những điều kiện về nhân tố sản xuất: vị trí địa lý, nguồn lao động có kỹ năng, nguồn tài
sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Doanh nghiệp trong cụm ngành đạt được lợi thế cạnh tranh khi yếu tố sản xuất tạo điều kiện thuận lợi với chi phí thấp và chất lượng cao
Các điều kiện cầu: nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm và dịch vụ Kết cấu, quy mô
và hình mẫu tăng trưởng của cầu trong nước, mức độ đòi hỏi của khách hàng, cầu trong nước dự báo cầu ở các thị trường tiêu thụ Trường hợp nếu cầu trong nước chậm phảm ứng với những nhu cầu mới ở các nước khá thì các công ty nội địa sẽ bất lợi vì các quốc gia khác thích nghi sớm hơn và dễ dàng chiếm lĩnh thị trường
Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: những điều kiện ảnh hưởng đến
việc tạo lập, tổ chức và quản lý doanh nghiệp; đặc điểm của các đối thủ cạnh tranh Đây là nhân tố thường đóng vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành Cạnh
Trang 15tranh góp phần giúp công tu giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và cải tiến công nghệ
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các tổ chức có liên quan: các nhà cung ứng và phân
phối hỗ trợ ngành và cụm Vai trò của các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực cạnh tranh quốc tế của một quốc gia Giúp các công ty áp dụng các phương pháp và công nghệ mới từ nhà cung cấp Ngược lại, các công
ty góp phần ảnh hưởng đến nỗ lực cải tiến kĩ thuật công nghệ của nhà cung cấp và cũng là nơi thử nghiệm sản phẩm đầu ra Các tổ chức có liên quan trực tiếp đến ngành thường là các hiệp hội có vai trò đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp Đôi khi hiệp hội cũng có vai trò là kênh truyền dẫn chính sách Các chính sách của chính phủ tác động điều tiết hoạt động của cụm ngành theo định hướng
Hình 2-1 Các nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh địa phương
Nguồn: Porter (2008, tr 227)
Như vậy, phân tích NLCT của cụm ngành chính là phân tích, đánh giá các yếu tố trong
mô hình kim cương, phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố để tìm ra đâu là yếu tố then chốt ảnh hưởng lớn đến NLCT cụm ngành
Số lượng và chi phí của
nhân tố đầu vào:
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên con người
Tài nguyên vốn
Cơ sở hạ tầng vật chất
Cơ sở hạ tầng quản lý
Cơ sở hạ tầng thông tin
Cơ sở hạ tầng khoa học và công
nghệ
CỤM NGÀNH
Bối cảnh cạnh tranh và chiến lược
của doanh nghiệp
Các điều kiện
Các ngành CN hỗ trợ và các tổ chức có liên quan
Môi trường nội địa khuyến khích các dạng đầu tư và nâng cấp bền vững thích hợp
Cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ tại địa phương
Sự hiện diện của các nhà cung cấp nội địa có năng lực
Sự hiện hữu của ngành công nghiệp cạnh tranh có liên quan
Những khách hàng nội địa sành sỏi và đòi hỏi khắt khe
Nhu cầu của khách hàng (nội địa) dự báo nhu cầu ở những nơi khác
Nhu cầu nội địa bất thường
ở những phân khúc chuyên biệt hóa có thể được đáp ứng trên toàn cầu
Trang 162.3 Tổng quan các nghiên cứu trước
Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuẩn thương mại tại Việt Nam (Sustaining Ethical Aquaculture Trade 2009-2013), được thực hiện bởi trường Đại học Cần Thơ, tập trung vào nghiên cứu các bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị ngành hàng cá tra để tìm hiểu
và nhận diện các vấn đề phát triển bền vững liên quan đến việc sản xuất và thương mại ngành hàng này (trong phạm vi Việt Nam và Quốc tế) Dự án SEAT đã có đóng góp trong việc đánh giá nhận thức của các bên liên quan về yếu tố phát triển bền vững của ngành hàng cá tra trong tương lai Tuy nhiên, dự án còn hạn chế khi chưa có đánh giá về bối cảnh
và chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang kiểm soát việc sản xuất, kinh doanh cá tra cũng như chưa nêu được giải pháp cụ thể giúp các bên liên quan giải quyết các khó khăn của ngành trong thời điểm hiện tại
Nghiên cứu của Võ Thành Danh (2014), Thị trường cá tra Việt Nam – Phân phối thu nhập chuỗi – Giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu, đăng trên tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tr 38-44, cung cấp những số liệu về giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu, phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành cá tra Kết quả góp phần quan trọng trong việc giúp người nuôi và doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định sản xuất phù hợp, tầm quan trọng của việc liên kết giữa các bên liên quan Mặc dù vậy, việc đánh giá các quan điểm dựa trên góc nhìn khó khăn của người nuôi và doanh nghiệp sẽ dẫn đến hạn chế trong việc đưa ra các chính sách quản lý từ góc nhìn của thị trường Vì không phải lúc nào việc hỗ trợ về kinh phí hay kĩ thuật cũng đạt kết quả tốt Cần dựa vào bối cảnh và các góc nhìn khác nhau để đưa ra các khuyến nghị chính sách tốt cho toàn ngành
Như vậy, nghiên cứu Phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành cá tra ĐBSCL bổ khuyết cho các nghiên cứu trước bằng cách đánh giá dựa trên quan điểm cụm ngành và dựa trên bối cảnh cạnh tranh hiện tại Các hỗ trợ, khuyến nghị chính sách không những nhằm mục tiêu phát triển toàn cụm ngành trong tương lai mà còn giúp giải thích và giải quyết những khó khăn trước mắt của ngành
Trang 17CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH CÁ TRA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1 Cụm ngành cá tra đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
3.1.1 Sự hình thành và phát triển cụm ngành cá tra tại ĐBSCL
Dựa vào lợi thế tự nhiên, nghề nuôi cá tra hình thành ở bốn nước hạ lưu sông Mekong gồm Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Vào mùa mưa, nông dân vớt cá tra bột đổ về từ thượng nguồn sau đó đem thả vào ao để ương giống và nuôi thả cá tra với năng suất cao Một số nước khác trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng bắt đầu nuôi cá tra có hiệu quả từ những thập niên 70-80
