1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bai lam thay viet

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của triết học Mác - Lênin đối với thực tiễn xã hội và sự phát triển khoa học - Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp vô sản

Trang 1

1 Đối tượng, đặc điểm và vai trò của triết học Mác - Lê

nin Ý nghĩa của vấn đề này đối với người cán bộ khoa

học kỹ thuật?

1 Đối tượng của triết học Mác- Lênin:

Các quan điểm trước Mác xác định đối tượng chưa đúng

đắn, triết học Mác xác định: Đối tượng nghiên cứu của triết

học Mác –Lênin là Nghiên cứu những quy luật chung nhất

về tự nhiên, xã hội và tư duy Vai trò của con người đối với

thế giới trên cơ sở giải quyết khoa học vấn đề cơ bản của

triết học (1 điểm)

2 Đặc điểm của triết học Mác-Lênin:

Triết học Mác-Lênin là một học thuyết khoa học và tiến bộ, nó

mang trong mình 3 đặc điểm chính sau:

* Thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học:

Tính đảng của triết học Mác-Lênin: Lập trường chủ nghĩa

duy vật biện chứng, đấu tranh kiên quyết chống chủ nghĩa

duy tâm, siêu hình, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ và

mang lại lợi ích cho giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân

lao động

Tính khoa học của triết học Mác-Lênin (triết học Mác - Lênin):

phản ánh đúng đắn hệ thống các quy luật vận động và phát

triển của thế giới

Vì sao có sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học

trong triết học Mác - Lênin: Do mục tiêu lý tưởng chiến đấu,

lợi ích giai cấp vô sản phù hợp tiến trình khách quan của lịch

sử

* Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

Gắn nhận thức thế giới với cải tạo thế giới là nguyên tắc cơ

bản của triết học Mác: triết học Mác - Lênin ra đời từ nhu cầu

thực tiễn, nhu cầu của phong trào cách mạng của giai cấp

công nhân và quần chúng lao động Nó trở thành vũ khí lý

luận của giai cấp vô sản…

Thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà phát triển triết

học Triết học lại trở lại chỉ đạo, hướng dẫn cuộc đấu tranh

của giai cấp vô sản mà bổ sung và phát triển, mà làm tròn sứ

mệnh của mình

Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn thì triết học Mác - Lênin

mới trở thành sức mạnh vật chất, mới phát triển và đổi mới

không ngừng

* Tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin:

Sáng tạo là bản chất của triết học Mác: những nguyên lý,

quy luật phổ biến khi vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ

thể phải đúng đắn, sáng tạo

Hiện thực khách quan không ngừng vận động và biến đổi,

tư duy và ý thức phản ánh chúng cũng không ngừng bổ sung và phát triển Triết học với tư cách là một khoa học cũng không ngừng được bổ sung, phát triển và vận dụng một cách sáng tạo, sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh

Tính sáng tạo của triết học Mác - Lênin đòi hỏi chúng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của từng nguyên lý và vận dụng nó trên quan điểm thực tiễn, lịch sử,

cụ thể Nghĩa là phải xuất phát từ khách quan, đúng thực tiễn sinh động làm cơ sở cho nhận thức và vận dụng lý luận

3 Vai trò của triết học Mác - Lênin đối với thực tiễn xã hội và

sự phát triển khoa học

- Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp vô sản là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn của các Đảng cộng sản:

Nó cung cấp hệ thống tri thức khoa học về thế giới Trang bị phương pháp luận khoa học

Là cơ sở để hình thành niềm tin khoa học và những phẩm chất cao quý của người cách mạng

- Trang bị cho các nghành khoa học khác thế giới quan và phương pháp luận khoa học đi sâu khám phá bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng

Nó đóng vai trò dẫn đường cho nghiên cứu khoa học

Nó giải quyết những vấn đề triết học trong quá trình nghiên cứu

Là cơ sở khoa học chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm, hệ tư tưởng tư sản xuyên tạc những phát minh khoa học

2 Triết học Mác là một học thuyết phát triển? Vận dụng vấn đề này vào hoạt động thực tiễn và phê phán các quan điểm sai trái.

Trả lời:

- Linh hồn sống của triết học Mác là phép biện chứng, còn phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiếm diện (2 nguyên lý khái quát bức tranh thế giới có những mối liên hệ chằng chịt, có sự vận động và phát triển Ba quy luật cơ bản nói lên 3 mặt của 1 quá trình vận động và phát triển 6 cặp phạm trù thể hiện những khía cạnh phong phú có thực của

sự vận động và phát triển)

- Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là 2 nguyên tắc cơ bản của triết học Mác Lenin, không có lý luận thuần tuý tách rời thực tiễn, lý luận phải gắn với thực tiễn, từ thực tiễn mà ra

được Thực tiễn kiểm nghiệm thì lý luận đó mới trở nên khoa học, mà thực tiễn không ngừng biến đổi do đó lý luận Mác

Lê nin phải là học thuyết phát triển

- Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lê nin không bao giờ tự cho học thuyết của mình là chân lý tuyệt đối và cũng không phải là học thuyết đóng kín Chủ nghĩa Mác - Lê nin là

hệ thống mở, đòi hỏi các thế hệ sau phải tiếp tục bổ sung phát triển Chủ nghĩa Mác

- Sức sống của Chủ nghĩa Mác - Lê nin không chỉ ở nguyên

lý, quy luật đúng đắn mà còn ở cả sự kế thừa, phát triển Tiêu biểu: Lê nin đã phát triển Chủ nghĩa Mác trên tất cả các lĩnh vực Đây là trình độ mới trong sự khởi thảo các vấn đề cơ bản của triết học Mác Giai đoạn Lê nin không phải là đối lập với giai đoạn của Mác và Ăng ghen mà là tiếp tục phát triển học thuyết của Mác và Ăng ghen để phù hợp với điều kiện lịch sử mới

- Chủ nghĩa Mác là lý luận của phong trào cộng sản và công nhân, lý luận về cách mạng vô sản và chủ nghĩa cộng sản khoa học Vì thế nó không thể không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới

3 Định nghĩa vật chất của Lê nin Ý nghĩa khoa học của định nghĩa.

1 Định nghĩa vật chất của Lênin:

Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa duy vật, nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu sắc

Trong các học thuyết học trước Mác có nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù này… Các nhà duy vật cổ đại quan niệm vật chất mang tính trực quan cảm tính và vì thế họ đã đồng nhất vật chất với những vật thể cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của sự tồn tại Hoặc các nhà triết học và khoa học tự nhiên do không hiểu phép biện chứng duy vật đã đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc vật chất với khối lượng - một thuộc tính phổ biến của các vật thể

Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vật lý học đã có những phát minh rất quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới và sâu sắc về cấu trúc của thế giới vật chất, (như phát hiện ra tia Rơn-ghen, hiện tượng phóng xạ, tìm ra điện tử,…) Chính các phát minh quan trọng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng để cho rằng “Vật chất tiêu tan

Trang 2

mất” và như thế toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa duy vật sụp

đổ hoàn toàn

Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng

trong khoa học tự nhiên và phê phán chủ nghĩa duy tâm,

Lê-nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện, sâu sắc và khoa học

về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng

để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người

trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại,

chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

2 Phân tích định nghĩa vật chất của Lê-nin:

Khi nghiên cứu định nghĩa vật chất của Lê-nin chúng ta cần

phải hiểu và nắm được 3 ý cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học: khi định nghĩa vật chất

Lê-nin đòi hỏi cần phải phân biệt vật chất với tính cách là một

phạm trù triết học với các khái niệm của khoa học tự nhiên

về các đối tượng, sự vật cụ thể ở các trình độ kết cấu và tổ

chức khác nhau và các thuộc tính khác nhau tương ứng của

chúng Vật chất ở đây được hiểu với nghĩa là một phạm trù

rộng nhất trong hệ thống các phạm trù

- Trong định nghĩa chúng ta cũng nhận thấy có hai mặt của

một thuộc tính mà Lê-nin gọi là “đặc tính” duy nhất của vật

chất đó là:

