Đồngthời, cơ cấu nền kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế, lạm phát, mức toàndụng của nền kinh tế sẽ có những tác động tích cực hoặc tiêu cực đốivới doanh nghiệp.. Chẳng hạn, chính phủ đánh
Trang 1
MỤC LỤC MỤC LỤC 1
1 Yếu tố kinh tế: 2
a)Tăng trưởng kinh tế: 2
b) Chính sách kinh tế quốc gia: 3
c)Chu kỳ kinh doanh: 4
2.Chính trị và chính phủ: 5
a.Vai trò của chính phủ đối với nền kinh tế: 6
b.Các tác động chính trị - chính phủ đối với kinh doanh: 8
3.Xã hội 10
a.Dân số và thu nhập 11
b.Thái độ đối với công việc: 12
4.Tự nhiên 14
5 Kỹ thuật công nghệ: 15
1.Các đối thủ cạnh tranh: 19
2.Khách hàng 19
3.Người cung cấp: 20
4.Đối thủ tiềm ẩn mới 21
5.Sản phẩm thay thế 22
B LIÊN HỆ THỰC TIỄN: 23
Trang 2ĐỀ TÀI:
Hiện nay có hai quan điểm xử lý ảnh hưởng môi trường của tổ chức:
1 Tổ chức muốn tồn tại và phát triển phải thích nghi với môi trường
2 Tổ chức muốn tồn tại và phát triển không những phải thích nghi với môitrường mà phải còn chủ động tác động vào môi trường
Bằng kiến thức quản trị học, anh ( chị ) chọn quan điểm nào, tại sao Liên hệthực tiễn
-Một tổ chức khi hoạt động sẽ chịu sự tác động từ nhiều mặt vi mô và vĩ
mô, dĩ nhiên muốn tồn tại và phát triển cần phải thích nghi với môi trường, ngoài ra không dừng lại ở đó, nếu tổ chức muốn phát triển mạnh hơn nữa cần phải chủ động tác động vào môi trường Theo quan điểm của tôi sẽ chọn phát biểu thứ 2: “Tổ chức muốn tồn tại và phát triển không những phải thích nghi với môi trường mà còn phải chủ động tác động vào môi trường”
A KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI
Môi trường liên quan đến những thể chế bên ngoài tổ chức, tác động vào tổ chức làm ảnh hưởng đến kết quả và hoạt động của tổ chức
Môi trường thường được chia làm hai nhóm:
a) Môi trường vĩ mô (tổng quát): gồm tất cả những yếu tố ở ngoài tổ chức nhưng có khả năng ảnh hưởng mạnh đến tổ chức, mà không có liên quan rõ rệt.
b) Môi trường vi mô (đặc thù): là một phần của môi trường tổng quát, liên quan trực tiếp tới sự hoàn thành những mục tiêu của tổ chức.
I MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ:
1 Yếu tố kinh tế:
Trong môi trường kinh tế chúng ta chủ yếu tập trung xem xét các yếu tốnhư: sự tăng trưởng kinh tế, các chính sách kinh tế, chu kỳ kinh doanh vàkhuynh hướng toàn cầu hóa kinh doanh hiện nay
a) Tăng trưởng kinh tế:
Ngày nay theo phương pháp tiếp cận hiện đại, tăng trưởng kinh tếđược coi là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của một quốc gia trongmột giai đoạn nhất định Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là việc mở
Trang 3rộng tiềm năng kinh tế để sản xuất ra nhiều sản phẩm dịch vụ hơn phục
vụ cho tiêu dùng trực tiếp và tái sản xuất mở rộng
Thước đo chủ yếu để đánh giá sự thành công kinh tế của một quốcgia thường dựa trên khả năng tạo ra một giá trị tổng sản lượng ở mức cao
và có mức tăng trưởng nhanh
Đồng thời, hiệu quả của sự tăng trưởng kinh tế được đo bằng batiêu thức:
- Mức gia tăng sản lượng theo đầu người và mức tăng mức sốngcủa các cá nhân điển hình trong dân cư