Nghề nuôi cá tra tại ao cũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam tại ĐBSCL từ nửa đầu thế kỉ 20 với kỹ thuật nuôi hạn chế, sản lượng thấp Đến những năm 1964, hình thức nuôi cá bè bắt nguồn từ Biển Hồ (Campuchia) đã được áp dụng tại Châu Đốc với chỉ 4 bè nuôi Sau đó lan sang Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) Qua thập niên 70, do quá trình lưu dưỡng có đầu tư thức ăn cho cá ăn nên cá phát triển tốt và đạt hiệu quả, cộng thêm liên tục bổ sung kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật, nuôi cá bè đã trở thành ngành nghề hoàn chỉnh Sản lượng cá tra theo đó cũng gia tăng, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong hộ gia đình và nhu cầu tiêu dùng của địa phương Những năm 1980, hai doanh nghiệp Agrifish và Angitexim của An Giang bắt đầu thực hiện chế biến và tìm cách đưa sản phẩm cá tra sang
Úc và các quốc gia khác Nhờ giá rẻ và hương vị phù hợp thị hiếu, sản phẩm cá tra ngày càng được ưa chuộng ở thị trường nước ngoài thúc đẩy phong trào nuôi cá tra bè ở An Giang chiếm hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn10 Nhu cầu tiêu thụ cá tra ngày càng gia tăng, trong khi lượng cá bột vớt được ngày càng giảm do chịu tác động của biến đổi khí hậu và sự khai thác quá mức của con người Nghề nuôi cá bè bước sang giai đoạn mới do quy định của nhà nước về bảo vệ nguồn lợi thủy sản nên nghiêm cấm việc khai thác cá bột trên sông Vấn đề thiếu hụt cá giống đã thúc đẩy nghiên cứu sinh sản nhân tạo
10
Nguyễn Hữu Hiệp (2011), Chuyện kể về nghề nuôi cá basa trong bè ở An Giang, Sở Khoa học & Công
nghệ tỉnh An Giang, truy cập ngày 23/05/2015 tại địa chỉ 4_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3j3oBBLczdTEwN3DwsLA08jc0Njd18PI2NXQ_2CbEdFAHgZ0vc! /?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sokhcn/siteofsokhcn/tapchikhcn/2009/200904/2009041 6
Trang 18http://sokhcn.angiang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/0-thay cho nguồn cá bột vớt tự nhiên Năm 1996, các cơ quan nghiên cứu là Đại học Cần Thơ, RIA 2 và Công ty Agrifish – An Giang đã nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo Sinh sản nhân tạo cá tra đã giúp nghề nuôi cá bè phát triển rất nhanh, nguồn giống không còn lệ thuộc thiên nhiên cùng với việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học đã hạn chế được dịch bệnh, giảm tỉ lệ hao hụt, thức ăn sử dụng bằng loại thức ăn viên công nghiệp, hạn chết thất thoát phần thức ăn dư thừa, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn Không dừng lại đó, việc nghiên cứu thành công nuôi cá tra thịt trắng trong ao đã giúp nâng tầm và giá trị của sản phẩm Thành công này giúp đưa ngành nuôi trồng và chế biến cá tra xuất khẩu bước vào giai đoạn phát triển thịnh vượng Nhờ vậy, cũng trong năm năm này, công ty Agrifish đã có lô hàng xuất khẩu cá tra sang Mỹ đầu tiên
Năm 1998, việc Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới đã đẩy sản lượng cá tra xuất khẩu tăng đột biến vào thị trường Mỹ Việc mở rộng xuất khẩu vào thị trường này đã làm nhiều
hộ dân trên dọc các bờ sông Cửu Long tham gia vào nghề nuôi cá tra và thu được nhiều lợi nhuận Từ đó, cụm ngành cá tra dần được hình thành dọc hai dòng sông Tiền, sông Hậu và phát triển mạnh tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long và Tiền Giang Tiềm lực lớn của ngành cá tra cộng hưởng với đà phát triển của đất nước đã khiến cho ngành cá tra tăng trưởng thần kỳ Không chỉ tại Việt Nam mà trên thế giới, sản phẩm cá tra xuất xứ từ ĐBSCL đã được nhắc đến nhiều hơn và lượng tiêu thụ cũng tăng rất mạnh Chỉ trong vòng 8 năm kể từ năm 2000, diện tích ao nuôi tăng 2,81 lần từ mức 2.123 ha lên đến 5.973 ha; sản lượng cá nuôi trong những năm này tăng 13 lần11 Những con số trên đã cho thấy được mức độ tăng trưởng và sức lan tỏa của cụm ngành cá tra tại ĐBSCL
Nếu xét ba thước đo về xuất khẩu của cụm ngành Thứ nhất, xét về giá trị kim ngạch xuất khẩu (giá trị tuyệt đối) Theo số liệu của UN Comtrade năm 2014, kim ngạch xuất khẩu cá
tra Việt Nam từ ĐBSCL đạt hơn 1,720 tỷ USD12 Thứ hai, xét về tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn cầu Cũng theo UN Comtrade, tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu cá tra chiếm 90.3% tổng kim ngạch xuất khẩu trên toàn thế giới13
Thứ ba, xét về thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn cầu Tính toán từ những số liệu của UN Comtrade, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu
Trang 19trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn cầu tăng 0.53 điểm % so với năm 201314 Như vậy có nghĩa là, ngành cá tra ĐBSCL đã được chứng minh là một cụm ngành xuất khẩu lớn của quốc gia cần được chú trọng phát triển
Để thể hiện rõ tầm quan trọng và tiềm năng phát triển của ngành cá tra ĐBSCL ta thực hiện so sánh về thị phần và thay đổi thị phần kim ngạch xuất khẩu của cụm ngành cá tra ĐBSCL với các cụm ngành xuất khẩu khác trong nước Ba cụm ngành khác được chọn để
so sánh là lúa gạo, tôm và cây ăn quả Đây là ba cụm ngành nông nghiệp và thủy sản xuất khẩu nổi bật trong nước dựa trên lợi thế tự nhiên của quốc gia
Hình 3-1 Thị phần và thay đổi thị phần của một số cụm ngành xuất khẩu
của Việt Nam so với thế giới năm 2014
Nguồn: Tính toán số liệu từ UN Comtrade (Phụ lục 3)
Dựa vào hình 3-1 về thị phần và thay đổi thị phần của một số cụm ngành xuất khẩu của Việt Nam so với thế giới năm 2014 ta thấy được ngành cá tra đầy tiềm năng và thực sự quan trọng đối với Việt Nam Nếu như cây ăn quả mới chỉ là một cụm ngành nhỏ với năng lực xuất khẩu giới hạn thì lúa gạo, tôm và cá tra lại mang lại kim ngạch xuất khẩu rất cao15 Nhưng khi so sánh thị phần xuất khẩu của năm 2014 và năm 2012 thì cá tra đang chứng tỏ được lợi thế cạnh tranh của mình với 90,3% thị phần thế giới và thay đổi thị phần tăng 0.99 điểm % trong khi tôm và lúa gạo chỉ chiếm khoảng 10% thị phần thế giới và đang có xu hướng sụt giảm mạnh16