Vật chất là “thực tại khách quan được đem lại cho con người

trong cảm giác… và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Như vậy, chúng ta hiểu vật chất là thực tại khách quan, là tất

cả những gì tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm

giác, ý thức của con người Tất cả những gì tồn tại bên ngoài

và độc lập với ý thức, với cảm giác, và đem lại cho chúng ta

trong cảm giác, trong ý thức đều là vật chất Thuộc tính này

đã thể hiện lập trường của chủ nghĩa duy vật: vật chất có

trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của

cảm giác, ý thức; cảm giác, ý thức của con người là sự phản

ánh hiện thực khách quan

Thực tại khách quan này con người có thể nhận thức được

Tóm lại: Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã bao quát cả hai

mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ

nghĩa duy vật biện chứng Đây là định nghĩa đầy đủ nhất,

toàn diện nhất, sâu sắc nhất và rộng nhất về vật chất (3

điểm)

3 Ý nghĩa khoa học và cách mạng của định nghĩa: Định

nghĩa vật chất của Lê-nin có ý nghĩa thế giới quan và

phương pháp luận sâu sắc đối với nhận thức khoa học và

thực tiễn, vì: - Nó đã giải đáp một cách đầy đủ, khoa học hai

mặt của vấn đề cơ bản của triết học dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Chống lại các quan điểm sai trái của chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan, khắc phục được các thiếu sót của chủ nghĩa duy vật siêu hình quy vật chất vào vật thể cụ thể

Chống lại thuyết “bất khả tri luận” phủ nhận khả năng nhận thức của con người

- Định nghĩa đó đã làm rõ tính khái quát, tính phổ biến của phạm trù vật chất, bao quát cả dạng vật chất trong xã hội đó

là tồn tại xã hội, tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức

xã hội Khẳng định sự đúng đắn của nguyên lý về tính vô tận,

vô hạn của thế giới vật chất

- Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các ngành khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại

Đồng thời có vai trò định hướng cho sự phát triển của nhận thức khoa học, tránh được sự khủng hoảng tương tự trong vật lý học vào cuối thế ky XIX và đầu thế kỷ XX

4 Nguồn gốc và bản chất của ý thức Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.

- Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển

tự nhiên và lịch sử xã hội do vậy để nắm được nguồn gốc của ý thức chúng ta phải xem xét trên cả hai mặt đó là tự nhiên và xã hội

Nguồn gốc tự nhiên: Đó là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên tới khi xuất hiện con người với bộ óc có kết cấu tinh vi gắn với hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc con người làm chức năng phản ảnh của bộ não, hay nói khác đi

ý thức có nguồn gốc từ vật chất được phát triển đến một cấu trúc đặc biệt có tổ chức cao nhất là bộ não con người "ý thức gắn với bộ óc con người và chỉ xuất hiện ở con người"

Nguồn gốc xã hội trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức đó

là lao động và ngôn ngữ

* Lao động là nhân tố chuyển biến con vượn thành con người, lao động sáng tạo ra con người

* Quá trình lao động đã hoàn thiện PHƯƠNG PHÁP nhận thức, PHƯƠNG PHÁP của con người

* lao động tác động vào sự vật làm sự vật bộc lộ bản chất để con người nhận tứhc và cải tạo nó

* Ngôn ngữ là tín hiệu vật chất mang ý thức là phương tiện

để khái quát hóa ý thức để biểu hiện sự tồn tại

* Ngôn ngữ là phương tiện để lưu trữ tri thức trong kho tàng trí tụê ngày nay

* Ý thức chỉ xuất hiện khi có đầy đủ cả nguồn gốc tự nhiên và

xã hội trong đó nguồn gốc xã hội đóng vai trò trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức, nguồn gốc tự nhiên là tiền đề, nền tảng

- Bản chất của ý thức: là sự phản ánh tích cực sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người

Nội dung của ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan Phản ánh ý thức khác với phản ánh khác là phản ánh sáng tạo, vì nó phản ánh trên cơ sở thực tiễn và do yêu cầu của hoạt động thực tiễn

- Vai trò của tri thức:

Trên cơ sở nhận thức đúng để đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp kiểm tra, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, cải tạo hiện thực đem lại hiệu quả cao

Phải tôn trọng thực tiễn và xuất phát từ hiện thực khách quan, phát huy năng động chủ quan của ý thức trong hoạt động thực tiễn Chống quan điểm chủ quan duy ý chí đó là cường điệu hóa và tuyệt đối hóa vai trò của ý thức lấy nguyện vọng ý chí thay cho ĐK và quy luật khách quan bất chấp quy luật

5 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Rút

ra ý nghĩa phương pháp luận và phê phán bệnh chủ quan duy ý chí?

1 Khái niệm vật chất và ý thức:

* Vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

* Ý thức: Ý thức là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống,…nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn nhất định

2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó, vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, ý thức

là cái có sau, phụ thuộc vào vật chất, do vật chất quyết định Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức, thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức của con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan Nhưng ý thức có tính độc lập tương đối, có

Trang 3

vai trò tác động trở lại đối với sự vận động và phát triển của

thế giới vật chất

*Vật chất quyết định ý thức trên 3 phương diện:

- Quyết định nội dung phản ánh của ý thức: Bởi vì ý thức bao

giờ cũng là sự phản ánh thế giới vật chất và sự sáng tạo của

ý thức là sự sáng tạo trong phản ánh và theo khuôn khổ của

sự phản ánh Hơn nữa, tự thân ý thức không thể gây ra sự

biến đổi nào trong đời sống hiện thực

- Quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: Nguồn gốc trực

tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của

ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh

hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua

lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản

phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

- Quyết định sự biến đổi của ý thức: Ý thức phản ánh thế giới

hiện thực khách quan, thế giới vật chất, bản thân nó không

thể gây ra sự biến đôitrong đời sống hiện thực Nhưng thế

giới vật chất thì luôn vận động và biến đổi không ngừng (Vận

động là phương thức tồn tại của vật chất), vì vậy khi nó thay

đổi dẫn tới làm cho ý thức cũng thay đổi theo

* Ý thức cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật

chất, bao gồm các vấn đề sau:

- Mối quan hệ giữa ý thức và vật chất vừa có tính tuyệt đối,

vừa có tính tương đối Nghĩa là, vật chất luôn là cái có trước

và quyết định ý thức, nhưng ngược lại ý thức cũng có tác

động trở lại đối với vật chất Mối quan hệ này xét về một mặt

nào đó tương tự như mối quan hệ nhân quả

- Ý thức có tính năng động to lớn, tác động trở lại thế giới vật

chất theo hai chiều: Ý thức tích cực, tiến bộ, phản ánh đúng

quy luật khách quan sẽ thúc đẩy thế giới vật chất phát triển

và chỉ đạo hoạt động thực tiễn thành công Ngược lại, ý thức

tiêu cực, lạc hậu, không phản ánh đúng quy luật khách qua

thì sẽ kìm hãm sự phát triển, tuy nhiên sự kìm hãm này chỉ là

tạm thời, không phải bất biến

Phương thức phản ánh của ý thức là thông qua hạt động

thực tiễn của con người, biến sức mạnh tinh thần thành sức

mạnh vật chất, mà biểu hiện ở chỗ đề ra các đường lối Chủ

trương chính sách đúng đắn, khoa học và phù hợp với tình

hình thực tiễn

Sự tác động của ý thức để thúc đẩy thế giới vật chất phát

triển phải có điều kiện: Ý thức phải phản ánh đúng hiện thực

khách quan, con người vận dụng tri thức đó vào hoạt động

thực tiễn, đề ra được những phương án tối ưu chỉ đạo hoạt động thực tiễn

3 Ý nghĩa phương pháp luận để giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, phê phán bệnh chủ quan duy

ý chí

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Tôn trọng và xuất phát từ thực tế khách quan:

Trước hết là điều kiện khách quan:

Quy luật khách quan:

Khả năng khách quan:

- Phát huy tính năng động chủ quan của ý thức:

Năng động trong nhận thức: Phải nhận thức đúng thực tiễn,

từ đó đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp đúng và khoa học Năng động trong tổ chức thực tiễn cách mạng…

- Đấu tranh chống mọi biểu hiện bất chấp quy luật khách quan, thụ động, tiêu cực Đặc biệt là bệnh chủ quan, duy ý chí.(Phân tích nguyên nhân và biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí)

6 Vận dụng lý luận về mâu thuẫn của triết học Mác - Lê nin để phân tích những mâu thuẫn trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay?

