1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bai lam l i module 4 t trang

28 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 237,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm - Hợp đồng bảo hiểm để có giá trị thì phải đảm bảo các quy định của pháp luật nhưsau: - Được giao kết bởi những người có năng lực hành vi dân sự; - M

Trang 1

MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ & THỰC HÀNH BẢO HIỂM

Module :

Nhĩm: VB2K20FN01- 04

STT(*

Nhiệm vụ thực hiện

(*) STT theo danh sách lớp – học phần

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

KHOA TÀI CHÍNH - BỘ MÔN BẢO HIỂM

Địa chỉ: 279 Nguyễn Tri Phương, Quận 10, Tp HCM,

Điện thoại: 8575623;

Chữ ký giảng viên

Bằng số Bằng chữ

Trang 2

MODULE 4: BÀI TẬP NHÓM

Hãy đọc bài báo dưới đây của PV Lê Nga được đăng tải trên báo Thanh Niên gần đây:

Cẩn trọng khi mua bảo hiểm nhân thọ

TAND Tối cao tại TP.HCM hôm qua 5-12-2008 mở phiên xử phúc thẩm vụ tranh chấp tiềnbồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (BHNT) Dù chỉ là một trường hợp cụ thể, nhưngqua đó cho thấy "thượng đế" thường luôn nắm đằng lưỡi

Vụ kiện giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thảo và bị đơn

là Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam (sau đây

gọi tắt là Prudential VN) Theo đơn khởi kiện, ngày

7.2.2006 bà Thảo mua BHNT của Prudential VN cho con

trai là Nguyễn Văn Nghĩa, thời hạn đóng bảo hiểm 15

năm, giá trị hợp đồng 70 triệu đồng cho sản phẩm “Phú

tích lũy định kỳ gia tăng”, kèm theo sản phẩm bổ trợ

“chết và tàn tật” là 80 triệu đồng Bà Thảo đã đóng tiền

được 1 năm (7.590.000 đồng) Tối 5.3.2006, trên đường

từ Vĩnh Long về Sa Đéc (Đồng Tháp), đến cầu Cái Cam

(Vĩnh Long) thì Nghĩa bị tai nạn giao thông, tử vong Sau

đó, bà Thảo yêu cầu Prudential VN xem xét, đền bù

quyền lợi bảo hiểm, nhưng Prudential VN từ chối không

đền bù vì cho rằng hợp đồng bảo hiểm trước đó đã vô

hiệu, không có hiệu lực

Lý do Prudential VN đưa ra là trước khi ký hợp đồng mua

bảo hiểm bà Thảo đã vi phạm, không kê khai trung thực

về tình trạng sức khỏe của anh Nghĩa Vì vậy, Prudential

VN chỉ trả lại số tiền bà Thảo đã đóng Không chấp nhận,

bà Thảo đưa vụ việc ra tòa nhờ phân xử

Tháng 8.2008, vụ kiện được TAND tỉnh Đồng Tháp đưa

ra xét xử sơ thẩm Tòa sơ thẩm áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm để xem xét vụ kiện.Theo tòa, hợp đồng BHNT của bà Thảo đã bị vô hiệu vì theo quy định của Prudential VNthì bà Thảo phải kê khai đầy đủ, khẳng định rõ “có” hoặc “không” các câu hỏi trong phầnkhai chi tiết về sức khỏe, mà cụ thể ở câu số 7(b): bạn đã, đang có sử dụng ma túy hoặcchất gây nghiện không?, bà Thảo đánh dấu chéo vào ô "không"; trong khi ngày18.12.2001, Trung tâm y tế dự phòng Đồng Tháp ra thông báo anh Nghĩa bị HIV HĐXXnhận xét bà Thảo đã vi phạm phần cam kết, khai không trung thực được quy định tại điều

18, 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm nên tuyên bác yêu cầu của bà Thảo đòi Prudential VNbồi thường 150 triệu đồng

Chiếu theo Bộ luật Dân sự là đúng

Hợp đồng BHNT này là hợp đồng dân sự ghi nhận sự thỏa thuận của các bên Người mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm đúng kỳ hạn Bên bảo hiểm phải đền bù khi các điều kiện bảo hiểm xảy ra như tai nạn, bệnh tật, tử vong Các bên phải tuân thủ các điều kiện