Trang 20Nhiều quan điểm thống nhất cho rằng yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia là năng suất Tuy nhiên tình hình hoạt động trong những năm gần đây cho thấy ngành cá tra ĐBSCL đang gặp vấn đề về giảm năng lực cạnh tranh Cụ thể, năng suất trong 3 năm gần
đây (2012-2014) có xu hướng giảm và chưa có dấu hiệu tăng trở lại (hình 3-2) Sự sụt giảm
này bao gồm cả sự sụt giảm về diện tích và sản lượng nuôi trồng17 Nguyên nhân dẫn đến việc sụt giảm năng suất gồm nguyên nhân khách quan từ thị trường bên ngoài và nguyên nhân chủ quan do nội lực yếu Phần phân tích các yếu tố theo mô hình kim cương giúp chỉ
ra những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm này để có biện pháp khắc phục hiệu quả
Hình 3-2 Diện tích và năng suất cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2000–2014
Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các Sở NN & PTNT
và Tổng cục thủy sản giai đoạn 2000-2014 (Phụ lục 1)
3.1.2 Sơ đồ cụm ngành cá tra ĐBSCL
Chuỗi cung ứng của ngành hàng cá tra theo Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuẩn thương mại SEAT trong nghiên cứu 4 năm tại Việt Nam được thực hiện bởi đại học Cần Thơ đã chỉ ra phân lớp chuỗi giá trị ngành hàng cá tra bao gồm 6 nhóm: nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào (giống, thức ăn, hóa chất), nhà sản xuất (cá nhân, hợp đồng, công ty), thương lái thu mua, cơ sở chế biến (chế biến xuất khẩu thủy sản, chế biến phụ phẩm), công
ty thương mại (đại lý, nhà xuất khẩu), nhà bán lẻ (trong nước, nước ngoài) (Hình 3-3)
17
Phụ lục 1
Trang 21Hình 3-3 Chuỗi cung ứng ngành hàng cá tra
Nguồn: Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuẩn thương mại giai đoạn 2009-2013 18
Bên cạnh đó, các tổ chức hỗ trợ cho cụm ngành còn cung cấp cho các thành viên của cụm ngành những kỹ năng chuyên môn như trường Đại học Cần Thơ, RIA 2; các ngân hàng và các công ty bảo hiểm có vai trò cung cấp vốn
Từ những buổi đầu hình thành ngành cá tra đến khi đạt được sự phát triển có vai trò rất lớn của các cơ quan thuộc chính phủ, đặc biệt là Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN & PTNT) Hiện nay, Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của ngành cá tra để tương xứng với thế mạnh và tiềm năng vốn có Trong đó phải kể đến vai trò của các cơ quan khuyến nông thuộc các Sở NN&PTNT, các cơ quan kiểm định chất lượng như Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (NAFIQAD), các cơ quan xúc tiến xuất khẩu thuộc
Bộ Công thương
Trong thời điểm hiện tại, sự phát triển của cụm ngành không thể bỏ qua thành phần rất quan trọng là các hiệp hội (VASEP, VPA) VASEP đã song hành cùng sự phát triển của cụm ngành từ khi cụm ngành mới được hình thành Vai trò của doanh nghiệp từ đây được khẳng định và góp phần kết nối doanh nghiệp và chính phủ
Các nhân tố được xác định trong sơ đồ cụm ngành cá tra tại ĐBSCL có sự đóng góp khác nhau đối với sự hình thành và phát triển của cụm ngành Việc đánh giá vai trò đóng góp của các nhân tố theo các mức độ khác nhau nhằm phát hiện nhân tố có vai trò quan trọng
18
Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuẩn thương mại (2009-2013), Phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành hàng cá tra ở Việt Nam
Trang 22trong việc phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh để có tác động thích hợp Do đặc thù khó khăn trong việc thu nhập số liệu nghiên cứu của ngành nên những đánh giá dựa chủ
yếu dựa trên kết quả phỏng vấn cá nhân (Hình 3-4)
Hình 3-4 Sơ đồ cụm ngành cá tra tại ĐBSCL
Nguồn: đánh giá của tác giả dựa trên Nguyễn Xuân Thành (2015),
Sơ đồ cụm ngành cá tra ở An Giang & Đồng Tháp, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Ao nuôi Thức ăn Thuốc
Dịch vụ logistic
Thiết bị SX
Điện, nước Bao bì
RIA 2
NAFIQAD
Bảo hiểm Ngân hàng
Trường ĐH, CĐ
Bộ NN & PTNT
Bộ TN & MT
Sở NN & PTNT
Trang 233.2 Phân tích bốn yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra ĐBSCL theo mô hình kim cương của Micheal Porter
3.2.1 Các điều kiện nhân tố sản xuất 3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Sông MeKong, một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Hạ lưu sông Mekong, nhất là tại Việt Nam là nơi có nguồn cá tra tự nhiên và phong phú là điều kiện rất thuận lợi
để phát triển nghề nuôi cá tra truyền thống Theo đánh giá của Dự án Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (2008) do
Cục nuôi trồng thủy sản thực hiện dưới sự tư vấn của Phân viện quy hoạch thủy sản phía
Nam: “Điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL có những thuận lợi và khó khăn để phát triển nghề nuôi cá tra” 19 Những đánh giá quan trọng của dự án về điều kiện tự nhiên như sau:
Hơn 30% diện tích của ĐBSCL là đất phù sa, được xem là vùng đất thích nghi cao đối với việc nuôi cá tra Loại đất này phân bố tập trung ở các vùng dọc sông Hậu, sông Tiền, thuộc địa phận các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long… hình
thành vùng nuôi cá tra rõ rệt (Hình 3-5)
Hình 3-5 Bản đồ phân bổ vùng nuôi cá tra
Nguồn: Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuẩn thương mại giai đoạn 2009-2013
19
Bộ NN & PTNN (2008), Dự án Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm
2010 và định hướng đến 2020
Trang 24Tuy nhiên, gần phân nửa diện tích vùng ĐBSCL là vùng đất nhiễm phèn với nhiều mức độ khác nhau, trong đó đất phèn hoạt động là 1.178.396 ha (chiếm khoảng 30% diện tích ĐBSCL), được xem là vùng không thích hợp đối với nuôi cá tra