Giới thiệu chung

Khi nói đến mâu thuẫn, tất cả sẽ nghĩ gì về nó Theo cách hiểu thông thường và phổ biến ở nước Việt Nam ta thì mâu thuẫn là cái gì đó không hay, là xấu, là phủ nhận Đó là ý nghĩ tiêu cực về mâu thuẫn Thật ra trong mỗi sự vật hiện tượng điều tồn tại một mâu thuẫn và đó là cơ sở, là nguồn gốc cho

sự vận động và phát triển Quan điểm của Chủ nghĩa Mác

-Lê nin về mâu thuẫn sẽ cho ta rõ về điều này

A Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề mâu thuẫn:

1 Khái niệm mâu thuẫn ở những lĩnh vực khác:

Ở những lĩnh vực ngoài lĩnh vực biện chứng, có rất nhiều cách hiểu, khái niệm của mâu thuẫn như mâu thuẫn xã hội (là mâu thuẫn của những giai cấp, tập đoàn người, giữa các lực lượng, khuynh hướng xã hội có lợi ích đối lập nhau), mâu thuẫn là sự phủ định một gì đó mà có hai nội dung, hình thức trái ngược nhau, phủ định nhau

2 Khái niệm mâu thuẫn biện chứng (Lưu ý phân biệt các khái niệm)

Mâu thuẫn biện chứng dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Hay nói cách khác mâu thuẫn là sự liên hệ, tác động qua lại của hai mặt đối lập biện chứng

Cần lưu ý phân biệt khái niệm mâu thuẫn ở những phạm trù khác, đặc biệt là mâu thuẫn siêu hình: Mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các măt đối lập

3 Nhân tố tạo thành mâu thuẫn:

Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Mặt đối lập dùng

để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau (đối lập biện chứng) nhưng đồng thời là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau

4 Tính chất chung của mâu thuẫn:

Mâu thuẫn có tính khách quan, phổ biến và tính đa dạng, phong phú

* Tính khách quan, phổ biến:

Tính khách quan, phổ biến thể hiện ở chỗ mọi sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực hiện thực trong thế giới điều chứa đựng trong mình sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập

Ph Ăng ghen đã viết: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn… sự sống trước hết chính

là ở chỗ mọi sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng vừa là một cái khác Như vậy sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một muân thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến Trong lĩnh vực tư duy chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn, như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận

ở bên trong con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế, trong những năng lực nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự tiếp nối của các thế hệ, sự tiếp nối đó ít ra đối với chúng ta trên thực tiễn cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận”

* Tính đa dạng, phong phú:

Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ, mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự

Trang 4

vật Đó là: Mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, mâu thuẫn cơ

bản và không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu, …

Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn

với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong

sự biểu hiện của mâu thuẫn

* Mâu thuẫn bên trong và bên ngoài:

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại của các mặt, các

khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật

Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa các mặt,

các khuynh hướng đối lập thuộc các sự vật khác nhau

* Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự

vật, quy định phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó

tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, nó quyết định sự

nảy sinh của các mâu thuẫn khác

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một

phương diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và

phát triển của một mặt nào đó của sự vật, là mâu thuẫn quy

định bản chất của sự vật; nó có thể tồn tại trong suốt quá trình

tồn tại của sự vật, nhưng cũng có thể nảy sinh, tồn tại trong

một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật

* Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu:

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai

đoạn phát triển nhất định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều

kiện giải quyết mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn (những

mâu thuẫn thứ yếu)

Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết

nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở

giai đoạn đó

* Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp,

những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ

bản đối lập nhau

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực

lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích không cơ

bản, cục bộ, tạm thời

(Phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý

nghĩa trong việc xác định phương pháp giải quyết mâu

thuẫn)

5 Quá trình vận động của mâu thuẫn:

Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với

nhau, vừa đấu tranh với nhau

Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên

hệ, ràng buột, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của chính mình Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của nó (sự phân biệt của các từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng lắm, theo một nghĩa nào đó, cả hai đều đúng)

Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng

Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, có điều kiện, tạm thời; trong

sự thống nhất đã có sự đấu tranh, còn trong đấu tranh bao hàm tính thống nhất giữa chúng Theo V I Lenin: “Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, vận động là tuyệt đối.”

Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dang, tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể Sự tác động qua lại dẫn đến sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình

Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau Mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành,

và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn làm cho sự vật hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển

Vì vậy, sự liên hệ, tác động, và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển thế giới “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”

6 Ý nghĩa, vai trò của mâu thuẫn:

Mâu thuẫn nói chung, đấu tranh giữa các mặt đối lập nói riêng là nguyên nhân, nguồn gốc của mọi vận động và phát triển vì:

- Tác động qua lại là nguyên nhân chính và cuối cùng của mọi sự vật

- Trong tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn được giải quyết, mâu thuẫn cũa mất đi, ra đời mâu thuẫn mới làm sự vật không còn là nó

- Sự vận động và phát triển là sự thống nhất giữa liên tục và gián đoạn Sự liên tục do sự thống nhất của các mặt đối lập tạo thành; sự gián đoạn, sự vật không còn là nó do đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành

Do vậy, cả thống nhất và đấu trạnh giữa các mặt đối lập đều

có vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển

Từ cuối năm 2007 bước sang đầu năm 2008, tình hình kinh

tế nước ta biểu hiện hai trạng thái mâu thuẫn nhau Trạng thái phấn khởi trước những thành tựu về KT – XH của đất nước sau một năm gia nhập WTO, vị thế kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Mặt khác đang có trạng thái lo lắng về những dấu hiệu bất ổn của tình hình kinh

tế vĩ mô, mà nổi bật nhất và cũng là biểu hiện rõ nhất là hiện tượng lạm phát chưa kiểm soát được; Là bong bóng của thị trường bất động sản căng phồng và đang như “con ngựa bất kham” trước Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

Để góp phần lý giải hai trạng thái mâu thuẫn trên, xin có một

số ý kiến đánh giá tình hình kinh tế, nhìn từ 4 mục tiêu của kinh tế vĩ mô, mà về lý thuyết cũng như thực tế, mọi Chính phủ đều tập trung vào các công cụ chính sách để đạt cho kỳ được là: Tăng cường GDP với tốc độ cao và liên tục; Tăng

số việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp; Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát; Tăng xuất khẩu ròng

Trong 2 năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được chỉ tiêu

đề ra, với tốc độ tăng GDP bình quân khoảng 8, 5% Tuy nhiên, đằng sau kết quả này vẫn còn nhiều điều phải xem xét Đó là sự tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào chiều rộng Kinh tế tăng trưởng, nhưng tính chất của nền kinh tế gia công và khai khoáng hoàn toàn chưa thay đổi Chưa có dấu hiệu của một ngành nào, sản phẩm nào chuyển từ gia công sang thiết kế, sản xuất linh kiện sau 20 năm mở cửa và bảo

hộ (thông thường ở các nước công nghiệp mới, chỉ trong khoảng 5 – 10 năm đã có sự chuyển đổi) Sự kéo dài chính sách bảo hộ và độc quyền đối với một số ngành và lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng tới năng lực sáng tạo và cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Đây là nguyên nhân sâu xa

và cốt lõi giải thích tại sao khi biến động giá nguyên liệu và nhiên liệu của thị trường thế giới, nền kinh tế nước ta chịu

Trang 5

ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với các nước khác, trong khi

lượng tiêu thụ nguyên, nhiên liệu của thị trường nước ta ít

hơn nhiều Về quan điểm phát triển, chúng ta luôn luôn xác

định, mục tiêu tăng trưởng phải chú trọng cả số lượng và

chất lượng Nhưng trên thực tế chưa có những chính sách

thực sự có tác dụng đến chất lượng tăng trưởng

Trong các năm qua, với tốc độ tăng đầu tư phát triển nhiều

doanh nghiệp mới đã tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội

Đặc biệt trong năm 2007 đã đạt được chỉ tiêu giải quyết hơn

1, 6 triệu việc làm Tuy nhiên, tình trạng “bán thất nghiệp” ở đô

thị và nông thôn đang còn rất phổ biến Tạo việc làm mới chủ

yếu diễn ra ở khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài, trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm

lượng vốn đầu tư rất lớn Chưa có chính sách rõ nét về mối

quan hệ giữa đầu tư và giải quyết việc làm cho từng lĩnh vực,

từng địa bàn kinh tế Thị trường lao động đang phát triển tự

phát và không cân đối về cung – cầu Tình trạng thất nghiệp

và bán thất nghiệp đang tồn tại song song với tình trạng thiếu

lao động có kỹ năng trong hầu hết các ngành kinh tế Trong

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động không chuyển dịch tương

