Sơ lược lịch sử phát triển của ngành xuất khẩu cá Tra Việt Nam Cá tra: Tên gọi khoa học Pangasius, là một loại cá da trơn Có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng mỡ lớn, sống chủ y
Trang 1Môn học: MARKETING QUỐC TẾ
Đề tài: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CÁ BASA VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ SO VỚI INDONESIA DỰA VÀO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHALE
PORTER
Danh sách nhóm:
Nguyễn thị Bích Phương Trần Anh Tuấn
Giáo viên hướng dẫn:
Qúach Thị Bửu Châu
Trang 2NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
Sơ lược lịch sử phát triển của ngành xuất
khẩu cá tra Việt Nam
Tình hình hiện nay về xuất khẩu cá Tra của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ
Mô hình Kim cương của Micheal Porter -
Phân tích lợi thế cạnh tranh của Cá Tra Việt
Nam so với Indonesia
Trang 3Sơ lược lịch sử phát triển của ngành xuất khẩu
cá Tra Việt Nam
Cá tra:
Tên gọi khoa học Pangasius, là một loại cá da trơn
Có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng mỡ lớn,
sống chủ yếu trong nước ngọt.
Có tốc độ tăng trưởng nhanh.
Tập trung nhiều nhất ở vùng hạ lưu sông Mekong,
ở các nước thuộc Ðông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam
Việt Nam với sự ưu đãi từ thiên nhiên đã phát triển
một ngành sản xuất và xuất khẩu cá tra từ rất lâu đời, đặc biệt tập trung ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Trang 4- Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hệ thống sông rạch dày đặc với phù sa bồi đắp là nơi thích hợp nhất cho sự sinh sống và phát triển của cá da trơn như là cá tra và cá ba sa
- Từ việc đánh cá có từ thời cổ xưa, đến nay Việt Nam
đã mở rộng vùng nuôi, sản xuất, xuất khẩu và sản phẩm
từ cá tra tìm được thị trường thì ngành chế biến cá tra như bước sang một trang mới Người dân có thêm thu nhập và lợi nhuận lớn từ nghề cá.
Sơ lược lịch sử phát triển của ngành xuất khẩu
cá Tra Việt Nam
Trang 6BIỂU ĐỒ XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA VIỆT NAM SANG CÁC THỊ TRƯỜNG
NĂM 2015
Mỹ EU Asean TQ& HK Mexico Colombia Các TT khác
%
Trang 8Diện tích và sản lượng cá da trơn ở Mỹ hiện đang sụt giảm, Mỹ sẽ phải gia tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu chế biến và tiêu thụ trong nước
Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường này cũng gặp phải các rào cản: hàng rào chống bán phá giá hay những yêu cầu gắt gao về chất
lượng và những đối thủ cạnh trạnh đang ngày càng lớn mạnh như: Thái Lan, Campuchia, Indonesia,…
Trang 9Chiến lược, cấu trúc,
sự cạnh tranh
Điều kiện nhu cầu
Ngành công nghiệp
hỗ trợ
có liên quan
Yếu tố thâm dụng
Mô hình của Michale Porter
Cơ
hội
Chính phủ
Trang 10Phân tích lợi thế cạnh tranh của Việt Nam theo mô hình Kim Cương
Thứ nhất là yếu tố tự nhiên
Diện tích phù sa và nguồn lợi nước ngọt, nước lợ rất lớn, hệ thống kênh rạch đan xen
đã tạo nên một nơi nuôi cá da trơn cho năng suất cao nhất thế giới
Điều kiện tự nhiên ưu đãi trên Sông Tiền, Sông Hậu với khí hậu cận xích đạo, ôn hoà,
dòng chảy mạnh và lưu lượng nước rất lớn hàng nămHơn nữa, vị trí hạ lưu sông Mê Kong cung cấp một lượng cá giống tự nhiên lớn
Chi phí nhân công rẻ, đặc biệt là lao động nuôi cá ở khu vực Đồng Bằng song Cửu Long
Thứ hai là yếu tố nhân lực
Chi phí nhân công rẻ, đặc biệt là lao động nuôi cá ở khu vực Đồng Bằng song Cửu Long
CÁC YẾU TỐ THÂM DỤNG
Trang 11Thứ ba là yếu tố tri thức và nguồn vốn (công nghệ)
Khai thác tự nhiên sang chủ động về giống
Kĩ thuật nuôi đã có nhiều thay đổi, từ cải tiến lồng bè, thiết bị bơm quạt nước, đến cải