đã thỏa thuận nhưng các thỏa thuận này phải tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Dân sự Bên cạnh đó, luật quy định các giao dịch dân sự chỉ vô hiệu khi:

vi phạm điều cấm, trái đạo đức

xã hội, giao dịch giả tạo Luật không quy định khi giao kết hợp đồng mà kê khai không đầy đủ là

vô hiệu Vì vậy, quy định này của hợp đồng là không có giá trị pháp lý (Luật sư Lê Hồng Nguyên, Đoàn luật sư TP.HCM)

Trang 3

Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX nhận định bà Thảo mua BHNT không phải vì mục đích kinhdoanh, nên đây chỉ là hợp đồng dân sự Việc Tòa sơ thẩm áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểmxem xét vụ kiện là không phù hợp Tòa phúc thẩm cũng cho rằng, quy định ghi trong hợpđồng “nếu kê khai không trung thực thì hợp đồng sẽ vô hiệu” là vi phạm pháp luật Bởi lẽ,hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi phạm các điều cấm của pháp luật, được quy định trong Bộ luậtDân sự Ngoài những lý do trên, do bản án sơ thẩm còn có những vi phạm tố tụng khác nênHĐXX tuyên hủy án sơ thẩm để xét xử lại

Theo lãnh đạo một công ty bảo hiểm, quy định ràng buộc trong mẫu hợp đồng tranh chấptại phiên tòa được rất nhiều các công ty bảo hiểm sử dụng Vì vậy, từ kết quả của vụ kiệnnày, rất có thể nhiều công ty bảo hiểm sẽ phải điều chỉnh mẫu hợp đồng, liên quan đếnhàng vạn khách hàng

Yêu cầu

1. Hãy nêu và giải thích quan điểm của cá nhân anh/chị đối với vụ việc trên

2. Từ đó, anh/chị có đề xuất gì đối với khung pháp lý về hợp đồng bảo hiểm thương mại ởViệt Nam?

Trang 4

MỞ ĐẦU

Nhận thấy rằng bảo hiểm là một tấm khiên có thể bảo vệ con người giảm thiểumột phần nào đó tổn thất, nên hiện nay nhiều người đã tìm hiểu về bảo hiểm và muabảo hiểm cho chính họ và người thân của họ Nhưng vấn đề bất cập hiện nay là họvẫn chưa nắm rõ về hợp đồng bảo hiểm như điều khoản loại trừ, kê khai chưa chínhxác dẫn đến xảy ra các tranh chấp, kiện ra tòa về xử lý bồi thường Hoặc là khôngbiết sản phẩm nào cần thiết cho mình như miễn thường, khấu trừ Dẫn đến hợp đồngbảo hiểm là nỗi lo lắng cho nhiều người bảo hiểm hiện nay Để có thể khắc phụcđược phần nào nỗi lo đó nhóm thực hiện bài tiểu luận nhằm mang lại những kiếnthức về hợp đồng bảo hiểm với chủ đề: “Hợp đồng bảo hiểm”

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Định nghĩa hợp đồng bảo hiểm

Theo luật kinh doanh bảo hiểm 2010

Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệpbảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảohiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người đượcbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

1.2 Tính chất của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có một số tính chất chung trong khuôn khổ những quy địnhcủa luật pháp về hợp đồng dân sự, ngoài ra, nó còn có một số tính chất riêng biệtgắn liền với đặc trưng kinh tế - kỹ thuật ngành bảo hiểm Cụ thể như sau:

Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận

Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập dựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trênnguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giao kết trong khuôn khổ pháp luật và đạođức xã hội

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vu

Các bên ký kết đều có quyền và nghĩa vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ của bênkia và ngược lại Người bảo hiểm phải đảm bảo cho các rủi ro còn người được bảo

Trang 5

hiểm phải trả phí bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất may rủi

Nếu không tồn tại rủi ro sự kiện bảo hiểm thì không có việc giao kết cũng nhưtồn tại hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có tính chất tin tưởng tuyệt đối

Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tìnhtrạng tạo ra rủi ro cho nhau Do đó, để tồn tại và có thể thực hiện thì hai bên phải

có sự tin tưởng lẫn nhau Tính chất tin tưởng tuyệt đối và nguyên tắc trung thực tối