Biên độ giao động của thủy triều có tác động cả về mặt môi trường nước lẫn mặt kinh tế Biên độ triều càng lớn, khả năng tải chất thải của sông-kênh-rạch cao, đồng thời giảm được đáng kể chi phí cho việc cấp và thoát nước cho ao nuôi cá tra Vùng bán đảo Cà Mau và Tứ Giác Long Xuyên có điều kiện rất hạn chế để phát triển nuôi cá tra Trong khi đó, các vùng dọc hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, mức độ thích hợp đối với nuôi cá tra tỷ lệ nghịch với khoảng cách đến biển Đông Vùng có các kênh trục ngang dẫn trực tiếp từ 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu, ngoài việc xét khoảng cách đến biển Đông thì mức độ thích hợp đối với việc nuôi cá tra cũng tỷ lệ nghịch với khoảng cách đến hai con sông nói trên
Sự xâm nhập mặn là một trong những cản trở đối với ngành cá tra Độ mặn lớn hơn 4% sẽ làm giảm sản lượng cá tra nuôi trồng Đi dọc theo hướng các nhánh sông Cửu Long, độ mặn tỉ lệ nghịch với khoảng cách đến biển Đông và phụ thuộc vào lưu lượng nước phân bố giữa các nhánh sông cũng như chế độ lũ Nhưng đối với các vùng nhiễm mặn nhẹ (dưới ngưỡng tối ưu hoặc vùng có độ mặn cao vào mùa cạn nhưng lại ngọt trong mùa lũ lại là vùng có ưu thế hơn trong việc nuôi cá tra, so với các vùng ngọt hoàn toàn Ưu thế này được thể hiện qua việc cá ít bị dịch bệnh do môi trường mặn kìm hãm tác nhân gây bệnh cho cá
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi nhưng các yếu tố như phèn, mặn, thủy triều đang là các tác nhân trực tiếp có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành cá tra Các yếu tố khi có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực có thể dẫn đến tác hại làm thu hẹp diện tích, sản lượng nuôi trồng, gia tăng dịch bệnh Sự thay đổi nói trên còn có thể dẫn đến làm giảm năng suất
và thay đổi phân bổ vùng nuôi, làm thay đổi tình hình sản xuất tại các địa phương
Vấn đề về điều kiện tự nhiên cho thấy có sự liên quan giữa số phận của ngành cá tra trong bối cảnh Trung Quốc, Lào, Campuchia thực hiện các dự án đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong Tuy chưa có báo cáo chính xác về mức độ thay đổi của các yếu tố phù sa, chế độ dòng chảy hay các yếu tố phèn, mặn, thủy triều khi lần lượt từng dự án đập thủy điện được hoàn thành Nhưng về mặt lập luận logic thì dù ít hay nhiều, việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong sẽ làm giảm lượng phù sa, thay đổi chế độ dòng chảy và lũ, kéo theo đó là những thay đổi về phèn, độ mặn Vì vậy, nếu muốn giữ vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành cá tra, cần phải có những chính sách gìn giữ và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của vùng
Trang 253.2.1.2 Lao động
Nhìn chung, ĐBSCL là nơi có điều kiện nhân lực thuận lợi cho việc phát triển các ngành nghề thâm dụng lao động Sơ bộ 2014, ĐBSCL có số dân khoảng 17.517,6 nghìn người trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tại vùng ĐBSCL là 10.288,6 nghìn người và chỉ có 10,3% trong số này là lao động đã qua đào tạo20 Đây chính là mặt hạn chế lớn nhất của vùng trong việc mở rộng qui mô và áp dụng các kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất Tính đến cuối năm 2014, ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra ĐBSCL giải quyết việc làm cho trên 200.000 lao động21
, góp phần chuyển dịch lao động nhàn rỗi, nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập
Về cơ cấu lao động: ngành cá tra thâm dụng lao động chủ yếu trong khâu chế biến cá tra
đông lạnh xuất khẩu22
Theo Cục nuôi trồng thủy sản:
Lao động sản xuất giống chiếm từ 8-16% so với toàn bộ lao động nghề nuôi cá tra trong vùng, tập trung chủ yếu ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp
Đối với giai đoạn nuôi cá tra, trung bình trên 1 hecta nuôi cá tra thương phẩm cần khoảng 3-5 lao động tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật nuôi và suất đầu tư Lao động nuôi cá trong ngành thường có độ tuổi trung bình thấp (từ 20-35 tuổi), chủ yếu là lao động nam, hầu hết đều được tham gia các lớp tập huấn do Chi Cục thủy sản, trung tâm khuyến ngư tổ chức hay học hỏi kinh nghiệm thông qua các hộ nuôi đạt kết quả trong vùng
Lao động thời vụ bao gồm lao động cung cấp thức ăn, thuốc hóa chất, lao động cải tạo ao, lao động thu hoạch… số lao động này tương đối lớn Tuy nhiên, do thời gian lao động trong vụ ít nên lao động dịch vụ ước tính bằng khoảng 10% tổng số lao động nuôi và sản xuất giống
Như vậy, nhóm lao động ở khâu chế biến chiếm phần lớn trong ngành cá tra Kết quả phỏng vấn công nhân của một số nhà máy cho thấy, so với các ngành, nghề thâm dụng lao động tại các nhà máy ở ĐBSCL như dệt, lông vũ, giày da thì ngành chế biến cá tra xuất khẩu dễ xin việc hơn Các nhà máy chế biến cá tra thường xuyên phải tuyển công nhân do tình trạng công nhân có xu hướng nghỉ việc Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do
Trang 26thời gian làm việc quá dài dẫn đến quá sức (thời gian làm việc từ 10-12 tiếng mỗi ngày chưa kể tăng ca) trong khi đó mức lương và các chế độ đãi ngộ chưa được cho là xứng đáng23
Kết quả còn cho thấy, các công nhân nhất là công nhân nữ có xu hướng làm việc trong thời gian ngắn từ 1-3 năm và khi nghỉ việc thường không có ý định quay trở lại ngành
Theo phỏng vấn một số doanh nghiệp, giảng viên đào tạo nghề và người lao động thì vấn
đề lao động chế biến không phải là một vấn đề quá khó khăn của ngành cá tra trong thời điểm hiện tại Một là, lực lượng lao động thất nghiệp nhiều, đối tượng lao động cần thiết chủ yếu là lao động phổ thông nên doanh nghiệp không khó để tuyển dụng Hai là, doanh nghiệp có thể đào tạo trong thời gian ngắn là có thể đáp ứng được yêu cầu công việc mà không cần đòi hỏi được đào tạo qua tại các cơ sở đào tạo nghề
Theo lời ông Nguyễn Thế Hương24: “Thời gian đào tạo trung bình đối với một công nhân trong nhà máy chế biến cá tra là khoảng 2 tháng Riêng công đoạn khó nhất là fillet cá có yêu cầu tỷ lệ thịt còn lại trên xương không được quá 1% thì thời gian để có thể thuần thục
kỹ năng cho một công nhân là 5-6 tháng.”
Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, chưa có sự cạnh tranh gay gắt trong việc tìm kiếm lao động Nhưng trong tương lai gần lực lượng lao động thất nghiệp và lao động ít kĩ năng vùng nông thôn sẽ ngày càng giảm sẽ gây khó khăn cho sản xuất Chính vì vậy, các ngành công nghiệp chế biến thâm dụng lao động như chế biến cá tra cần có chiến lược về sử dụng, thu hút lao động và giữ lao động làm việc trong ngành
3.2.1.3 Cơ sở hạ tầng
Hiện nay, do không có tàu biển container chở trực tiếp tại trung tâm ĐBSCL nên các container cần phải vận chuyển tập trung tại cảng xuất ở TP Hồ Chí Minh Sau đó, các container được chất lên tàu để trung chuyển đến cảng quốc tế tại Singapore hoặc Hong Kong để di chuyển bằng các tàu có công suất lớn hơn Về mặt chính sách, chính phủ khó tác động được đến năng lực vận chuyển ở phạm vi nước ngoài Nên khi đánh giá về điều kiện giao thông của ngành chủ yếu đánh giá về giao thông nội địa, tức là hệ thống giao thông kết nối ĐBSCL với TP Hồ Chí Minh Theo đánh giá từ các doanh nghiệp và các
Trang 27chuyên gia, chi phí giao thông nội địa chiếm tỷ lệ thấp nên không có tác động lớn đối với ngành cá tra
Với giá xuất khẩu cá tra trung bình những năm gần đây vào khoảng 2,5 USD/kg25 thì 1 container có giá thành 1.250.000.000 VND Trong đó chi phí vận chuyển nội địa vào khoảng 10.000.000 VND26, chiếm tỷ lệ 0.8%
Mặc dù vậy, chi phí vận chuyển là một trong những yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm cá tra nên ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành Do đó, cần có cái nhìn tổng quát để đánh giá tình hình vận tải nội địa của ngành hiện nay
Theo ông Nguyễn Thanh Triều27: “Có hai hình thức vận chuyển container cá từ các địa
phương ĐBSCL: vận tải đường bộ, vận tải đường thủy (bằng xà lan) Chi phí vận chuyển bằng đường thủy thường chỉ bằng 2/3 chi phí vận chuyển đường bộ Nhưng bù lại, thời gian vận chuyển lại kéo dài gấp 4 lần”
Nếu như so sánh với vận chuyển đường bộ thì vận chuyển bằng xà lan có được lợi ích về giá thành Tuy nhiên, hiện tại chỉ có các doanh nghiệp tại hai địa phương là An Giang và Đồng Tháp mới có cơ hội được vận chuyển bằng container Các địa phương còn lại buộc phải vận chuyển bằng xe đầu kéo Nguyên nhân là do lượng hàng xuất khẩu An Giang và Đồng Tháp đủ nhiều để phù hợp với công suất mỗi lượt vận chuyển Các địa phương còn lại do sản lượng xuất khẩu ít gây phát sinh chi phí gom hàng và chi phí thời gian Một hạn chế nữa của việc vận chuyển bằng xà lan hiện nay là dù có đủ công suất vận chuyển container đến các cảng ở khu vực TP Hồ Chí Minh nhưng hàng hóa vẫn bị ứ đọng tại cảng
do thiếu cầu cảng và thiếu thiết bị cẩu từ xà lan sang mạn tàu lớn Sự thiếu hụt này làm phát sinh thêm chi phí thời gian cho doanh nghiệp trong kho vận và lưu bãi28 và gây áp lực lên giao thông đường bộ
Đỗ Loan, Vận chuyển container: thừa xà lan, thiếu đầu kéo, Cổng thông tin Logistic Việt Nam, truy cập
ngày 22/03/2016 tại địa chỉ sa-lan-thieu-xe-dau-keo.vlr
Trang 28http://www.vlr.vn/vn/news/img/chuoi-cung-ung/574/van-chuyen-container-thua-Hình 3-6 Sơ đồ vị trí xây dựng cầu Cao Lãnh và Vàm Cống – Hai cây cầu lớn nhất
thuộc dự án kết nối các trung tâm ĐBSCL
Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/104384/Hon-3000-ti-dong-xay-cau-Cao-Lanh.html
Chính phủ đã thực hiện nhiều công trình giao thông đường bộ để kết nối ĐBSCL với hệ thống cảng biển nhắm mục tiêu phát triển kinh tế Theo kế hoạch thì cuối năm 2015 cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền khánh thành, và dự án cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu dự
kiến hoàn thành vào năm 2017 (hình 3-6)29 Với kinh phí đầu tư cao, tải trọng lớn, số làn đường nhiều, hai dự án này giúp thu hẹp khoảng cách vận chuyển, giảm chi phí góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp
3.2.1.4 Nguồn lực
Theo số liệu của Võ Thành Danh (2014), trong cơ cấu chi phí giá thành cá tra nguyên liệu vùng ĐBSCL thì chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất 86%, giống chiếm 6,2%, thuốc
thú y thủy sản chiếm 2,5%, các khoản khác chiếm từ 0,3-2% (Hình 3-7) 30 Như vậy, thức
ăn là nguồn lực quan trọng, có ảnh hưởng lớn và xuyên suốt quá trình nuôi cá
29
Hữu Công (2015), 9 cây cầu giúp ĐBSCL cất cánh, Tin nhanh Việt Nam, truy cập ngành 24/03/2016 tại địa chỉ http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/9-cay-cau-giup-dong-bang-song-cuu-long-cat-canh-3272736.html 30
Võ Thành Danh (2014), Thị trường cá tra Việt Nam – Phân phối thu nhập chuỗi – Giá thành sản xuất cá tra nguyên liệu, tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tr 38-44
Trang 29Hình 3-7 Cơ cấu chi phí sản xuất cá tra nguyên liệu vùng ĐBSCL năm 2010
Nguồn: Võ Thành Danh (2014), Thị trường cá tra Việt Nam – Phân phối thu nhập chuỗi – Giá thành sản
xuất cá tra nguyên liệu, tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tr 38-44