ứng với cơ cấu giá trị, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Sự

phát triển thị trường lao động không gắn liền với chính sách

đào tạo nguồn nhân lực, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa và

thiếu trong quan hệ cung – cầu Hiện nay, nền kinh tế Việt

Nam đang đứng trước nghịch lý: Thừa vốn, thiếu lao động

(lao động có kỹ năng, được đào tạo), mà đúng ra phải là

ngược lại

Có lẽ trong vòng 10 năm qua, năm 2008 là năm đầu tiên

nền kinh tế Việt Nam đứng trước sự lựa chọn rất nghiệt ngã

là ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay kiểm soát lạm

phát, khi hai mục tiêu này trở thành hai vấn đề mâu thuẫn

nhau? Nếu năm 2008, nền kinh tế tiếp tục lạm phát 2 con số,

thì những gì đã đạt được trong các năm qua sẽ bị xói mòn

và các vấn đề xã hội sẽ gay gắt hơn Diễn biến tình hình thị

trường trong những tháng đầu năm 2008 cho thấy, lạm phát

đang trở thành vấn đề kinh tế vĩ mô hàng đầu hiện nay Điều

đáng lo lắng nhất là dường như thị trường đang không còn

đi theo ý muốn của chúng ta Cụ thể là những nỗ lực của

Chính phủ trong việc kiềm chế giá cả hàng hóa, thị trường

bất động sản, hâm nóng thị trường chứng khoán đã giảm

tác dụng Vậy nguyên nhân từ đâu?

Tôi cho rằng nguyên nhân lạm phát là từ những nguyên

nhân sâu xa của nền kinh tế, còn những tác động (cả khách

quan lẫn chủ quan) trong năm 2007 chỉ là nguyên nhân nhất thời Có thể phân tích như sau:

Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa chính là nền kinh tế mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu trong nhiều năm liền do tăng đầu tư (trên 35% GDP), tăng sức tiêu thụ (doanh thu bán lẻ danh nghĩa tăng bình quân trên 20%/năm), tăng nhập khẩu (đòi hỏi phải tăng đối phần trong nước), tăng cung tiền tệ (bình quân 25%), tăng tín dụng nội địa (bình quân trên 35%), tăng công chi, trong khi đó lượng cung thực (sản lượng thực cộng với thâm hụt thương mại) chỉ tăng dưới 10% Nếu phân tích kỹ từng yếu tố tác động đến tổng cung – tổng cầu thì sẽ thấy rất rõ khoảng chênh lệch đó chính là lạm phát

Câu hỏi đặt ra là tại sao lượng cung thực tăng thấp, trong khi các yếu tố có tác động tăng cung lại tăng cao? Câu trả lời là

vì nền kinh tế không có khả năng hấp thụ các yếu tố sản xuất

để có mức tăng trưởng cao tương ứng Với mức tăng đầu

tư và tín dụng như trên, nền kinh tế trong 3 năm qua phải tăng trưởng trên 10%, chứ không phải chỉ hơn 8% Khoảng cách biệt đó là gốc của nguyên nhân gây lạm phát, khi chịu tác động bên ngoài như “những giọt nước làm tràn ly” hiện nay Do đó, để kiểm soát lạm phát, một mặt áp dụng các giải pháp mang tính tình thế, cần phải tiến hành xây dựng một hệ thống chính sách và giải pháp đồng bộ dựa trên mối quan hệ tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế

Thứ hai, nguyên nhân trực tiếp là từ các yếu tố bên trong và bên ngoài xuất hiện trong năm 2007 như biến động giá nguyên vật liệu của thị trường thế giới, thiên tai, tăng công chi, tăng khối lượng tiền tệ, tăng đột biến tín dụng, tăng tiền lương danh nghĩa Đặc biệt trong những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, “bong bóng” của thị trường bất động sản đã đẩy mạnh tổng cầu của nền kinh tế (vốn đã mất cân đối) tạo

ra hiệu ứng số nhân với các thị trường hàng hóa và dịch vụ khác Bên cạnh đó, vấn đề tăng công chi liên tục của hệ số nhân đã áp lực rất mạnh lên tổng cầu (nếu tăng công chi để đầu tư có hiệu quả sẽ tăng tổng cung, nên có thể cân đối trở lại ở mức cao hơn không làm mất cân đối tổng cung – tổng cầu); Nhưng nếu đầu tư không có hiệu quả sẽ trở thành nguyên nhân gây ra lạm phát)

Với mục tiêu tăng xuất khẩu ròng, thì không chỉ năm 2007,

mà có lẽ trong một số năm nữa cũng còn là số âm (năm

2007 âm 12, 5 tỷ USD tương đương với gần 18% GDP, vượt xa ngưỡng 5% mà về lý thuyết người ta thường cảnh báo) Năm 2007, nền kinh tế nước ta xuất hiện một nghịch lý

là cán cân thương mại thâm hụt đến 18% GDP, nhưng trên thị trường lại thừa USD đã gây khó khăn cho chính sách ổn định tỷ giá VNĐ của Chính phủ, trong điều kiện lạm phát cao Việc bù đắp thâm hụt thương mại bằng các nguồn khác như FDI, FII, ODA, kiều hối, xuất khẩu lao động đã tạo ra cảm giác yên tâm về sự an toàn trong cán cân thanh toán quốc tế

và cũng từ đó không còn bức xúc trong việc đề ra các quyết sách để sớm đạt mục tiêu tăng xuất khẩu ròng (tăng xuất khẩu ròng là cách bảo đảm an toàn và căn cơ nhất trong cán cân vãng lai đối với các thị trường mới nổi lên)

Dựa trên khung lý thuyết về 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô để phân tích sơ bộ như trên để có cái nhìn rõ hơn những trạng thái của nền kinh tế mà những con số mang nặng tính chất thống kê không thể biểu cảm hết Nếu hàng quý, 6 tháng và hàng năm có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá dựa trên phân tích tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế; Gắn với nó các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ thì mới nhận diện được bản chất của nền kinh tế đang vận động Nếu không phân tích các yếu tố đang tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế để có cái nhìn tổng thể, mà

cứ sử dụng các công cụ điều tiết cục bộ (như các biện pháp kiểm soát lạm phát) thì việc chữa bệnh đôi khi trở thành “tích bệnh”, dồn khó khăn về sau nhiều hơn

Thông thường để điều tiết mối quan hệ giữa tổng cung – tổng cầu, Nhà nước sử dụng 4 nhóm công cụ chính sách nhằm định hướng vận động của thị trường bao gồm: Chính sách tài chính; Chính sách tiền tệ; Chính sách thu nhập; Chính sách kinh tế đối ngoại Bốn nhóm chính sách trên sẽ hướng đến 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô và cần thực hiện đồng

bộ Trong tình hình hiện nay (tính cả sự bất lợi của thị trường thế giới), có lẽ đang đặt chúng ta trước 2 mục tiêu mâu thuẫn phải lựa chọn: Hoặc tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng GDP trên 7% trong năm 2009 như chỉ tiêu đề ra; Hoặc ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, chấp nhận tốc độ tăng trưởng GDP chậm hơn Khi tình thế không cho phép chúng ta đạt cả hai, thì phải ưu tiên lựa chọn một mục tiêu mà thôi

Nội tại nền kinh tế còn ẩn chứa nhiều mâu thuẫn Thứ tư, 17/11/2010, 10:15 GMT 7

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với kinh

tế toàn cầu, tham gia và chịu sự tác động chung của quy luật thị trường Tuy nhiên có điều nghịch lý là trong khi quy luật vận động của nền kinh tế thế giới theo chiều hướng chung