đa chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề

Hợp đồng bảo hiểm cóù tính chất phải trả tiền

Mối quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên thể hiện ở mối quan hệ tiền tệ bênmua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phí bảo hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trảtiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

Hợp đồng bảo hiển có tính chất gia nhập

Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng theo mẫu Quy tắc bảo hiểm nội dungchính của Hợp đồng do người bảo hiểm soạn thảo trước, bên mua bảo hiểm sauđọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập vào

Hợp đồng bảo hiểm có tính dân sự - thương mại hỗn hợp

Bên mua bảo hiểm có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân dân sự hay thươngmại, người bảo hiểm cũng có thể là một pháp nhân dân sự hội tương hổ haythương mại công ty bảo hiểm Do đó, mối quan hệ giữa họ, cụ thể là hợp đồngbảo hiểm sẽ có thể có tính dân sự hay thương mại thuần túy hoặc dân sự - thươngmại hỗn hợp

Hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm

- Hợp đồng bảo hiểm để có giá trị thì phải đảm bảo các quy định của pháp luật nhưsau:

- Được giao kết bởi những người có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội;

- Hai bên giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện;

Trang 6

- Hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Khả năng của các bên

Về phía người bảo hiểm, vấn đề này trở nên đơn giản và có thể gọi là một lầncho tất cả Công ty bảo hiểm phải có giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn, khả nănghoạt động kinh doanh bảo hiểm do Bộ Tài chính cấp để có thể tiến hành một hoặcvài loại hình bảo hiểm nhất định và tất nhiên, phải hoàn thành các thủ tục đăng kýhành chính cần thiết

Về phía bên mua bảo hiểm, các quy định của luật pháp chung có liên quan đếnnăng lực hành vi dân sự của cá nhân và năng lực pháp luật dân sự của các phápnhân được áp dụng Ví dụ: những cam kết bởi những vị thành niên, người tâmthần, những người mất năng lực hành vi dân sự khác theo pháp luật quy định đều

có thể bị hủy bỏ

Muc đích, nội dung của Hợp đồng bảo hiểm

Mục đích của hoạt động bảo hiểm là nhằm đảm bảo cho các đối tượng tài sản,con người, trách nhiệm dân sự, các đối tượng khác theo luật định) đặt trong tìnhtrạng chịu hiểm họa, do đó, sự hiện hữu của các đối tượng hay quyền lợi có thể bảohiểm là một trong những điều kiện đảm bảo cho hiệu lực của hợp đồng

Sự chấp thuận của các bên

Hiệu lực của hợp đồng có thể bị hủy b nếu như việc chấp thuận giao kếtgiữa hai bên có sự lầm lẫn, bị cưỡng bức và gian lận

Đặc biệt, sự gian lận luôn là điều bận tâm của nhà bảo hiểm bởi vì khi chấp bútchấp nhận rủi ro họ có thể bị lừa dối trong đánh giá rủi ro bởi bên mua bảo hiểmkhông trung thực trong việc khai báo

1.3 Thiết lập - Thực hiện - đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm

1.3.1 Thiết lập hợp đồng

Những người có liên quan

Hợp đồng bảo hiểm được giao kết bởi hai bên: nhà bảo hiểm và bên mua bảohiểm Nhà bảo hiểm là các pháp nhân đứng ra nhận bảo hiểm cho các đối tượngđang đặt trong tình trạng chịu hiểm họa và với các hình thức pháp lý được pháp

Trang 7

luật quy định Riêng đối với bên mua bảo hiểm, việc giao kết thực hiện hợp đồngbảo hiểm có thể có liên quan đến nhiều người: người mua bảo hiểm, người đượcbảo hiểm và người thụ hưởng.