Xét về mặt sản lượng, hiện nay tại Việt Nam sản lượng thức ăn công nghiệp sử dụng trong nuôi cá tra thương phẩm không gặp tình trạng thiếu hụt Tổng lượng thức ăn công nghiệp
sử dụng trong nuôi cá thương phẩm đạt 1,8 triệu tấn Trong đó sản lượng thức ăn từ các doanh nghiệp kinh doanh thức ăn đạt 1,1 triệu tấn, dẫn đầu thị phần bán ra thị trường là các
doanh nghiệp Việt Thắng, Proconco, Greenfeed, Cỏ May (Hình 3-8) 4 công ty chiếm được
thị phần lớn là do có sự liên kết dọc với công ty cá theo hình thức công nợ: Việt Thắng và Hùng Vương,… Còn lại, sản lượng thức ăn từ các doanh nghiệp có nhà máy tự chế biến đạt 700.000 tấn, chiếm thị phần lớn là Hùng Vương, Vĩnh Hoàn, Biển Đông, Gò Đàng, Cửu Long31
Xét về mặt chất lượng, các nhà máy sản xuất thức ăn cho cá tra đều đạt chuẩn ISO và liên tục cải tiến chất lượng, phục vụ hộ nuôi Tuy nhiên, hệ thống phân phối nhiều cấp và nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn cho cá phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài là hạn chế lớn của ngành thức ăn Theo ông Huỳnh Tấn Phát32: “Một phần vì Việt Nam chưa tận dụng được nguồn nguyên liệu dồi dào trong nước như cám gạo, còn các nguyên liệu khác như bắp và bã đậu nành thì nhập khẩu vì giá nhập khẩu rẻ hơn”
Ông Huỳnh Tấn Phát cũng đánh giá rằng: “Doanh nghiệp có đủ trình độ và khả năng để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt Vấn đề thức ăn hiện nay không do chất
Trang 30lượng mà do giá Cần phải giảm giá thức ăn để giảm giá thành sản xuất cho người nuôi để nâng cao năng lực cạnh tranh”
Hình 3-8 Thị phần các công ty sản xuất thức ăn cá tra thương mại
Nguồn: Biển Lộc (2016), Thị phần thức ăn cá tra 2015
hộ nuôi và các doanh nghiệp tự lai tạo với cá giống có nguồn gốc từ Biển Hồ (Campuchia)33
Năm 2014, vùng ĐBSCL có hơn 230 cơ sở sản xuất giống cá tra, trên 4.000 hộ ương dưỡng với diện tích hơn 2.250 ha, sản xuất được hơn 2,0 tỷ cá tra giống, cung cấp đủ cho nhu cầu thả nuôi trong vùng34
PGS Dương Nhựt Long 35
nhận định “Nhìn chung, hệ số di truyền của đàn cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện tại cao Tuy nhiên, trong khâu ương giống cá tra nếu làm tốt các bước như: chăm sóc cá bố mẹ, xử lý đảm bảo chất lượng nguồn nước, đảm bảo sinh khối thức ăn tự nhiên thì tỷ lệ sống của cá tra giống có thể lên tới trên 18%”
Trang 31Vấn đề tồn tại của khâu sản xuất giống cá tra hiện nay là tỉ lệ hao hụt trong khâu ương nuôi cao Tỉ lệ sống của cá bột lên cá giống chỉ đạt 7-12,6% Tỉ lệ hao hụt trung bình sau 15 ngày thả nuôi thịt 13% (có đợt hao hụt lên đến 40%) Giảm tỉ lệ hao hụt sẽ góp phần giảm giá thành cá tra giống, giảm thiệt hại khi thả nuôi, tăng khả năng cạnh về giá cũng như làm giảm tỉ lệ bệnh tật, tăng chất lượng sản phẩm đầu ra Tuy nhiên, hiện nay hộ nuôi cá và doanh nghiệp chưa chú trọng tới việc giảm tỷ lệ hao hụt cá tra giống khi thả Nguyên nhân
do tập quán nuôi thả cá bột vớt từ sông đã tạo thành thói quen sản xuất Hơn nữa, chi phí giống cá thường chiếm một tỷ phần rất nhỏ (từ 5-8% giá thành cá tra nguyên liệu) và lợi ích mang lại khi đầu tư giảm tỉ lệ giao hụt chưa thực sự rõ ràng
Về vốn
Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất, kinh doanh Nếu tính theo số liệu năm
201336, diện tích ao nuôi đạt 5555 ha thì số vốn cần thiết trong cả năm ngành cần khoảng 38.885 tỷ đồng Số liệu từ Hiệp hội cá tra cho thấy, đến tháng 9/2013 dư nợ của ngành cá tra đạt 23.173 tỷ đồng, doanh số cho vay đạt 34.713 tỷ đồng Như vậy, với tỷ lệ lần lượt đạt 60% và 90% cho ta thấy được vốn tín dụng dành cho ngành chỉ đảm bảo ở mức tương đối Trên thực tế, con số này còn được cho là thấp hơn
Đối với ngành cá tra, người nuôi cá đòi hỏi đầu tư nguồn lực tài chính cao Để đầu tư sản xuất 1 ha cá tra, người nuôi cần số tiền đầu tư từ 7 tỷ đồng cho các khoản chi con giống, thức ăn, thuốc thú y, nhiên liệu, nhân công Thông thường, ngân hàng chỉ cho vay khoảng 500-600 triệu đồng dựa trên thế chấp đất nông nghiệp (khoảng 10%), người nuôi tự huy động khoảng 30%, phần còn lại phụ thuộc vào doanh nghiệp thông qua hợp đồng liên kết
Tổng giám đốc Công ty TNHH TMDV Thuận An – An Giang, Nguyễn Thị Huệ Trinh cho biết37: Khi đầu tư sản xuất cho 1 ha mặt nước nuôi cá tra với sản lượng 350 tấn thì vốn
đầu tư cần thiết là trên 07 tỷ đồng, trong khi đó, theo quy định hiện hành, giá trị 01 ha đất nuôi cá khi thế chấp chỉ vay được khoảng từ 500-600 triệu đồng, chỉ đáp ứng khoảng 10%
tỷ lệ bảo đảm theo quy định
Bị hạn chế về nguồn vốn vay trong khi thời gian nuôi cá tra thương phẩm lại kéo dài từ 6-8 tháng, người nuôi cá lại tiếp tục gặp khó khăn khi chịu sức ép nợ tới hạn và lãi suất Điều
Trang 32này chính là nguyên nhân khiến cho người nuôi cá chấp nhận bán với giá rất thấp thậm chí bán lỗ để thu hồi vốn nhanh trả nợ ngân hàng
Về phía doanh nghiệp, vốn điều lệ thường chỉ đủ các khoản chi cố định như xây dựng công