Trang 6

thì nội tại nền kinh tế nước ta đang ẩn chứa không ít mâu

thuẫn

Những ngày gần đây, người dân đổ xô đi mua vàng, mua

ngoại tệ, trong khi giá vàng, giá ngoại tệ tăng một cách bất

thường Điều lạ là trong khi trên thị trường thế giới, USD mất

giá, vàng lên giá, còn với Việt Nam, giá USD tăng, giá vàng

cũng tăng và tiền đồng Việt Nam mất giá một cách bất bình

thường Khi thị trường lên xuống một cách bất thường thì

người dân với tâm lý đám đông nhao vào mua bán vàng,

ngoại tệ khiến thị trường bất ổn và là cơ hội cho những kẻ

đầu cơ trục lợi

Theo số liệu thống kê thì lượng vàng dự trữ trong dân tại Việt

Nam là khoảng 1 000 tấn vào cuối năm 2009 với tổng trị giá

hơn 40 tỉ USD Điều này đưa Việt Nam trở thành thị trường

vàng lớn thứ 5 thế giới Mặc dù đây chỉ là số liệu tương đối,

tuy nhiên dù lượng vàng nắm giữ hiện nay là 800 tấn hay 1

000 tấn, nếu quy ra bằng tiền đồng hay USD, đó là con số vô

cùng lớn

Người dân Việt Nam có thói quen tích lũy vàng từ nhiều năm

nay Trước những đợt biến động giá vàng trong thời gian

gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã đổ xô mua vàng và

ngoại tệ Có thể thấy, vàng đã len lỏi vào định giá hàng hóa,

dự trữ và dẫn đến vàng hóa Và điều này cũng kéo theo

không ít hệ lụy Tiền vốn luẩn quẩn ở các thị trường vàng và

ngoại tệ mà không đổ vào sản xuất trực tiếp sẽ gây bất lợi

cho nền kinh tế, bởi chỉ có hoạt động sản xuất trực tiếp mới

tạo giá trị gia tăng thực sự Trong khi đó các ngân hàng

không huy động được vốn, đặc biệt là vốn tiền đồng

Để huy động được nguồn vốn, các ngân hàng phải tăng lãi

suất để thu hút vốn Lãi suất các ngân hàng huy động cao thì

càng gây khó khăn cho doanh nghiệp, bởi vì doanh nghiệp

kêu ca lãi suất cao bóp nghẹt hoạt động của họ, trong khi

ngân hàng cũng khốn khổ vì huy động phải tăng mạnh

nhưng cho vay ra không thể tăng tương ứng, tỷ suất lợi

nhuận giảm mà rủi ro cũng tăng cao hơn Nếu cứ để tình

trạng chạy đua tăng huy động tiếp diễn thì sẽ không hề tốt

cho doanh nghiệp, ngân hàng, lẫn toàn bộ nền kinh tế

Một thực tế, chỉ số giá tiêu dùng trong thời gian qua gia tăng

mạnh gần chạm mốc được coi là mục tiêu kiểm soát lạm

phát đang đặt ra nhiều vấn đề Các chuyên gia kinh tế cho

rằng, việc tăng lãi suất sẽ giảm bớt áp lực lên tỷ giá và đây là

biện pháp tích cực để ngăn chặn lạm phát Tuy nhiên vẫn

còn nghịch lý là lãi suất cao và lạm phát cũng cao Trong khi

đó, theo lý thuyết kinh tế, lãi suất cao lẽ ra phải góp phần kiểm soát lạm phát

Nhằm hạ nhiệt thị trường vàng và ngoại tệ, một loạt các chính sách của Chính phủ đưa ra gần đây như tăng quota nhập khẩu vàng cho các doanh nghiệp, tăng lãi suất cơ bản

và can thiệp thị trường ngoại hối Tuy nhiên, những biện pháp điều chỉnh của Chính phủ có thể mang lại sự ổn định trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài nếu không giải quyết ổn thỏa các nghịch lý và cần có biện pháp trung gian chứ không đơn giản bằng cách ngăn cấm giao dịch ngoại tệ, mua bán

và huy động vàng Bởi làm như vậy, chỉ kiểm soát được thị trường chính thức mà không kiểm soát được thị trường tự

do Và như thế tình trạng thị trường hoạt động không theo quy luật mới từng bước được điều tiết

Theo đánh giá, nền kinh tế Việt Nam đang chứa đựng hai khu vực hoạt động là hoạt động kinh tế ngầm (chiếm khoảng 30%) và khu vực hoạt động chính thức (chiếm 70%) Nếu thể chế của Nhà nước hoạt động tốt sẽ thúc đẩy số 70%

phát triển, song nếu điều tiết không đúng, không phù hợp với thực tiễn thì cho dù là khu vực chính thức, doanh nghiệp cũng tìm cách lách luật để tìm hướng phát triển cho mình

Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta vẫn phát triển nhưng là phát triển không ổn định và bền vững, nếu thể chế điều hành vẫn không có những chuyển biến căn bản (Nguồn:

SK&ĐS, 17/11)

1 Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với

sự bất cập của cơ chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện nay

Để đạt mục tiêu đến năm 2010 thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển, tốc độ phát triển kinh tế thời gian tới phải đạt mức trung bình khoảng 8%/năm(1) Chỉ bằng cơ chế, chính sách như hiện nay, chúng ta khó có thể thực hiện phát triển đột biến về khả năng khai thác những tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động trong nước, về khả năng tận dụng những cơ hội quốc tế để gia tăng mạnh và sử dụng tốt các nguồn lực từ bên ngoài Nền kinh tế hiện vẫn rất dễ bị tổn thương trước tác động không lớn lắm của những biến đổi kinh tế bên ngoài Khoảng cách về kinh tế giữa nước ta với nhiều nước trong khu vực và thế giới ngày càng mở rộng Sự tụt hậu trên lĩnh vực này chưa được ngăn chặn

2 Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN với những hạn chế trong việc tìm ra quyết sách khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường

Tính ưu việt của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thể hiện ngày càng đậm nét trước hết và chủ yếu ở khả năng bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, trong khi đó, chúng ta chưa tìm được những giải pháp hữu hiệu để giải quyết những hậu quả xã hội do tác động tiêu cực của những mặt trái thuộc kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra Nhiều vấn đề xã hội có xu hướng ngày càng gay gắt Đặc biệt, điều làm cho nhân dân hết sức bất bình, lo lắng là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân, suy thoái

về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất nghiêm trọng Văn hoá lai căng có xu hướng phát triển Hiện tượng ma chay, cưới xin, hội hè với nhiều hủ tục được khôi phục ở nhiều nơi Đạo lý xã hội, gia đình xuống cấp Tình huống mất

ổn định cục bộ có khả năng xảy ra nhiều hơn, mức độ phức tạp của tình hình gia tăng hơn Chúng ta chưa tìm được những phương hướng ngăn chặn có hiệu quả tình trạng đó

3 Mâu thuẫn giữa tính tất yếu khách quan phải nâng cao sự đồng thuận xã hội trong đổi đất nước với sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân là một điều kiện tất yếu để đưa công cuộc đổi mới tiến lên mạnh mẽ hơn Nhưng, cùng với những yếu kém của chính chúng ta, thì sự tác động của các thế lực thù địch nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình" đối với nước ta bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp và phương tiện, cả trực tiếp lẫn gián tiếp qua một số phần tử cơ hội về chính trị để chống phá trên lĩnh vực tư tưởng -lý luận đã làm cho một bộ phận cán bộ, Đảng viên và nhân dân phân tâm Chúng ta

có phần còn lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này

4 Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực chính trị với lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

và nhân dân

Trong khi cuộc sống đòi hỏi phải thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhân dân, phát huy đóng góp của nhân dân vào việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, thì tình trạng thờ Ơ chính trị, chỉ lo vun vén cho lợi ích của bản thân và gia đình, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân có chiều hướng

Trang 7

gia tăng Chúng ta chưa tìm được cách để khắc phục tình

hình này với hiệu quả cao

5 Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh đổi mới hệ thống

chính trị với sự thiếu hụt trong những biện pháp mang tính

đột phá trên lĩnh vực này

Công cuộc đổi mới kinh tế đã phát triển tới mức đòi hỏi phải

đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới tổ chức, phương thức hoạt