- Mức gia tăng năng suất lao động xã hội cao và ổn định
- Sự tăng trưởng kinh tế hiện tại không để lại những nguy cơtrong tương lai cho nền kinh tế
Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa khi nó đem lại sựphát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi vè số lượng, chất lượngsản xuất và đời sống của một nền kinh tế - xã hội nhằm đạt đến sự thỏamãn các nhu cầu, các mục tiêu do xã hội đặt ra và coi đó là mục đích cầnđạt tới
Như vậy hiều theo nghĩa rộng, khái niệm tăng trưởng kinh tế hiệnđại cần được hiểu là một sự tăng khả năng sản xuất ra hàng hóa – dịch vụnhằm nâng cao mức sống của toàn xã hội Đồng thời quá trình phát triểnnày không để lại những hậu quả lâu dài cho nền kinh tế, cho xã hội, chomôi trường tự nhiên
Trong tiến trình này các doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo Đồngthời, cơ cấu nền kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế, lạm phát, mức toàndụng của nền kinh tế sẽ có những tác động tích cực (hoặc tiêu cực) đốivới doanh nghiệp
b) Chính sách kinh tế quốc gia:
Chính sách kinh tế thể hiện quan điểm, định hướng phát triển nềnkinh tế của Nhà nước Thông qua các chủ trương, chính sách, chính phủđiều hành và quản lý nền kinh tế và các doanh nghiệp trên phương diệnnhư quản lý Nhà nước
Trang 4Các chính sách kinh tế thể hiện những ưu đãi, khuyến khích đối vớimột số khu vực, hay ngành kinh tế nào đó Đồng thời, chính phủ cũng cóthể đưa ra những biện pháp chế tài như quy định của ngành, khu vực cấmhay hạn chế kinh doanh Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế cao đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm có hại cho sức khỏe người dânnhư: thuốc lá, rượu bia … Hoặc độc quyền quản lý các ngành kinh doanhđặc biệt như: ngành in, ngành dược…
Một quốc gia được coi là có chính sách kinh tế cới mở khi nhữngchính sách đó mang lại sự thuận tiện, và có sức hấp dẫn đối với các doanhnghiệp trong và ngoài nước Chính sách kinh tế có vai trò rất quan trọngtrong việc tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn
c) Chu kỳ kinh doanh:
Chu kỳ kinh doanh là sự thăng trầm về khả năng tạo ra của cải củanền kinh tế trong những giai đoạn nhất định Các số liệu thống kê kinh tếtrong những thời điểm quá khứ cho phép có thể thiết lập chu kỳ vận độngcủa nền kinh tế
Mỗi chu kỳ thường có 4 giai đoạn: giai đoạn phát triển, giai đoạntrưởng thành, giai đoạn suy giảm và giai đoạn tiêu điều cực điểm
- Giai đoạn phát triển: là giai đoạn mà nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng nhanh và đồng thời có sự mở rộng về quy mô
Trong giai đoạn này hàng hóa của các doanh nghiệp được tiêu thụmạnh, sản xuất mở rộng, giá cả, lương bổng, lãi suất và lợi nhuận đềutăng Do đó các doanh nghiệp thường gia tăng các đơn đặt hàng, huyđộng thêm kinh phí, thuê thêm nhân công , gia tăng đầu tư nhằm đáp ứngnhu cầu của thị trường
- Giai đoạn trưởng thành là thời điểm mà nền kinh tế đã đạt đến