tiến thiết bị chế biến
Nâng cao năng lực chế biến cũng như phát huy công suất các phân xưởng nhà máy,
đổi mới máy móc thiết bị
Phát triển sản xuất giống, nuôi, chế biến và tiêu thụ cá tra phải gắn liền với việc bảo đảm thực hiện theo các quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định về điều
kiện hoạt động, chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường
Thứ 4 là yếu tố cơ sở hạ tầng
Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho các vùng nuôi cá tra tập trung, tạo
nguồn nguyên liệu ổn định cung cấp cho công nghiệp chế biến
Trang 12ĐIỀU KIỆN NHU CẦU
Nhìn chung người dân vẫn quen ăn cá đánh bắt và các loại thịtTiêu thụ nội địa chủ yếu thông qua các siêu thị Lợi ích là thu hồi vốn nhanh, giảm chi
phí vận chuyển và không tốn nhiều chi phí quảng bá sản phẩm
Các sản phẩm cá tra đưa vào siêu thị là các sản phẩm đã sơ chế, trị giá gia tăng
Thị trường nội
địa
Thị trường nước
ngoài
Hàng thủy sản xuất khẩu phần lớn đều cao hơn giá nội địa nên doanh nghiệp có xu
hướng xuất khẩu nhiều hơn kinh doanh trong nước
Cá Basa Việt Nam được nhiều thị trường ưa chuộng vì màu sắc cơ thịt trắng, thịt cá
thơm ngon hơn so với các loài cá catfish khác
Có mức giá phù hợp, đáp ứng tốt an toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 13YẾU TỐ NGÀNH CÔNG NGIỆP CÓ HỔ TRỢ LIÊN QUAN
Các nhà máy chế biến cá tra được hình thành và xây dựng ngày càng nhiều, tọa lạc ở nơi rất thuận tiện cả đường bộ và đường sông, với dây chuyền và công nghệ cấp đông
hiện đại
Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến cá tra đã đạt hiệu quả cao với sự hổ
trợ các dụng cụ làm cá, máy móc thiết bị công nghiệp hiện đại
Công nghiệp chế biến cá tra
Trang 15CHIẾN LƯỢC, CẤU TRÚC SỰ CẠNH TRANH
Xuất khẩu cá tra, basa là hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam
cũng như định hướng phát triển của nhà nước
Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
Với các lợi thế về tự nhiên kể trên, có thể nói trong những năm gần đây, cá tra, cá basa trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thuỷ sản Việt Nam, góp phần vào sự tăng
trưởng và phát triển của xuất khẩu thuỷ sản nói riêng và tăng trưởng Việt Nam nói
chung Được nuôi chủ yếu ở “vùng nước vàng” ĐBSCL hiếm hoi của hành tinh, nơi nuôi cá da trơn cho năng suất cao nhất thế giới và không đâu trên thế giới việc sinh sản nhân tạo cá giống cho hiệu quả tốt hơn nên cá tra, cá basa Việt Nam là loại thịt cá trắng, rẻ, giàu chất dinh dưỡng và omega-3, có lợi cho sức khoẻ, thịt cá thơm ngon hơn các loại cá da trơn khác và thậm chí là hơn cả chất lượng cá ở các nước khác Hiện nay cá tra xuất khẩu sang 163 nước (năm 2006 chỉ có 65 nước), chiếm khoảng 95% thị trường cá phile trên thế giới, sản lượng 1.5 triệu tấn mỗi năm
Trang 16Các chiến lược của ngành nuôi trồng cá tra, cá basa tạo nên lợi thế cạnh tranh xuất khẩu cá tra, cá basa
Việc đa dạng hoá các sản phẩm theo hướng đã qua chế biến hay các sản phẩm phụ từ
cá có thể mở ra các hướng đi mới, tăng giá trị xuất khẩu và giảm rủi ro khi khủng hoảng thừa diễn ra Các sản phẩm ấy hiện đang được đầu tư phát triển đó là dầu và bột cá tra, cá basa
Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm
Trang 17Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp
Con giống nhân tạo, rẻ, cá nuôi ở bè trên
sông có dòng chảy liên tục nên cá lớn
nhanh, ít nhiễm bệnh
Thức ăn nuôi cá chủ yếu đều do nông
dân tự chế biến và nguồn cá tạp rất
nhiều Nhờ những yếu tố trên nên giá
thành bình quân 1 kg thức ăn tự chế chỉ
1.800-2.000 đồng.