ty, nhà xưởng Các khoản chi thường xuyên như thu mua cá tra nguyên liệu, chi trả lương, bao bì, logistic,… doanh nghiệp sử dụng từ phần vốn điều lệ còn lại cộng thêm thế chấp nhà máy hoặc mua bán chịu của hộ nuôi Các khoản vốn này được xoay vòng rất nhanh để kịp thời cho sản xuất và xuất khẩu Do nhu cầu về vốn lớn, đòi hỏi xoay vòng vốn nhanh, doanh nghiệp thường gặp phải hai khó khăn:
Một là, để nhận được tiền sớm giúp duy trì sản xuất doanh nghiệp lựa chọn phương thức giao chứng từ trả tiền ngay (Cash Against Documents) Tuy nhiên, phí sử dụng phương thức thanh toán này khá cao (khoảng 10% giá trị hợp đồng) dẫn đến làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Hai là, việc xoay vòng vốn tạo nên sự phụ thuộc rất lớn giữa các đơn hàng Một khi gặp rủi
ro, một số đơn hàng chậm thanh toán hay đơn hàng bị trả về lập tức khiến doanh nghiệp thiếu vốn để mua cá tra nguyên liệu Giải pháp tương tự người nuôi cá, doanh nghiệp chế biến cũng thường chọn bán giá thấp thậm chí bán lỗ cho các đơn hàng tiếp theo để lấy chứng từ chiết khấu Một số doanh nghiệp dựa vào sự dễ dãi của các ngân hàng còn sử dụng chiết khấu bộ chứng từ khống ở nhiều ngân hàng khác nhau để vay tiền38
Giải pháp cho vấn đề vốn chính phủ đang thúc đẩy thực hiện nổi bật chính là chính sách thí điểm “cho vay chuỗi liên kết dọc” ở tỉnh An Giang Chính sách này đạt kết quả tốt phần nào chứng tỏ tầm quan trọng của việc ổn định vốn cho người nuôi và doanh nghiệp Tuy nhiên phải nhìn nhận thực tế rằng, việc hỗ trợ vốn chỉ đạt hiệu quả khi hộ nuôi được doanh nghiệp bao tiêu đầu ra theo mô hình chuỗi liên kết dọc, đảm bảo khả năng trả nợ và dễ dàng kiểm soát Tuy nhiên, chính sách này cũng tồn tại hạn chế trong việc quy định mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường Điều này có nguy cơ làm lệch lạc thị trường, giảm động lực cạnh tranh của doanh nghiệp và giảm động lực cho vay của ngân hàng39
Trang 333.2.2 Các điều kiện cầu
Sản phẩm của ngành cá tra chủ yếu phục vụ nhu cầu của thế giới Từ khi cụm ngành bắt
đầu hình thành cho đến nay sản lượng cá tra tiêu thụ trong nước rất thấp (hình 3-9)
Hình 3-9 Sản lượng nuôi trồng và xuất khẩu cá tra qua các năm
Nguồn: Tác giả vẽ từ tổng hợp báo cáo của các Sở NN & PTNT
và Tổng cục thủy sản giai đoạn 2000-2014 (Phụ lục 1)
Một nghiên cứu khác của Lê Văn Gia Nhỏ và đồng nghiệp (2011) đã phác họa lên sơ đồ
chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL (hình 3-10) Số liệu cho thấy, khoảng gần 5% sản lượng cá
được tiêu dùng nội địa thông qua người bán lẻ, chủ vựa và công ty chế biến Còn lại hơn 95% sản lượng là để xuất khẩu
Hình 3-10 Sơ đồ chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL
Nguồn: Trích từ Nguyễn Phú Son (2014), Thị trường cá tra Việt Nam: Phân phối thu nhập chuỗi – Giá thành
sản xuất cá tra nguyên liệu – Giải pháp phát triển ngành
Thương lái
Công
ty chế
biến
Tiêu dùng nội địa
Người bán lẻ/chủ vựa
95,34%
Xuất khẩu
Đầu vào Sản xuất Thu gom Chế biến Thương
mại
Tiêu dùng
Trang 34Cầu nội địa
Năm 2014, dân số Việt Nam đạt mốc 90.728,9 nghìn người40
, xếp thứ 14 trên thế giới41 Với lượng dân số cao, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cao mà lượng cá tra tiêu thụ tại thị trường trong nước năm 2014 quá thấp và gần như không có thống kê Hai nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả trên có thể kể là: hành vi tiêu dùng của khách hàng nội địa, doanh nghiệp không mặn mà trong khâu tiếp thị và phân phối trong nước
Xét về hành vi tiêu dùng của khách hàng nội địa, số liệu nghiên cứu của Lê Chí Công và đ.t.g (2013) cho thấy khách hàng khảo sát không thích món cá fillet là do chất lượng và các cảm nhận tiêu cực Vấn đề chất lượng ở đây không phải là do sản phẩm mình không có chất lượng tốt mà do cảm nhận mùi vị sản phẩm của người Việt Nam khác với thị trường nước ngoài Sản phẩm cá tra fillet được cho là mất hết mùi vị đặc trưng của cá tươi Hơn nữa, người tiêu dùng nội địa không khó để chọn lựa các sản phẩm tươi sống bán ở chợ nhờ vào lợi thế tự nhiên của quốc gia cũng làm giảm đi phần nào nhu cầu sử dụng sản phẩm Các cảm nhận tiêu cực được khách hàng cho biết là do lịch sử nuôi cá tra dẫn đến các thông tin truyền miệng, hai là thông tin báo chí về các vụ việc cá không đủ tiêu chuẩn bị khách hàng nước ngoài trả về
Tập quán tiêu dùng tại chợ dẫn đến khó khăn trong việc phát triển thị trường trong nước khi mà chợ rất ít khi được đầu tư các phương tiện bảo quản lạnh Điều này kéo theo việc các doanh nghiệp cũng không không mặn mà trong khâu tiếp thị và phân phối trong nước
mà chỉ chạy theo thị trường xuất khẩu béo bở
Ông Dương Nghĩa Quốc - chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Đồng Tháp nhận định “Nhu cầu ở trong nước rất lớn nhưng hiện chưa có hệ thống phân phối hiệu quả, chủ yếu thông qua giới thương lái nên chưa khai thác hết tiềm năng của phân khúc thị trường này”42.