mức phát triển cao nhất của nó và bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái.Thờiđiểm này thường xảy ra khi nền kinh tế đã đạt mức toàn dụng vềtiềm năng
- Giai đoạn suy giảm là thời kỳ nền kinh tế có mức tăng trưởng
chậm và kỳ sau thấp hơn kỳ trước Trong giai đoạn này hàng hóa ế ẩm,tốc độ lưu thông chậm, hàng hóa tồn kho nhiều Do đó các doanh nghiệpthường giảm lượng đơn hàng, ngừng tuyển mới hoặc sa thải những côngnhân dư thừa, không huy động thêm kinh phí, lãi suất trên thị trường vốngiảm Quy mô hoạt động của mỗi doanh nghiệp, cũng như nền kinh tế bịthu hẹp
Trang 5- Giai đoạn tiêu điều cực điểm là thời điểm suy thoái của nền
kinh tế đã xuống đến mức cực tiểu Trong thời điểm này các hoạt độngkinh tế ở thời điểm chuyển từ suy thoái sang thời kỳ phát triển của chu kỳtiếp theo
Chu kỳ kinh tế có thể diễn ra dài hay ngắn tùy thuộc vào rất nhiềuyếu tố Dựa trên những số liệu của quá khứ về tổng mức đầu tư, GNP hayGDP … Các nhà kinh tế có thể dự báo được mức tăng trưởng trongnhững kỳ tiếp theo và dựa vào số liệu của mỗi kỳ để dự báo chu kỳ củanền kinh tế trong tương lai
Chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các quyết định quảntrị và các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tại cácquốc gia phát triển, trong những giai đoạn suy thoái có thể có hàng loạtdoanh nghiệp nhó bị phá sản,
- Khuynh hướng toàn cầu hóa kinh doanh:
Nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn quốc tế hóa hết sức mạnh mẽ.Ngày nay, một sản phẩm được sản xuất tại một quốc gia có thể được tiêuthụ trên khắp thế giới và hàng hóa sẽ được sản xuất tại bất cứ nơi nào màchúng có giá thành thấp nhất, bất chấp biên giới của các quốc gia
Tuy nhiên, các nhà chính trị và kinh tế của mỗi quốc gia đều rất longại về tình hình thâm thủng cán cân xuất nhập khẩu của nước họ Khinền kinh tế bị nhập siêu thì có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước bịcạnh tranh gay gắt và có thể bị đóng cửa và nhiều công nhân sẽ mất việclàm, dẫn đến nhiều hậu quả xã hội tiêu cực Do đó, các chính phủ thường
áp dụng các chính sách bảo hộ mậu dịch bằng việc thiết lập hàng rào thuếquan, quy định về quy chế hạn ngạch nhập khẩu Các biện pháp này cóthể bảo vệ được các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, các biện pháphạn chế nhập khẩu sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng cuối cùng, bởi họ
đã phải mua sản phẩm - dịch vụ với giá cao hơn do hàng rào thuế quantạo ra Dó đó các doanh nghiệp trong nước có thể được lợi
Bởi vậy, để thành công trong nền kinh tế toàn cầu, các doanhnghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sảnphẩm và điều cốt yếu là phải không ngừng nâng cao năng suất lao động
2 Chính trị và chính phủ:
Đặc trưng nổi bật về sự tác động của môi trường chính trị - chínhphủ đối với các hoạt động kinh doanh thể hiện ở những mục đích mà thể
Trang 6chế chính trị nhắm tới Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phốitoàn bộ các hoạt động trong xã hội – trong đó có hoạt động kinh doanh.
Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các địnhhướng chính trị, nhằm quy định những điều mà các thành viên trong xãhội không được làm và là cơ sở để chế tài những hành động vi phạm cácmối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ
Trong xã hội hiện đại ngày nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinhdoanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trongcác mối quan hệ bang giao quốc tế Nhiều cuộc “chiến tranh thương mại”
đã nổ ra giữa những quốc gia muốn giành ưu thế cạnh tranh kinh tế trongcác mối quan hệ buôn bán kinh doanh Những xung đột này có thể đemlại những thiệt hại cho nhóm doanh nghiệp này, song lại có thể đem lạinhững lợi thế cho một số doanh nghiệp khác Chẳng hạn khi cuộc chiếntranh thương mại giữa Mỹ và Nhật Bản nổ ra trong năm 1995, các công
ty Mỹ tố cáo chính phủ Nhật Bản đã đóng cửa thị trường nông sản trongnước để ngăn chặn hàng hóa Mỹ Chính phủ Mỹ can thiệp bằng cách đedọa bãi bỏ quy chế ưu đãi, tăng thuế nhiều loại hàng hóa Nhật nhập khẩuvào thị trường Mỹ Sau khi hai bên đạt được một số thỏa thuận và chấmdứt sự đối đầu, phía Nhật Bản phải nhượng bộ mở cửa thị trường trongnước đối với hàng nông sản Mỹ Như vậy nhiều doanh nghiệp Mỹ đượclợi và nhiều nhà kinh doanh nông sản và nông dân Nhật sẽ gặp nhiều khókhăn hơn trong cạnh tranh trên thị trường
Qua đó, có thể thấy rằng giữa các lĩnh vực chính trị, pháp luật vàkinh doanh có mối liên hệ hữu cơ, trong đó chính phủ giữ vai trò cực kỳquan trọng Sự tác động của chính trị, pháp luật và chính phủ đối với kinhdoanh thể hiện trên một số phương diện sau:
a Vai trò của chính phủ đối với nền kinh tế:
Vai trò quan trọng của chính phủ là tạo lập, thúc đẩy, điều chỉnh vàduy trì tốc độ phát triển kinh tế Sự can thiệp ở mức hợp lý của chính phủvào các hoạt động kinh doanh là rất cần thiết bởi chính phủ phải giữ vaitrò tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi và tạo cơ hội bình đẳngcho mọi công dân được tham gia vào các hoạt động kinh doanh Chínhphủ quy định những khuôn khổ pháp lý và thiết lập các chính sách chủyếu nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế canh tranh bình đẳngtrong kinh doanh
Trang 7Vai trò của chính phủ được thể hiện qua những đặc trưng sau:
- Chính phủ phải là người tạo lập và thúc đẩy ý chí tăng trưởng
và phát triển
Bất kỳ quốc gia nào đều có mong muốn tăng trưởng và phát triểnnhanh, song điều đó có trở thành hiện thực hay không phụ thuộc rất nhiềuvào ý chí của toàn dân Để thực hiện được điều này đòi hỏi chính phủphải thể hiện quyết tâm hành động và biến quyết tâm này thành ý chí củatoàn dân Những động lực này được thể hiện qua các mặt sau:
• Gia tăng tiết kiệm tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất
• Đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực như nạn quan liên, thamnhũng, buôn lậu
• Đề cao việc tôn trọng pháp luật, duy trì trật tự kỷ cươngtrong xã hội và các hoạt động kinh tế
- Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ môChính phủ phải đặc biệt coi trọng việc thiết lập và hoàn chỉnh hệthống cơ chế, chính sách kinh tế để luôn giữ vững sự ổn định về cơ cấukinh tế trên bình diện vĩ mô Mặt khác, cần tiến hành những điều chỉnhcần thiết theo một chiến lược định lượng được trù liệu sẵn Có ba yếu tốquan trọng mà chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo sự ổn địnhkinh tế vĩ mô:
• Duy trì sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhằm kìmgiữ lạm phát ở mức có thể kiểm soát được
• Duy trì sự cân đối trong cán cân thương mại bằng việcsuy trì tỷ giá hối đoái hợp lý giữa đồng bản tệ và các loạingoại tệ
• Duy trì sự cân đối giữa tích lũy và đầu tư nhằm tránh sự
lệ thuộc và bên ngoài
- Tôn trọng các quy luật của nền kinh tế thị trường
Để thúc đẩy những mặt tích cực của cơ chế thị trường chính phủcần tôn trọng các quy luật của nó như quy luật giá trị, quy luật cung –cầu, quy luật cạnh tranh… bằng các biện pháp
• Mở rộng và thúc đẩy cạnh tranh: Chính phủ giữ vai tròtrọng tài trên “sân chơi” cạnh tranh giữa các doanhnghiệp, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế Nhớ đó tình hình kinh doanh phản ánh đúngthực lực của các doanh nghiệp
Trang 8• Duy trì cơ cấu hợp lý giữa các loại hình doanh nghiệp.Cần duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa các loại doanh nghiệpvừa và nhỏ, các tập đoàn, tổng công ty mới Chống lạicác hành vi thôn tính, sáp nhập bất hợp pháp.