Sông Tiền và sông Hậu là hai con sông có
lưu lượng nước khá lớn (nhất là mùa lũ)
nên cũng có khả năng tự điều chỉnh
nhằm cân bằng hệ sinh thái Điều này
giúp nông dân có thể nuôi được cá với
mật độ dày
Tỷ lệ cá giống thả nuôi cho thu hoạch ở Mỹ là 30% vì chim ăn (Chính phủ Mỹ có luật bảo vệ chim muông nên không ai dám bắn) nên hao hụt tới 70%
Trang 18VIỆT NAM MỸ
ĐBSCL không có mùa đông nên cá có thể
lớn quanh năm Con giống nhân tạo, rẻ,
cá nuôi ở bè trên sông có dòng chảy liên
tục nên cá lớn nhanh, ít nhiễm bệnh
Chi phí lao động rẻ (khoảng 600.000 đồng/
người/tháng
Cá ở Mỹ chỉ lớn trong khoảng thời gian 7-8 tháng, thời gian còn lại chỉ “ngủ đông”, không lớn hoặc lớn chậm
Tại Mỹ thường nuôi cá trong
hồ, không thể nuôi với mật
độ dày lại phải đầu tư cho công nghệ quậy nước khiến giá cá bị đẩy lên cao
Do nước chảy xiết nên có đủ lượng ôxy
cho cá, tạo thành dòng chảy trong bè,
giảm được chi phí đầu vào
Trang 19Việc phối hợp giữa nhà xuất khẩu và người nuôi cá còn nhiều bất cập Hai chủ thể này hay xảy ra mâu thuẫn, mới chỉ manh nha hình thành mối liên kết trong những năm gần đây
Tình trạng nuôi cá tràn lan theo phong trào, chưa có quy hoạch cụ thể,
đã dẫn đến các đợt khủng hoảng thừa năm 2008 làm giá tra, cá basa giảm Rồi khủng hoảng năm 2009 khiến chi phí sản xuất tăng Ngư dân không thiết tha nên treo ao, ngừng nuôi cá, khiến nguồn cung giảm.
Chiến lược hội nhập theo hàng dọc
Trang 20Sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh XK
có hàm lượng nước không được vượt quá 83%, tỷ lệ mạ băng không được vượt quá 10%
Thứ nhất, giúp đảm bảo an toàn
cho người tiêu dùng Việt Nam
và đáp ứng yêu cầu của thị
trường nhập khẩu; hướng dẫn
nông dân thực hiện đi đôi với
việc tìm kiếm
Thứ hai, điều chỉnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu hướng bảo vệ và thân thiện với môi trường Nó đóng góp phần lớn vào việc giảm thiểu các trường hợp trả hàng và hủy hàng do không đúng tiêu chuẩn.
Trang 21Một số chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ gây ảnh hưởng trực tiếp đến
ngành
Quốc hội Mỹ đã thông qua luật Nông nghiệp mới Theo đó, cá da trơn của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn ngang bằng với mặt hàng này sản xuất tại Mỹ, từ quy trình sản xuất đến việc đóng gói và xuất khẩu
Mới đây, Bộ Thương mại Mỹ vừa ra phán quyết sơ bộ mức thuế chống bán phá giá lần thứ 11 đối với cá tra phi lê đông lạnh của Việt Nam.
Theo đó, mức thuế mà hai bị đơn bắt buộc là Công ty Hùng Vương và Công ty Thuận An phải chịu lần lượt là 0,36 USD/kg và 0,84 USD/kg 16 công ty là bị đơn tự nguyện trong đợt xem xét lần này chịu mức thuế là 0,6 USD/kg.