động của hệ thống chính trị, sự kết hợp hài hoà hơn nữa

giữa các bộ phận cấu thành hệ thống đó, song, chúng ta

chưa có những đột phá trên lĩnh vực này Đã có nhiều nghị

quyết, nhiều chủ trương chống quan liêu, tham nhũng, lãng

phí, nhưng hiệu quả thực tiễn còn thấp Bộ máy của hệ

thống chính trị còn quá cồng kềnh, cơ chế vận hành chưa

thật khoa học, tình trạng lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ giữa

các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị còn xuất hiện ở

nhiều cấp, nhiều địa phương Việc thực hiện luật pháp, kỷ

cương không nghiêm Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm

chủ của nhân dân Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đủ

mạnh, phương pháp hoạt động của nhiều cán bộ đảng,

đoàn thể còn trong tình trạng viên chức hoá Sự yếu kém

đó, nếu không được khắc phục có hiệu quả, thì một số

phương diện của hệ thống chính trị sẽ trở thành lực cản lớn

đối với đổi mới trên lĩnh vực kinh tế

6 Mâu thuẫn giữa quá trình phát triển dân chủ với tình trạng

thiếu giá đỡ về lý luận và thực tiễn cho quá trình đó

Dân chủ hoá đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động

lực của đổi mới Nhưng chúng ta chưa tìm được những giải

pháp tất nhất để xác lập vững chắc quan điểm khoa học về

dân chủ phù hợp với điều kiện một Đảng duy nhất cầm

quyền, không đa nguyên về chính trị, không tổ chức quyền

lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, chưa tìm được

những cơ chế và hình thức thực hiện dân chủ thích hợp với

truyền thống văn hoá chính trị, với trình độ dân trí, trình độ

văn hoá chung của nhân dân Dân chủ trong Đảng, trong xã

hội và ở cơ sở tuy đã được nhấn mạnh trong nhiều nghị

quyết, chỉ thị của Đảng và các văn bản pháp quy của Nhà

nước, nhưng kết quả đạt được trên thực tế còn nhiều hạn

chế Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết,

hiệu quả thấp Chưa có cơ chế để bảo đảm quyền lực Nhà

nước thực sự thuộc về nhân dân, vai trò giám sát thực hiện

quyền kiểm tra của nhân dân đối với chính quyền và cán bộ,

Đảng viên còn mờ nhạt

7 Mâu thuẫn giữa tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế với khả năng giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội nhập

Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một nhân tố tất yếu để phát triển, nhưng chúng ta còn thiếu nhất quán và lúng túng,

bị động trong việc xử lý mối quan hệ giữa mặt tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữa độc lập

tự chủ về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, lúng túng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hội nhập đồng thời nhiều cấp độ hơn, sâu hơn, rộng hơn, đa dạng hơn với việc giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc

7 Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Ý nghĩa phương pháp luận.

1 Định nghĩa thực tiễn:

Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất

có tính chất lịch sử – xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội

Phân tích định nghĩa:

Khi nghiên cứu định nghĩa thực tiễn cần nắm chắc và hiểu rõ một số nội dung sau:

Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất của con người: chỉ những hoạt động vật chất của con người mới là hoạt động thực tiễn

Bản chất của hoạt động thực tiễn đó là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể với tính tích cực của mình làm biến đổi khách thể Trong quá trình này không chỉ biến đổi khách thể, mà còn làm biến đổi ngay cả bản thân chủ thể

Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, song có thể có 3 hình thức

cơ bản sau đây:

- Hoạt động lao động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản nhất, có vai trò quyết định chi phối các hình thức hoạt động khác Chính lao động đã biến vượn thành người và là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

- Hoạt động biến đổi xã hội: là hình thức cao nhất của hoạt động thực tiễn xã hội Không có các hoạt động đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hoà bình thì không thể biến đổi được các quan hệ xã hội và xã hội nói chung được

- Thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn, đó là hoạt động của con người đượ tiến hành trong điều kiện nhân tạo, nhằm nhận thức và biến đổi tự

nhiên và xã hội Trong điều kiện tiến bộ của khoa học và kỹ thuật,thực nghiệm là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc biến các phát minh khoa học thành các giải pháp kỹ thuật và công nghệ, thành các sản phẩm phục vụ đời sống con người Với vai trò đó, thực nghiệm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất vật chất và kích thích sự biến đổi các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

Trong quan hệ với nhận thức, thực tiễn có những vai trò sau đây:

Triết học Mác khẳng định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn Trong mối quan hệ này, lý luận đóng vai trò là người dẫn đường cho hoạt động thực tiễn, thực tiễn là nơi

để kiểm chứng lại tính chân thực, đúng đắn của nhận thức Quá trình của nhận thức là: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý Thể hiện ở chỗ: nhận thức ngay từ đầu đều xuất phát từ thực tiễn và do thực tiễn quy định (là cơ sở) Chính yêu cầu của thực tiễn sản xuất vật chất và thực tiễn cải biến xã hội đã buộc con người phải nhận thức (là động lực) Nhờ có hoạt động thực tiễn, mà trước hết là lao động, con người nhận thức được thế giới xung quanh

Thực tiễn không chỉ là cơ sở mà còn là mục đích của nhận thức: Tri thức khoa học có ý nghĩa thực tiễn chỉ khi nó được

áp dụng vào đời sống Chính thực tiễn là nơi để thể hiện sức mạnh của tri thức Như vậy, nhận thức không phải là chỉ để nhận thức, nhận thức coa mục đích cuối cùng của nó là giúp con người trong hoạt động cải tạo thế giới Chính nhu cầu của thực tiễn đã dẫn đến sự hình thành và phát triển của các nghành khoa học, biến những tri thức khoa học thành phương tiện hùng mạnh giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả

Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Vì thực tiễn là nơi mà nhận thức (các tri thức đã được con người nhận thức) của con người được đưa ra áp dụng

Thực tiễn là điểm xuất phát của mọi nhận thức: vì mọi nhận thức của con người đều bắt đầu từ thực tiễn

Thực tiễn làm tự nhiên bộc lộ bản chất, đặc tính để nhận thức Như vậy, thực tiễn đã đem lại những tài liệu cho quá

Trang 8

trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất,

các quy luật vận động và phát triển của thế giới

Thực tiễn cung cấp cho con người công cụ, phương tiện để

nhận thức hiện thực khách quan Thực tiễn làm cho các giác

quan của con người phát triển và hoàn thiện Hoạt động thực

tiễn còn tạo ra các phương tiện và dụng cụ tinh vi làm tăng

thêm khả năng nhận biết của các giác quan, như: Kính hiển

vi điện tử, kính thiên văn, tầu vũ trụ, các máy tính điện tử,…

Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có các tri

thức khoa học

Cho ví dụ minh hoạ và phân tích

3 ý nghĩa thực tiễn và phê phán các quan điểm sai trái:

Từ việc nghiên cứu về thực tiễn và mối quan hệ của thực

tiễn với nhận thức, với chân lý, chúng ta có thể rút ra một số ý

nghĩa thực tiễn sau:

Xây dựng quan điểm thực tiễn đúng đắn: Phải coi trọng thực

tiễn, gắn lý luận với thực tiễn Mọi nhận thức lý luận phải xuất

phát từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra

nhận thức lý luận (kiểm tra chân lý)

Phê phán mọi biểu hiện xem nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận

với thực tiễn (sẽ rơi vào lý luận suông), chống chủ nghĩa giáo

điều hoặc chủ nghĩa kinh nghiệm thuần tuý (tuyệt đối hóa

thực tiễn mà xem nhẹ lý luận, sẽ rơi vào trường hợp mù

quáng)

8 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của

Chủ nghĩa Mác - Lê nin Vận dụng nguyên tắc này,

người cán bộ khoa học kỹ thuật phải làm gì?

* Vì sao thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ

bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin

- Vị trí vai trò: Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của chủ nghĩa

Mác-Lê Nin, vì mục đích của chủ nghĩa Mác nói chung và

triết học Mác nói riêng, để nhận thức và cải tạo thết giới

- Khái niệm và vai trò của thực tiễn: thực tiễn là hoạt động vật

chất có mục đích mang tính LSxã hội nhằm cải tạo thế giới

khách quan, không phải hoạt động vật chất nào cũng là thực

tiễn, thực tiễn mang tính LSxã hội bào giờ cũng gắn với một

giai đoạn lịch sử nhất định, bao giờ cũng giới hạn bởi một

điều kiện lịch sử nhất định, mang tính lịch sử và là một quá

trình phát triển lịch sử, hoạt động thực tiễn diễn ra trong một

môi trường xã hội nên bị chi phối theo quan điểm của giai

cấp mang tính xã hội Hoạt động thực tiễn có 3 dạng (Hoạt

động sản xuất vật chất, Đối tượng chính trị xã hội, quan sát

thực nghiệm khoa học) thực tiễn đóng vai trò là điểm xuất

phát là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức Hoạt động thực tiễn là tất yếu khách quan, chính hoạt động thực tiễn đã cung cấp những tư liệu cho khái quát nhận thức, trực tiếp tác động vào sự vật hiện tượng là cho sự vật hiện tượng bộc lộ bản chất bên trong, giúp cho nhận thức được sự vật hiện tượng, bằng hoạt động thực tiễn con người tạo ra công cụ

và phương tiện thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức

- lý luận là vai trò của lý luận: lý luận là sự tổng kết, khái quát kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, là tổng hợp các tri thức về

tự nhiên và xã hội mà loài người đạt được trong quá trình nhận thức lý luận có vai trò dẫn đường vạch phương hướng, tổ chức giác ngộ, tập hợp giai cấp, có khả năng dự báo phát triển tương lai

- lý luận và thực tiễn phải thống nhất đó là nguyên tắc: Vì xuất phát từ chức năng của lý luận nhận thức là cải tạo thế giới khách quan, thông qua hoạt động thực tiễn mà con người khái quát lý luận, từ đó lý luận quay về chỉ đạo thực tiễn để lý luận bổ xung không ngừng

* Vận dụng nguyên tắc này cán bộ khoa học phải làm gì:

- Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận, tri thức chuyên ngành, thường xuyên cập nhật kiến thức, học tập suốt đời

- Có phương pháp phân tích khoa học, phát hiện ra nhu cầu thực tiễn, nắm được bản chất của thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn phải sáng tạo, đổi mới không ngừng

- Bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn

9 Cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc xem xét:

Khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển?