• Giá cả phản ánh chính xác chi phí xã hội
Cần duy trì cơ chế định giá theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu,những doanh nghiệp nào hoạt động quá yếu kém, có mức chi phí cao hơnchi phí chung của xã hội sẽ bị thị trường loại bỏ, trừ một số hàng hóa,dịch vụ thiết yếu
- Duy trì cân đối cơ cấu tích lũy vốn trong và ngoài nướcChính phủ cần duy trì mức huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế ởmột tỷ lệ thích hợp và điều quan trọng hơn là sử dụng những nguồn vốnnày vào những khu vực có thể tạo ra sự tăng trưởng và phát triển vữngchắc cho nền kinh tế Những khu vực này bao gồm: hệ thống cơ sở hạtầng kinh tế, phát triển công nghệ cao, đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, nếu một quốc gia muốntăng 1% GDP thì phải tiết kiệm 3% - 4% GDP tự nội bộ nền kinh tế Cácnguồn vốn bên ngoài chỉ như những “mồi nhử”, có tác dụng khởi độngnền kinh tế trong giai đoạn đầu phát triển và các nguồn vốn bên ngoàiphải được liên kết chặt chẽ với nguồn trong nước và được xác định lĩnhvực đầu tư thích hợp
Tóm lại, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế giữ vai trò cực kỳquan trọng, mang tính quyết định đối với tiền đồ kinh tế của một đấtnước Bởi vậy lựa chọn định hướng phát triển, đề ra các chính sách kinh
tế thích hợp sẽ mở ra triển vọng, cơ hội cho các doanh nghiệp có thể thamgia vào sự phát triển của đất nước
b Các tác động chính trị - chính phủ đối với kinh doanh:
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh doanh, các tổ chức kinh doanhngày càng gắn bó chặc chẽ và trở thành một mắt xích trong hệ thốngchính trị - xã hội Hệ thống này tác động lên doanh nghiệp thể hiện trênmột số phương diện như cơ chế bảo hộ và rủi ro chính trị
- Cơ chế bảo hộ sản xuất trong nước
Cơ chế bảo hộ sản xuất trong nước bao gồm nhiều chính sách, biệnpháp khác nhau được thiết lập nhằm giúp các nhà sản xuất trong nướctránh khỏi (hoặc giảm bớt) sự cạnh tranh tiềm tàng (hoặc hiện tại) hay
Trang 9tránh khỏi những bất lợi chính trị từ nước ngoài Có các biện pháp bảo hộsản xuất trong nước thường được các chính phủ áp dụng là thuế quan, hạnngạch xuất nhập khẩu, trợ giá hàng trong nước và cacten.
- Sự tác động của chính trị đối với kinh doanh
Sự ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạtđộng kinh doanh Một chính phủ mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sáchphát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng được những nhu cầu chính đáng củanhân dân sẽ đem lại lòng tin và hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoàinước Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà kinh doanh đượcđảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác Do đó,các nhà kinh doanh sẵn sàng đầu tư những khoản vốn lớn vào các dự ándài hạn
Mức độ yên tâm của các nhà kinh doanh được củng cố thông qua
sự đánh giá về mức độ rủi ro chính trị Rủi ro chính trị là mức độ mà cácbiến cố và hoạt động chính trị có khả năng gây ra những tác động tiêu cựcđối với lợi nhuận dài hạn tiềm năng của các dự án đầu tư
Các nhà kinh doanh thường đánh giá mức độ rủi ro chính trị dựatrên bốn nhóm yếu tố chủ yếu gồm sự mất ổn định trong nước, sự xungđột với nước ngoài, xu thế chính trị và khuynh hướng kinh tế
- Sự bất ổn trong nước là tình trạng khủng hoảng chính phủ, luôndiễn ra các vụ lật đổ, đảo chính và các cuộc xung đột vũ trangtrong nước Khi một trong những tình huống này xảy ra sẽ làmcho mức độ an toàn về tính mạng, tài sản và các giao dịch kinhdoanh của các doanh nhân, các doanh nghiệp… rất thấp
- Xung đột với nước ngoàiXung đột với nước ngoài là mức độ thù địch mà một quốc gia thểhiện với quốc gia khác Từ những xung đột này có thể dẫn tới sự bùng nổchiến tranh nếu không được hòa giải thành công Khi xảy ra sự xung đột,các quốc gia thường áp dụng các chính sách cấm vận, trừng phạt kinh tế,chính trị,… mà các doanh nghiệp thường là nạn nhân đầu tiên
- Xu thế chính trị
Xu thế chính trị là định hướng chính trị của chính phủ sẽ áp dụngtrong chính sách điều hành quốc gia
Một chính phủ có thể áp dụng một chính sách thiên tả, thiên hữuhoặc ôn hòa, những chính sách này sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều khía cạnh
Trang 10trong nền kinh tế và các doanh nghiệp Chẳng hạn, khi một chính phủ ápdụng chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế và chú trọng đến các chínhsách xã hội thì sẽ rất thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếmcác cơ hội kinh doanh.