Trang 22Phân tích lợi thế cạnh tranh của Indonesia theo mô hình Kim Cương
Thứ nhất là yếu tố tự nhiên
Tại Indonesia, sông Batanghari ở Jambi là khu vực đầy tiềm năng để trở thành khu vực sản xuất cá tra lớn nhất nước do có điều kiện thủy lưu tương tự như sông Mê kông
Với lợi thế về mạng lưới sông, hồ, ao nuôi và nguồn cá tra bố mẹ, Indonesia sẽ đẩy
mạnh đầu tư vào công nghệ kỹ thuật để tăng sản lượng cá tra nuôi
Ngư dân Indonesia cũng có truyền thống, kinh nghiệm gắn bó lâu với nghề đánh bắt và nuôi trồng cá da trơn Họ cũng có ý thức cao về môi trường, những tác động xấu cho môi trường nước bởi việc nuôi cá tra, luôn được Nhà nước quan tâm đề phòng
Thứ hai là yếu tố nhân lực
Ngư dân lẫn công nhân trong các xí nghiệp chế biến am hiểu khá tốt về kĩ thuật và có khả năng chuyên môn cao
CÁC YẾU TỐ THÂM DỤNG
Trang 23Thứ ba là yếu tố tri thức, nguồn vốn (công nghệ), cơ sở hạ tầng
Công nghệ áp dụng thường tiên tiến hơn và đi trước thời đại so với Việt Nam Các
trung tâm nghiên cứu lớn về nông sản và thủy sản của Indonesia luôn thể hiện được tầm quan trọng và tính hiệu quả của mình trong việc giúp cho ngành này của
Indonesia
Vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng và sự dễ dàng trong lưu thông tài chính vượt hơn hẳn so với Việt Nam
Các doanh nghiệp Indonesia trước khi tấn công bất cứ thị trường nào thì công tác
nghiên cứu thói quen tiêu dùng cuối của người tiêu dùng tại thị trường đó rất được các doanh nghiệp coi trọng nên khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường rất cao
Như vậy, so ra tự nhiên tốt hơn và lao động dồi dào hơn hẳn thì Việt Nam có thể ăn chắc Indonesia ở yếu tố cơ bản nhưng lợi thế cạnh tranh được quyết định còn là phải nhờ vào yếu tố tăng cường Hiện tại, Việt Nam gặp phải thách thức lớn từ Indonesia
mà nếu không nỗ lực mạnh hơn nữa trong lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp
Trang 24ĐIỀU KIỆN NHU CẦU
Thói quen tiêu dùng thủy sản của người dân và chính sách thúc đẩy tiêu thụ nội địa của chính phủ, nhu cầu thủy sản tại Inđônêxia liên tục tăng Năm 2009, tiêu thụ thủy sản nội địa bình quân đạt 30,17 kg/người/năm, tăng trung bình 5,96% so với năm
2005, riêng từ năm 2008 - 2009 tăng 7,75%
Bộ Nghề cá và Hàng hải Inđônêxia đã triển khai nhiều chương trình, như tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc cải thiện năng suất, hiệu quả và chất lượng nhằm phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu tiêu thụ nội địa đồng thời thực hiện chính sách cắt giảm hạn ngạch Nhập Khẩu
Trang 25YẾU TỐ NGÀNH CÔNG NGIỆP CÓ HỔ TRỢ LIÊN QUAN
Các ngành sản xuất máy móc và thiết bị phục vụ chế biến thuỷ sản như đã nhắc đến ở phần phân tích của Việt Nam thì Indonesia khác Việt Nam ở chỗ có thể chủ động hơn
về lĩnh vực thiết kế và sản xuất ra các loại máy móc cơ bản
Khi so sánh tương đối với Việt Nam thì trình độ công nghiệp và tiến bộ kỹ thuật của
Indonesia có phần hơn hẳn
Công nghiệp chế biến cá tra, chế tạo máy
Do chủ động hơn về lĩnh vực thiết kế và sản xuất ra các loại máy móc cơ bản do đó Indonesia không phải nhập khẩu quá nhiều như Việt Nam Vì vậy, tính theo hiệu suất lợi nhuận, Indonesia có thể hơn hẳn
Trang 26
YẾU TỐ NGOÀI MÔ HÌNH
Điều này có liên quan tới chính sách của Bộ Thủy sản Indonesia khi chỉ đạo chọn cá tra làm mặt hàng chủ lực cho ngành công nghiệp thủy sản Cá tra cũng được Bộ Hàng hải
và Nghề cá Indonesia (MMAF) coi là một trong những mặt hàng chủ chốt trong ngành nuôi trồng thủy sản
Theo Tổng cục Nuôi trồng thủy sản Indonesia (DGFC), nước này đang xây dựng kế
hoạch đẩy mạnh sản xuất cá tra để đạt mục tiêu trở thành nước sản xuất cá tra hàng đầu thế giới
Chiến lược của Quốc Gia
Trang 27KẾT LUẬN Chính phủ NgànhDoanh
nghiệp
Trang 28Than
k
you