Người mua bảo hiểm

Trên các văn bản quy tắc bảo hiểm hiện áp dụng ở Việt Nam người mua bảohiểm còn được gọi là Người tham gia bảo hiểm Đó chính là người đứng ra giaokết hợp đồng và có nghĩa vụ phải trả phí bảo hiểm

Người được bảo hiểm

Hiểu theo nghĩa rộng đó là một bên trên hợp đồng bảo hiểm, hiểu theo nghĩahẹp đó là người mà tính mạng hoặc tài sản của họ bị rủi ro đe doạ và được đảmbảo bởi Nhà bảo hiểm

Người thu hưởng

Là người được hưởng tiền bảo hiểm trả hay bồi thường trong trường hợp có sựkiện bảo hiểm xảy ra

Trong đa số trường hợp, những tính chất khác nhau của 3 người nói trên đượctập trung ở một người duy nhất nhưng cũng có không ít trường hợp, người muabảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng có thể là những người khácnhau, mỗi người hành động theo tính chất riêng của mình và mối quan hệ giữa họcũng phải được quy định bởi pháp luật nhất là trong bảo hiểm con người

Quyền lợi có thể được bảo hiểm

Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền hợp pháp được mua bảo hiểm Nóichung một người nào đó có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với một đối tượngnào đó tài sản, trách nhiệm, con người khi mà thiệt hại của đối tượng này gây rathiệt hại về mặt tài chính cho họ

Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm được thểhiện như sau:

Đối với tài sản: được thể hiện ở quan hệ sở hữu, chiếm hữu, khai thác, sử dụng,thuê mượn, nhận cầm cố thế chấp, quản lý, bảo vệ trông nom tài sản

Đối với trách nhiệm: được thể hiện ở nghĩa vụ bồi thường do vi phạm nghĩa vụtrên hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật gây thiệt hại cho người khác

Trang 8

Quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với trách nhiệm của một người không chỉ làtrách nhiệm do bản thân người đó gây ra mà còn là trách nhiệm do mình sở hữu,quản lý, giám hộ.

Đối với con người: Mỗi người đều có quyền lợi có thể bảo hiểm không hạn chếvới tính mạng của mình Ngoài ra, một số quan hệ khác cũng làm xuất hiện quyềnlợi có thể được bảo hiểm Các quan hệ đó như sau: Quan hệ gia đình vợ/chồng;cha mẹ/con… , quan hệ nuôi dưỡng cấp dưỡng; quan hệ lao động và quan hệ tíndụng người đi vay và người cho vay)

Chính vì hệ quả này mà trước khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhà bảo hiểmphải kiểm tra xem giữa Người mua bảo hiểm người tham gia bảo hiểm và đốitượng được bảo hiểm có tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không để hợpđồng bảo hiểm được coi là hợp pháp

Khai báo rủi ro khi giao kết hợp đồng

Nghĩa vụ đầu tiên của người mua bảo hiểm người tham gia bảo hiểm là phảicung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin cần thiết có liên quan đến đốitượng bảo hiểm mà anh ta biết để bên bảo hiểm có thể đánh giá được rủi ro yêucầu bảo hiểm, làm cơ sở cho việc th a thuận tiếp theo đó Việc khai báo rủi ro vàyêu cầu bảo hiểm cho rủi ro đó được thực hiện trên mẫu in sẵn do nhà bảo hiểmcung cấp gọi là Giấy yêu cầu bảo hiểm

Trung thực tuyệt đối

Mối quan hệ giữa người bảo hiểm và bên mua bảo hiểm được thiết lập trongtình trạng tạo ra những nghi vấn cho nhau, những nghi vấn đó là:

Về phía bên mua bảo hiểm: nghi vấn lớn nhất của họ là khi sự kiện bảo hiểmxảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm có tiến hành trả tiền hoặc bồi thường kịp thời và th

a đáng không?

Về phía doanh nghiệp bảo hiểm: họ cũng có những nghi vấn khi chấp nhận bảohiểm cho một rủi ro nào đó Bởi vì, người mua bảo hiểm thường có xu hướng khaibáo rủi ro khi giao kết hợp đồng bảo hiểm thấp hơn mức độ thực tế, và nhà bảohiểm không thể loại trừ nguy cơ đạo đức từ phía người mua bảo hiểm khi họ yêu

Trang 9

cầu trả tiền hoặc bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Vì vậy, trên các văn bản pháp luật đều có quy định trách nhiệm cung cấp thôngtin và khai báo rủi ro của các bên khi tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm Đồngthời, các văn bản pháp luật cũng quy định những biện pháp trừng phạt nếu mộttrong các bên vi phạm quy định về khai báo rủi ro hoặc cung cấp thông tin