- Định hướng chung của nền kinh tếĐịnh hướng của nền kinh tế phản ánh những chính sách kiểm soát
về tài chính và thị trường đối với các hoạt động kinh tế, đầu tư và cácdịch vụ hỗ trợ cũng như chính sách môi trường, tài nguyên
Các chính sách điều hành và kiểm soát nền kinh tế của chính phủbao gồm chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả, chính sách vềlương bổng mà các doanh nghiệp phải áp dụng Các chính sách quản lýnền kinh tế gồm chính sách kiềm chế lạm phát, mức nợ nước ngoài, tỷ lệthâm hụt ngân sách và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như phát triển giaothông vận tải, thông tin, y tế, dịch vụ ngân hàng , điện, nước…
Những chính sách này làm cho mức độ rủi ro tăng hoặc giảm tùytheo mức độ nhất quán và cởi mở của chúng Những chính sách này thểchế hóa thành các đạo luật và chúng có hiệu quả pháp lý đối với các hoạtđộng kinh doanh
3 Xã hội
Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một môi trường xãhội nhất định và giữa doanh nghiệp với môi trường xã hội có những mốiliên hệ chặc chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Xã hội cung cấp những nguồnlực mà doanh nghiệp cần và tiêu thụ những hàng hóa, dịch vụ do doanhnghiệp sản xuất ra Các giá trị chung của xã hội , các tập tục truyền thống,lối sống của nhân dân, các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ cấu dân số, thu thậpcủa dân chúng đều có những tác động nhiều mặt đến các hoạt động củacác tổ chức kinh doanh
Trên phương diện kinh doanh có thể thấy xã hội là bức tranh bốicảnh của hai khuynh hướng trái ngược nhau, đó là cuộc đấu tranh liên tụcgiữa các tác lực của tính ổn định với các tác lực của sự thay đổi Bứctranh xã hội được thể hiện trên những khía cạnh sau:
- Tất cả mọi xã hội đều tiềm ẩn cả đặc tính ổn định và sự thayđổi
- Xã hội là những hệ thống rất năng động
Trang 11- Trong mỗi xã hội đều có những nhóm quyền lợi, những nhómhình thành dựa trên sự nhất trí về các giá trị văn hóa chung nàođó.