* Cơ sở lý luận và nội dung nguyên tắc:

- Nguyên tắc khách quan

Cơ sở lý luận: từ mối quan hệ vật chất và ý thức, vật chất tồn tại khách quan quyết định ý thức, từ nguyên lý, quy luật, cặp phạm trù của phép biện chứng

Nội dung: Đòi hỏi trong nhận thức và hành động luôn xuất phát từ khách quan, lấy khách quan làm tiền đề, cơ sở xem xét sự vật đúng như nó có, xây dựng đặc tính trung thực, thật thà, phát huy vai trò chủ quan, độc lập suy nghĩ nghiên cứu chống khách quan chủ nghĩa, chống chủ quan duy ý chí bất chấp quy luật, điều kiện khách quan là theo ý của chúng ta

- Nguyên tắc toàn diện:

Cơ sở lý luận: Từ nguyên lý liên hệ phổ biến thì mọi sự

vật-HT đều nằm trong sự liên hệ phổ biến nhiều vẻ vô cùng

phong phú, liên hệ là khách quan, tức là không có sự vật-HT nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập

Nội dung: Nghiên cứu sự vật phải nghiên cứu toàn diện các mối liên hệ, bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp Chú ý mối liện hệ bản chất, quyết định để nhận thức đúng đắn sự vật Chống lại bệnh cực đoan phiến diện và chủ nghĩa chiết trung

- Nguyên tắc phát triển: Lô gíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động, và biến đổi của

nó để từ đó tìm ra được những mâu thuẩn của sự vật Phải thấy xu hướng phát triển của sự vật, quá trình cái cũ mất đi

và cái mới ra đời, phải ủng hộ cái mới, cái tiến bộ Chống bệnh bảo thủ, trì trệ và giáo điều

- Nguyên tắc lịch sử cụ thể: Chân lý luôn là cụ thể nên khi xem xét sự vật phải xuất phát từ ĐK KG và thế giới, gắn với hoàn cảnh tồn tại lịch sử của nó, phải biết phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể và do đó, phải sáng tạo trong nhận thức

và hành động Chống bệnh giáo điều rập khuôn máy móc, chủ nghĩa hư vô lịch sử và bệnh "chung chung trừu tượng"

10 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đảng ta vận dụng quy luật này trong sự nghiệp đổi mới đất nước?

* Phân tích quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất Đây là một trong hai quy luật rất cơ bản của phạm trù kinh tế

-xã hội chỉ ra sự tồn tại, biến đổi của -xã hội loài người là chìa khoá

để hiểu sự vận động phát triển của xã hội

a Lực lượng sản xuất: Là mối quan hệ khách quan tất yếu giữa con người với tự nhiên bao gồm con người và tư liệu sản xuất (Đối tượng lao động, công cụ và phương tiện lao động)

b Tính chất và trình độ sản xuất gồm:

- Trình độ của người lao động, của công cụ, phân công lao động, tổ chức sản xuất và quy mô sản xuất

- Tính chất Lực lượng sản xuất do trình độ Lực lượng sản xuất qui định: gồm tính chất cá nhân, tính chất xã hội hoá

Quan hệ sản xuất: Là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, là sự thống nhất biện chứng 3 yếu tố quan hệ người với người đối với sở hữu tư liệu sản xuất, đối với tổ chức

và quản lý sản xuất, đối với phân phối sản phẩm

c Nội dung quy luật:

Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ, tác động biên chứng với nhau, trong đó Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất Lực

Trang 9

lượng sản xuất là yếu tố quyết định còn Quan hệ sản xuất có vai

trò tác động trở lại mạnh mẽ đối với Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là yếu tố động và cách mạng nhất, là nội

dung của phương thức sản xuất, còn Quan hệ sản xuất là yếu

tố tương đối ổn định, là hình thức xã hội của Phương thức sản

xuất, trong đó mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội

dung quyết định hình thức nghĩa là Lực lượng sản xuất quyết

định Quan hệ sản xuất Do vậy Lực lượng sản xuất phát triển

thì Quan hệ sản suất biến đổi theo phù hợp với tính chất và trình

độ Lực lượng sản xuất

Sự phù hợp đó làm cho Lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển

Khi tính chất trình độ Lực lượng sản xuất phát triển đến một

mức độ nào đó sẽ mâu thuẫn với Quan hệ sản xuất hiện có, đòi

hỏi xoá bỏ Quan hệ sản xuất cũ để hình thành Quan hệ sản

xuất mới phù hợp với Lực lượng sản xuất đang phát triển, làm

Phương thức sản xuất cũ mất đi Phương thức sản xuất mới

xuất hiện Ngược lại Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất

trình độ của Lực lượng sản xuất sẽ tạo địa bàn rộng lớn cho sự

phát triển của Lực lượng sản xuất, trở thành động lực cơ bản

thúc đẩy Lực lượng sản xuất phát triển Khi Quan hệ sản xuất

đã lỗi thời lạc hậu không phù hợp với tính chất trình độ Lực

lượng sản xuất thì nó trở thành xiếng xích trói buộc kìm hãm sự

phát triển của Lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất còn qui

định mục đích của sản xuất, làm ảnh hưởng đến thái độ lao

động, kích thích hoặc hạn chế sự cải tiến áp dụng những thành

tựu khoa học vào sản xuất Trong xã hội có giai cấp đối kháng

mâu thuẫn của Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất biểu

hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai

cấp mới giải quyết được mâu thuẫn đó để đưa xã hội tiến lên

* Đảng ta đã vận dụng đúng đắn sáng tạo quy luật này trong

quá trình đổi mới ở VN như thế nào?

Trứơc Đaị hội VI chúng ta đã phạm một số sai lầm do chủ

quan nóng vội đã không vận dụng đúng quy luật thậm chí có

lúc còn trái quy luật Khắc phục những sai lầm đó trong công

cuộc đổi mới hiện nay đảng chủ trương từng bước hoàn thiện

quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN Thực hiện

nhiều hình thức phân phối trong đó phân phối theo lao động và

theo hiệu quả là chủ yếu đó là vận dụng sáng tạo quy luật này

của Đảng ta.(Phân tích)

- Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa không qua

chế độ TBCN là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với sự phát

triển lịch sử

- Xuất phát từ đặc điểm chủ yếu ở Việt Nam là từ sản xuất nhỏ

đi lên xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, nên theo quy luật này, Đảng ta cho rằng: Phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội không ngừng nâng cao năng xuất lao động, cải thiện đời sống nhân dân

- Phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, đa dạng về hình thức sở hữu

- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu

11 Nội dung quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng? Đảng ta vận dụng quy luật này trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

I - Phân tích quan hệ biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng

- Cơ sở hạ tầng: Là toàn bộ quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, tàn dư và mầm mống đặc trưng cho tính chất của một

Cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị qui định

- Kiến trúc thượng tầng: Là toàn bộ những quan điểm thực tiễn

xã hội, cùng với những thiết chế tương ứng và quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một Cơ sở hạ tầng nhất định như: Nhà nứơc, Đảng phái, Toà án, Tôn giáo, Nghệ thuật

Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng của một xã hội gắn bó hữu cơ với nhau có QH biện chứng với nhau hình thành quy luật phổ biến trong lịch sử xã hội loài người Trong đó Cơ sở hạ tầng quyết định Kiến trúc thượng tầng, Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và có vai trò tác động to lớn đến Cơ sở

hạ tầng

- Cơ sở hạ tầng sinh ra Kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó thế nào thì hệ thống tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học và các quan hệ các thiết chế tương ứng với những tư tưởng ấy cũng vậy Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của Kiến trúc thượng tầng, sự biến đổi đó xảy ra trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, cũng như từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, trong

xã hội có giai cấp sự biến đổi diễn ra thông qua cuộc đấu tranh giai cấp Cơ sở hạ tầng quyết định Kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế - xã hội

- Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại Cơ sở hạ tầng ở chức năng chính trị xã hội của nó nhằm bảo vệ, duy trì củng cố, phát triển Cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ Cơ sở hạ tầng

và Kiến trúc thượng tầng cũ Trong mỗi hệ thống kinh tế xã hội, Kiến trúc thượng tầng có quá trình biến đổi nhất định, nếu biến đổi phù hợp với Cơ sở hạ tầng thì có tác động hiệu quả, ngược lại nó làm kìm hãm sự phát triển của Cơ sở hạ tầng Trong giai đoạn hiện nay vai trò của Kiến trúc thượng tầng tăng lên rõ rệt

là một yếu tố tác động mạnh mẽ nhất, song nếu thổi phồng vai trò của Kiến trúc thượng tầng sẽ rơi vào Chủ nghĩa duy tâm chủ quan duy ý chí

II - Đảng ta vận dụng quy luật này như thế nào trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Quan hệ biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng thực chất là mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta mà thời gian qua đảng ta vận dụng đúng đắn quy luật này trong thực hiện đổi mới Coi đổi mới kinh

tế là trọng tâm là bước đột phá, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, phát triển định hướng

xã hội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế năng động, phong phú, đòi hỏi Kiến trúc thượng tầng cũng phải thay đổi cho phù hợp (phân tích)

- Quá trình đổi mới đất nước theo chủ nghĩa xã hội là đổi mới toàn diện cả kinh tế chính trị văn hoá tư tưởng… Trong khi lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ hàng đầu thì đồng thời phải từng bước đổi mới về chính trị sao cho phù hợp, làm cho kinh tế, văn hoá xã hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện

- Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm nhiều thành phần kinh tế nhiều hình thức tổ chức kinh tế, có nhiều quan hệ sản xuất gắn với các hình thức sở hữu khác nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường,

có sự quản lý của Nhà nước Trong đó phải làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể, tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

- Về Kiến trúc thượng tầng ở ta phải xây dựng trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo, trong đó Nhà nước là của dân, do dân vì dân

Trang 10

12 Quan niệm của Đảng ta về con đường đi lên chỉ

nghĩa xã hội?

I - Về lý luận:

Như chúng ta đã biết Hình thái kinh tế - xã hội bao gồm 3

thành phần cơ bản là lực lượng sản xuất, Quan hệ sản xuất,

Kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng tác động qua lại

lẫn nhau, hỗ trợ thành các quy luật phổ biến trong xã hội Trong

tiến trình phát triển của xã hội do yêu cầu của lực lượng sản

xuất phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với Quan hệ sản

xuất hiện thời, đến một lúc nào đó Quan hệ sản xuất phải thay

đổi để phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

xuất hiện Phương thức sản xuất mới, một Hình thái kinh tế - xã

hội mới Cơ sở hạ tầng cũng thay đổi do đó Kiến trúc thượng

tầng cũng thay đổi Dưới sự tác động tự nhiên đó của lực

lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất trong xã hội mà loài

người đã trải qua các Phương thức sản xuất khác nhau từ

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ - Chiếm hữu

nô lệ - Phong kiến - tư bản chủ nghĩa - Chủ nghĩa cộng sản

(mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội)

Thời đại hiện nay khi mà khoa học phát triển tác động mạnh

mẽ đến lực lượng sản xuất càng tạo thời cơ cho các quốc gia,

các dân tộc có thể bỏ qua một hoặc một số Hình thái kinh tế - xã

hội để phát triển lên Hình thái kinh tế - xã hội cao hơn như ở

Việt Nam chúng ta

II - Về thực tiễn:

Từ những năm 1930 đảng ta đã khẳng định con đường cách

mạng của dân tộc là sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc

dân chủ sẽ đưa Cách mạng Việt Nam tiến thẳng lên chủ

nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đó

là sự lựa chọn đúng đắn hợp với nguyện vọng của toàn đảng,

toàn dân và đúng với quy luật phát triển của xã hội, điều đó

được khẳng định qua thực tiễn của Cách mạng Việt Nam

Đảng ta cho rằng theo quy luật phát triển hình thái kinh tế - xã

hội ở Việt Nam hiện nay là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều

thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải làm cho

kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền

tảng của nền kinh tế quốc dân, xây dựng Kiến trúc thượng tầng

- xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của

dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên

cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động

13 Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là một

động lực phát triển của xã hội?

I - Định nghĩa giai cấp của Lênin: Giai cấp là những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội Như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định

- Đặc trưng của giai cấp: Giai cấp là những tập đoàn người khác nhau địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất đình

Địa vị ở đây là các môi quan hệ giữa người với người trong sở hữu Tư liệu sản xuất trong tổ chức lao động xã hội, trong phân phối sản phẩm Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định là phản ảnh thực chất vấn đề phân chia giai cấp, quan hệ giai cấp giữa các tập đoàn người thống trị và bị thống trị, bóc lột và bị bóc lột Giai cấp là một phạm trù lịch sử gắn với một Phương thúc sản xuất nhất định

II - Vì sao trong xã hội có giai cấp thì đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp

Trong xã hội có giai cấp thì đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp: Thông qua đấu tranh giai cấp sự xung đột giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lạc hậu mới được giải quyết Thực hiện bước quá độ từ một chế độ

xã hội lỗi thời sang chế độ xã hội mới cao hơn Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp không chỉ thể hiện trong thời kỳ cách mạng mà cả trong thời bình nhưng nội dung hình thức khác nhau đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi xã hội có giai cấp song quy luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể do kết cấu giai cấp trong từng Phương thức sản xuất và do tương quan lực lượng quyết định

(Không phải cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng được xem là động lực trực tiếp, mà chỉ có cuộc đấu tranh của những giai cấp nhằm thiết lập một quan hệ sản xuất mới, một Phương thức sản xuất cao hơn, ưu việt hơn mới được coi là động lực phát triển lịch sử Ngày nay chỉ có cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mới là đòn bẩy vĩ đại của Cách mạng xã hội hiện đại.)

14 Trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, đấu tranh giai cấp là tất yếu? Quan điểm của Đảng ta về nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay?

I Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đấu tranh giai cấp vẫn là tất yếu vì:

- Giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, nó vẫn còn kinh nghiệm, còn lực lượng âm mưu lật đổ chuyên chính vô sản, khôi phục địa vị của chúng

- Cách mạng vô sản thắng lợi, nhưng những cơ sở kinh tế, chính trị, tâm lý xã hội, tập quán trong nhân dân vẫn còn tồn tại làm cơ sở để duy trì giai cấp bóc lột và nảy sinh giai cấp bóc lột

- Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng triệt

để quyết liệt sâu sắc trên tất cả các mặt từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng dẫn đến sự phản kháng của giai cấp tư sản vô cùng quyết liệt cho nên phải đấu tranh để bảo vệ thành quả cách mạng.Thắng lợi của giai cấp vô sản không cùng thắng lợi một lúc trên toàn thế giới mà chỉ thắng lợi trên một nước, một quốc gia,một dân tộc hoặc diễn ra trong từng nước, trong khi chủ nghĩa tư bản trên thế giới vẫn tồn tại, vẫn tìm mọi cách nuôi dưỡng, ủng hộ giai cấp bóc lột bị lật đổ và bọn phản động chống phá cách mạng nhằm lật đổ chính quyền Thực tiễn lịch sử đã chứng minh cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ là gay go quyết liệt ở Việt Nam

II Quan điểm của Đảng ta về nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay

- Đảng ta khẳng định ở Việt Nam vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp vẫn là một thực tế khách quan

- Do quá trình đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên tổng quan về giai cấp đã có nhiều thay đổi, cơ cấu giai cấp, nội dung, tính chất vị trí của các giai cấp trong xã hội cũng đã thay đổi nhiều

- ở Việt Nam lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc đã thống nhất trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liên với chủ nghĩa

xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam là: Thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Xoá bỏ tình trạng nước nghèo kém phát triển

Xoá bỏ tình trạng người bóc lột người, thực hiện công bằng xã hội

Ngày đăng: 20/12/2021, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w