Chấp nhận bảo hiểm

Việc điền và ký vào giấy yêu cầu bảo hiểm có thể coi như là việc đưa ra một đềnghị giao kết hợp đồng của bên người được bảo hiểm Theo thông lệ bảo hiểmquốc tế, nếu như người mua bảo hiểm yêu cầu, trước khi cấp đơn bảo hiểm, nhàbảo hiểm có nghĩa vụ cấp cho người mua bảo hiểm văn bản về việc chấp nhậngiao kết hợp đồng Dù có phải trả lời chấp nhận bảo hiểm bằng văn bản haykhông, nhà bảo hiểm, sau khi nhận giấy yêu cầu bảo hiểm và phí bảo hiểm, phảicấp đơn bảo hiểm trong thời gian nhanh nhất để đảm bảo quyền lợi cho bên muabảo hiểm

Nội dung của Hợp đồng bảo hiểm

Pháp luật về bảo hiểm của các nước thông thường quy định rằng: hợp đồng bảohiểm phải được lập bằng văn bản và Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc Đơn bảohiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm

Giấy chứng nhận bảo hiểm hay Đơn bảo hiểm đã được cấp và có hiệu lực trên

cơ sở người bảo hiểm đã thu phí bảo hiểm

Dù thể hiện dưới hình thức nào trong hai hình thức trên thì một hợp đồng bảohiểm phải có những nội dung cơ bản sau:

- Nơi, ngày tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;

- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, người được bảo hiểm và người đượchưởng quyền lợi bảo hiểm;

- Những rủi ro được bảo hiểm;

- Điều kiện bảo hiểm;

- Số tiền bảo hiểm;

Trang 10

- Phí bảo hiểm và cách thức nộp phí;

- Nơi và các thức bồi thường hay trả tiền bảo hiểm;

- Những loại trừ

Đơn bảo hiểm

Một đơn bảo hiểm bao giờ cũng bao gồm hai phần riêng biệt: Các điều kiện riêng

và các điều kiện chung

Điều kiện riêng bao gồm các điều khoản thể hiện các điều kiện đặc thù gắn liềnvới từng rủi ro mà nhà bảo hiểm chấp nhận đảm bảo: ngày ký kết, tên và địa chỉcác bên, tài sản được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn hiệu lựccủa hợp đồng

Các điều kiện chung của đơn bảo hiểm thường thể hiện những điều kiện ràngbuộc chung cho mọi hợp đồng của cùng một loại hình bảo hiểm: Mục đích củahợp đồng hay phạm vi các rủi ro được bảo hiểm, loại trừ, nghĩa vụ của các bên,những quy định về tố quyền và tranh chấp

Hiện nay ở Việt Nam, hình thức đơn bảo hiểm thường áp dụng cho các loại bảohiểm hàng hải, bảo hiểm xây lắp

Giấy chứng nhận bảo hiểm

Giấy chứng nhận bảo hiểm được phát hành bao giờ cùng với sự đính kèm của mộtvăn bản quy tắc bảo hiểm của loại hình bảo hiểm đó và nội dung của hai phần nàycũng giống như mặt trước và mặt sau của đơn bảo hiểm

Giấy chứng nhận bảo hiểm là hình thức được áp dụng phổ biến ở Việt Nam cho cácloại hình bảo hiểm con người, xe cơ giới

Thời hiệu của hợp đồng bảo hiểm

Thời hiệu của hợp đồng bảo hiểm là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, các chủthể người bảo hiểm, bên mua bảo hiểm được hưởng quyền, được miễn trừ nghĩa

vụ hoặc mất quyền khởi kiện về quyền và nghĩa vụ đối với nhau trên hợp đồngbảo hiểm đó Theo quy định hiện hành, thời hiệu gồm có các loại sau:

- Thời hiệu hưởng quyền trên hợp đồng bảo hiểm;

Trang 11

- Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ;

- Thời hiệu khởi kiện

1.2.2 Thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm bên bên mua bảo hiểm có nhữngnghĩa vụ chính như sau:

- Trả phí bảo hiểm;

- Phòng ngừa thiệt hại và thông báo sự gia tăng rủi ro hoặc hoàn cảnh thay đổitrong quá trình thực hiện hợp đồng;