- Quá trình thay đổi trong xã hội diễn ra liên tục
Dựa trên những đặc tính này của xã hội, chúng ra sẽ tiến hành xemxét từng yếu tố xã hội và sự tác động của chúng đối với doanh nghiệp
a Dân số và thu nhập
Các số liệu về nhân khẩu học của dân cư trong khu vực thị trườnggồm có: tổng số nhân khẩu thường trú, độ tuổi, giới tính, mật độ và phân
bố dân cư Những dữ liệu này rất cần thiết để các nhà quản trị hoạch định
kế hoạch định vị nhà máy, sản xuất hay phân phối một sản phẩm nào đó,phục vụ để hoạch định kế hoạch kinh doanh và quyết định có nên đầu tư,thâm nhập vào thị trường đó hay không
Trong những khu vực mà người dân có thu nhập cao, sức mua sẽcao hơn những vùng dân chúng có thu nhập thấp Hơn thế nữa, nếu ngườidân có trình độ dân trí cao thì cách thức tiêu dùng, động thái mua hàng vànhu cầu hàng hóa của người dân sẽ khác với những vùng mà người dân
có trình độ dân trí thấp
Mặt khác, độ tuổi, giới tính, số lượng dân cư… cũng là những yếu
tố mà bất cứ doanh nghiệp nào dự định đầu tư hay bán hàng trong bất cứkhu vực nào cũng cần phải nắm vững Những vùng có nhiều người lớntuổi thì sẽ có như cầu cao đối với các dịch vụ y tế - bảo vệ sức khỏe Cònnhững vùng có nhiều trẻ em thì có nhu cầu cao đối với các dịch vụ giáodục, quần áo trẻ em hay đồ chơi…
- Ảnh hưởng của mức tăng dân số và thu nhập đối với kinhdoanh
Nhiều quốc gia tuy có mức tăng trưởng GDP khá cao nhưng domức tăng dân số hàng năm cũng ở mức cao nên đã làm triệt tiêu những
ưu thế của tăng trưởng kinh tế Bởi phần gia tăng thu nhập quốc dân đãphải đưa vào trang trải cho những nhu cầu “tiêu dùng trực tiếp” của bộphận dân cư mới tăng thêm Dó đó, không có tích lũy để tái đầu tư (cảđầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu) cho chu kỳ sản xuất tiếp theo Nhưvậy, chỉ sau một vài năm mức tăng GDP sẽ bị chững lại bởi không cónguồn đầu tư bổ sung
Trang 12Chẳng hạn, ở nước ta, sau mười năm đối với kinh tế đã đạt đượcnhiều thành tựu, đời sống của người dân đã ổn định và mức sống của một
bộ phận dân cư đã được nâng cao Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số vẫn ở mứckhá cao, phần lớn lực lượng lao động thuộc khu vực sản xuất nông nghiệpvốn là khu vực có năng suất rất thấp Do đó, dù mức tăng GDP của nước
ta khá cao, song mức thu nhập bình quân đầu người tăng không đáng kể
và vẫn là những nước có thu nhập thấp so với thế giới
Hiện nay mỗi năm lực lượng lao động nước ta tăng thêm khoảngmột triệu người, đây là là lực lượng lao động dồi dào song cũng có thề làmột gánh nặng cho nền kinh tế nếu không có đủ việc làm cho họ
Mặt khác, thu nhập và đời sống của đại bộ phận nhân dân đã đượcnâng cao, có nhiều người trở nên giàu có Do đó, sức mua của người dântăng lên rất nhanh và nhu cầu tiêu dùng mua sắm cũng thay đổi nhanhchóng Đây cũng là những cơ hội, đe dọa cho các doanh nghiệp gia tăngsản xuất, phục vụ nhu cầu của xã hội
b Thái độ đối với công việc:
Ngày nay, thái độ đối với công việc, đối với công ty của con ngườiđang có những thay đổi mạnh mẽ, những thay đổi này được thể hiệnthông qua hai tiêu thức cơ bản là lòng trung thành với tổ chức và đạo đứclàm việc
Trong những năm trước đây tại nhiều quốc gia phát triển như NhậtBản hay các nước Châu Á khác … xuất hiện khái niệm “con người của tổchức” Khái niệm này thể hiện sự gắn bó, trung thành của người côngnhân đối với công ty (tại các công ty lớn) bởi khi người lao động manghết tâm huyết và sức lực để phục vụ công ty thì họ có được sự an toàn vềchỗ làm việc, có cơ hội thăng tiến
Cũng trong những thời điểm đó, tại các quốc gia áp dụng mô hìnhkinh tế tập trung – bao cấp, người công nhân không bị nỗi lo mất việclàm, làm thu nhập không cao nhưng ở mức ổn định đủ để duy trì cuộcsống của gia đình họ
Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội ngày nay đã có những biếnđộng hết sức mạnh mẽ và những thay đổi đó đã tác động đến thái độ đốivới công việc của con người