Đức Vịnh (2014), “Nuôi cá tra bán nội địa”, Tuổi trẻ online, truy cập ngày 13/05/2015 tại địa chỉ
http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20140716/nuoi-ca-tra-ban-noi-dia/622489.html
Trang 35Cầu xuất khẩu
Cá tra được ưa chuộng ở thị trường nước ngoài nhờ vào hai lợi thế: nguồn cung dồi dào nên giá cả cạnh tranh và và sản phẩm hợp khẩu vị Theo hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), 7 thị trường chính của cá tra xuất khẩu năm 2015 là: Mỹ,
EU, Trung Quốc và Hồng Kông, ASEAN, Mexico, Brazil, Arập Xêut Chỉ riêng 7 thị trường này đã chiếm gần 70% thị phần nhập khẩu cá tra của Việt Nam Trong đó, Mỹ và
EU là hai thị trường chính với thị phần trong 5 năm liên tiếp đều đạt khoảng 20%
Hình 3-11 Cơ cấu thị trường nhập khẩu cá tra của Việt Nam xét theo kim ngạch
Trang 36Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khoảng cách địa lý không còn là một trở ngại lớn trong việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng quốc tế Vì các tổ chức đại diện người tiêu dùng hay các chính phủ nước ngoài đã thiết lập những tiêu chuẩn về chất lượng như BAP/ACC, GlobalGAP, ASC tạo nên một cơ sở để các nhà phân phối kiểm soát chặt chẽ chất lượng cá tra từ cá giống đến cá bột, cá nguyên liệu đến sản phẩm chế biến; từ kỹ thuật nuôi đến kỹ thuật chế biến
Nhà bán lẻ ALDI ở Mỹ (thương hiệu có từ 1976) dựa trên các yêu cầu của khách hàng để xây dựng chính sách mua hàng cụ thể ở nước xuất khẩu như mức độ bền vững của sản phẩm (Sustainable Product Range), có thể truy xuất nguồn gốc (Traceability)43… yêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu phải đáp ứng một số tiêu chuẩn tự nguyện nhất định như BAP/ACC, GlobalGAP, ASC,…
Những yêu cầu này đã làm thay đổi một cách rõ rệt diện mạo ngành cá tra Việt Nam trong thời gian qua như từ chỗ sản xuất đại trà theo hình thức nuôi bè, qui mô hộ nuôi nhỏ lẻ nay chuyển sang nuôi theo qui trình khép kín, đảm bảo chất lượng, góp phần loại bỏ dần các doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả, cải thiện công nghệ của ngành, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường và người lao động Hơn nữa, đáp lại yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam liên tục cải tiến công nghệ, sử dụng công nghệ chế biến hiện đại nhất thế giới, hệ thống xử lý chất thải tốt, quy trình kỹ thuật với sự chuẩn hóa
và mức chính xác cao (ví dụ phi lê cá phải đạt mức thịt cá dư dưới 1%) Nhờ giảm hao phí nên giá thành sản phẩm giảm mà vẫn luôn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, giúp cá tra
trở thành “sản phẩm sạch nhất” với giá rẻ Cụ thể, tính đến ngày 07/07/2014, đã có 45
vùng nuôi của 37 doanh nghiệp tham gia dự án thiết lập chuỗi cung ứng vền vững cho cá tra ở Việt Nam đạt chứng chỉ ASC44 Tiêu chuẩn ASC là một trong những tiêu chuẩn có trách nhiệm hàng đầu trên toàn thế giới, được xây dựng dựa trên sự phối hợp chặt chẽ của nhiều phía, trong đó bao gồm cả khối doanh nghiệp, bán lẻ trên thị trường toàn cấu ra đời,
để giải quyết các vấn đề đó Đạt ASC là sự xác nhận cấp quốc tế đối với cá tra, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của thương hiệu cá tra Việt Nam trên trường quốc tế
43
“Chính sách mua thủy sản”, Tập đoàn ALDI US, truy cập ngày 13/05/2015 tại địa chỉ
https://corporate.aldi.us/en/corporate-responsibility/corporate-responsibility/seafood-policy/#Sustainable 44
Thành Công (2015), Có gần 808 ha nuôi cá tra đạt chứng nhận ASC, truy cập ngày 25/03/2016 tại địa chỉ
ca-tra-dat-chung-nhan-ASC.aspx
Trang 37http://tiengiang.gov.vn/vPortal/4/625/1257/82469/Nong-nghiep -Phat-trien-nong-thon/Co-gan-808-ha-nuoi-Theo TS Đinh Xuân Lập, Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng thủy sản và Khai thác thủy sản bền vững: đến nay Việt Nam đã có 47 trại nuôi cá tra được chứng nhận ASC, với diện tích 808 ha, sản lượng khoảng 211.000 tấn/năm Hơn nữa, nhiều vùng nuôi cá tra của các doanh nghiệp trong quá trình đánh giá nên diện tích và sản lượng cá tra đạt chứng nhận ASC
sẽ tăng nhiều hơn trong thời gian tới
3.2.3 Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp
Ngành cá tra Việt Nam đang ở vị thế “cạnh tranh độc quyền” không phải là thị trường độc
quyền hoàn toàn Mức độ cạnh tranh trong ngành rất cao Hiện tại, dựa trên mức độ thay thế sản phẩm chúng ta có thể phân loại như sau: cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cá tra trong nước, cạnh tranh với ngành cá tra nước ngoài, cạnh tranh với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thay thế Hệ quả là từ năm 2000-2012, giá xuất khẩu cá tra trung bình hàng
năm liên tục giảm (hình 3-12)
Hình 3-12 Giá xuất khẩu trung bình của cá tra đông lạnh từ năm 2000-2012
Nguồn: Tổng hợp số liệu của VASEP và VPA (Phụ lục 1) Trong nước, cuộc cạnh tranh hiện nay đang diễn ra giữa 222 doanh nghiệp Thống kê này
dựa trên công văn ngày 15/06/2015 do Hiệp hội cá tra gửi đến tổng cục hải quan về danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra cập nhật đến ngày 31/05/2015 dựa trên đăng ký hợp đồng xuất khẩu cá tra Tuy nhiên, khảo sát của tác giả không tìm thấy thông tin được niêm yết của 11 doanh nghiệp có đăng ký hợp đồng xuất khẩu cá tra Do đó, danh sách các