- Thông báo thiệt hại

Trả phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải nộp cho tổ chức bảohiểm để được hưởng tiền bảo hiểm hoặc tiền bồi thường khi có sự kiện bảo hiểmxảy ra Mức phí bảo hiểm do 2 bên th a thuận hoặc có thể do bên bảo hiểm qui địnhtrước Thời hạn nộp phí bảo hiểm có thể do th a thuận hoặc do luật pháp quy địnhtrong trường hợp bảo hiểm bắt buộc Việc thanh toán phí bảo hiểm thường là mộtlần vào lúc giao kết hợp đồng, đôi lúc, được thanh toán nhiều kỳ

Trong trường hợp người mua bảo hiểm chậm thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảohiểm khi đến kỳ nộp phí theo th a thuận, nhà bảo hiểm được quyền ấn định mộtthời gian để bên mua đóng phí bảo hiểm, nếu hết thời hạn đó mà người mua bảohiểm vẫn không đóng phí bảo hiểm, hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm sẽ tự độngchấm dứt

Phòng ngừa thiệt hại và thông báo gia tăng rủi ro

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải tuân thủcác điều kiện ghi trong hợp đồng Một trong những điều kiện, nghĩa vụ luôn đượcghi trong hợp đồng và hơn nữa được luật định đó là nghĩa vụ thực hiện các biệnpháp phòng ngừa thiệt hại, tất nhiên, trong khả năng có thể của bên mua bảo

Trang 12

hiểm Vì vậy, đôi lúc người ta gọi là nghĩa vụ "mẫn cán hợp lý".

Cũng theo quy định của pháp luật, nếu như bên mua bảo hiểm có lỗi khôngthực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại, thì bên bảo hiểm có quyền ấn địnhmột thời hạn để bên mua bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn màcác biện pháp phòng ngừa vẫn không thực hiện thì bên bảo hiểm có quyền đơnphương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hại xảy

ra do các biện pháp phòng ngừa đã không được thực hiện

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm người mua bảo hiểm còn

có nghĩa vụ phải thông báo cho người bảo hiểm về tình hình thay đổi nếu có của rủi

ro so với những thông tin đã cung cấp ban đầu khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, đặcbiệt là tình trạng gia tăng rủi ro Việc thông báo hoàn cảnh mới của rủi ro giảm hoặctăng) có thể coi như là việc đưa ra một đề nghị mới của người mua bảo hiểm Đềnghị mới này không làm thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng cũ đã giao kết nếu nhưbên mua bảo hiểm không nêu điều kiện mới đòi giảm phí khi rủi ro giảm hoặc phíangười bảo hiểm không nêu điều kiện để chấp nhận đề nghị mới này đòi tăng phíkhi rủi ro tăng) Ngược lại, hợp đồng có thể bị thay đổi hoặc hủy b bằng một số thủtục và trong thời hạn mà hai bên th a thuận Nếu như bên mua bảo hiểm không thựchiện nghĩa vụ thông báo tình trạng thay đổi rủi ro hoặc rủi ro mới phát sinh thì nhàbảo hiểm có thể áp dụng các biện pháp chế tài tương tự như việc cung cấp thông tinkhông chính xác khi giao kết hợp đồng

Thông báo thiệt hại

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm dẫn đến phát sinh thiệt hại, bên mua bảo hiểm cónghĩa vụ phải thông báo ngay cho nhà bảo hiểm biết trong thời hạn nhanh nhất vàbằng cách có thể có được, sau đó, mới tiến hành lập thủ tục yêu cầu bồi thườnggửi cho phía nhà bảo hiểm

Việc không tôn trọng các thời hạn nói trên sẽ dẫn đến việc mất quyền được bồithường hoặc được trả tiền bảo hiểm, cần lưu ý rằng phía nhà bảo hiểm chỉ có thể

áp dụng biện pháp truất quyền khi chứng minh được rằng có thiệt hại phát sinh từ

sự chậm trễ thông báo thiệt hại

Trang 13

Quyền và nghĩa vụ của Nhà bảo hiểm

Nghĩa vu bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm

Bởi cam kết của mình, Nhà bảo hiểm có nghĩa vụ chính là phải bồi thườnghoặc trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm dẫn đến tổnthất cho người được bảo hiểm như đã ghi trong hợp đồng bảo hiểm Nếu như hợpđồng bảo hiểm không đưa ra thời hạn thì người bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểmtrong thời hạn theo quy định của pháp luật, kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp

lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm Trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

đó thì người bảo hiểm phải trả cả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quáhạn do ngân hàng nhà nước Việt nam quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểmtương ứng với thời gian chậm trả

Nghĩa vu thông tin

Nghĩa vụ của nhà bảo hiểm là phải cung cấp đầy đủ và giải thích mọi thông tincần thiết có liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm, liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.Trong trường hợp các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm không rõ ràng, thì mọigiải thích sẽ theo hướng bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm, có nghĩa là

có thể bất lợi cho nhà bảo hiểm

Quyền của Nhà bảo hiểm

Quyền thu phí bảo hiểm: Đổi lấy việc cam kết trả tiền bảo hiểm, nhà bảo hiểm

có quyền thu phí bảo hiểm và có đầy đủ năng lực pháp lý thực hiện các biện pháptrừng phạt nếu bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ trả phí hay các nghĩa

vụ khác quy định trên hợp đồng: đình chỉ, hủy b , chế tài, thu thêm phí

Quyền cầu hoàn thế quyền đòi lại người thứ ba : Trong trường hợp có sự kiện

bảo hiểm xảy ra mà tổn thất của người được bảo hiểm là do lỗi của người thứ bakhác gây ra, nếu nhà bảo hiểm đã tiến hành bồi thường cho người được bảo hiểmhay trả tiền cho người thụ hưởng thì anh ta có "quyền cầu hoàn" lại từ người thứ ba

số tiền mà mình đã trả Để thực hiện được quyền đó, nhà bảo hiểm có quyền yêucầu phía người được bảo hiểm người thụ hưởng cung cấp mọi tin tức, tài liệu, bằngchứng cần thiết có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba gây ra thiệt hại

Trang 14

Trong mọi trường hợp, số tiền "cầu hoàn" không bao giờ vượt quá số tiền mà nhàbảo hiểm đã trả cho người được bảo hiểm người thụ hưởng

1.2.3 Đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có thể bị đình chỉ, hủy b trước thời hạn đã th a thuận.Khi hợp đồng bị hủy b , thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết,còn khi hợp đồng bị đình chỉ thì hợp đồng chấm dứt vào thời điểm mà bên viphạm nhận được thông báo đình chỉ của bên có quyền đơn phương đình chỉ

Đình chỉ mặc nhiên

Do không còn rủi ro: trường hợp đối tượng bảo hiểm tài sản, tính mạng bị tổnthất toàn bộ do một sự cố không được bảo hiểm

Do một trong hai bên chủ thể của hợp đồng không còn năng lực pháp luật dân sự

Đình chỉ, hủy bỏ do hai bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng

Bởi nhà bảo hiểm: Nhà bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ, hủy b hợpđồng nếu bên mua bảo hiểm vi phạm các nghĩa vụ đã th a thuận trên hợp đồnghay được quy định bởi pháp luật như: nghĩa vụ đóng phí, nghĩa vụ phòngngừa thiệt hại, nghĩa vụ khai báo rủi ro

Bởi bên mua bảo hiểm: Trường hợp rủi ro giảm và người bảo hiểm từ chốikhông giảm phí

Trong các trường hợp đơn phương đình chỉ hợp đồng, bên đơn phương đình chỉphải thông báo cho bên kia biết, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì theoluật định, chính người này lại phải bồi thường cho phía bên kia

Đình chỉ hủy bỏ do thỏa thuận giữa hai bên

Thông thường gắn liền với trường hợp thay đổi tình trạng cá nhân, gia đình haynghề nghiệp và th a thuận trước trên hợp đồng như: thay đổi chổ ở, công tác, thayđổi nghề nghiệp, thay đổi quyền sở hữu

1.3 Các yếu tố cấu thành hợp đồng bảo hiểm

Bảo hiểm phải chứa đựng 3 yếu tố cơ bản: Rủi ro, phí bảo hiểm, một khoản tiền bồi

Ngày đăng: 16/12/2021, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHĨM - Bai lam l i module 4 t trang
BẢNG THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHĨM (Trang 26)
BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHĨM - Bai lam l i module 4 t trang
BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC NHĨM (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w