"đối lập với xã hội toàn trị".5 Về khái niệm xã hội dân sự, Charles Taylor 1990 đã phân biệt ra ba xu hướng quan niệm chính : xu hướng thứ nhất là quan niệm độc đoán về xã hội của Hobbes
Trang 1Bài chuyên đề viết cho Đề tài nghiên cứu "Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với kinh tế thị trường và xã hội dân sự" (Chủ nhiệm : TS
Bùi Nguyên Khánh ; cơ quan chủ trì : Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Chuyên đề Tính đặc thù của xã hội dân sự
và các nhân tố ảnh hưởng, quyết định đến hình thái riêng biệt
của xã hội dân sự
Trần Hữu Quang
TP.HCM, ngày 28-1-2012
Trang 2Mục lục
trang
1 Định nghĩa khái niệm xã hội dân sự 2
2 Giải tỏa một số quan điểm ngộ nhận 6
3 Tính đặc thù của xã hội dân sự 9
a Hàn Quốc 10
b Nhật Bản 10
c Trung Quốc 12
4 Các nhân tố mang tính chất ảnh hưởng quyết định đối với hình thái riêng biệt của xã hội dân sự 13
a Nhà nước pháp quyền 14
b Cấu hình vận hành giữa định chế nhà nước với các định chế xã hội 15
c Các tổ chức xã hội dân sự 15
d Tầng lớp trung lưu 17
5 Vài dòng kết luận 18
Tài liệu tham khảo 22
Trang 3Khái niệm "xã hội dân sự" là một khái niệm tương đối mới mẻ và được bàn luận khá sôi nổi trên các văn đàn ở Việt Nam trong khoảng hơn một thập niên qua Vì cho đến nay vẫn còn nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này, nên theo chúng tôi, việc tìm hiểu về tính đặc thù của xã hội dân sự trong bài chuyên đề này cần được khởi sự từ việc xác lập một định nghĩa nhất định, để từ đó công trình này mới có một cơ sở nhất quán để tiến hành công việc tìm tòi và phân tích
1 Định nghĩa khái niệm xã hội dân sự
Thuật ngữ civil society trong tiếng Anh (société civile trong tiếng Pháp, bürgerliche Gesellschaft hoặc Zivilgesellschaft trong tiếng Đức,
гражданскоe общество trong tiếng Nga) thường được sử dụng một cách
tương ứng trong tiếng Việt là "xã hội dân sự", hay "xã hội công dân", nhưng cũng có một số người gọi là "xã hội dân chính", "xã hội nhân dân", hay "xã hội thị dân"
Theo Du Khả Bình (2007), một học giả Trung Quốc, thuật ngữ tiếng
Anh civil society thường được dịch sang tiếng Trung bằng ba thuật ngữ là "xã
hội thị dân" (市民社会), "xã hội dân gian" (民间社会) và "xã hội công dân" (公民社会), nhưng phổ biến nhất hiện nay là thuật ngữ "xã hội công dân" "'Xã
hội thị dân' là cách dịch kinh điển của từ 'civil society' trong những bản dịch các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác sang tiếng Trung Tuy nhiên, nhiều người lại dùng thuật ngữ này để chỉ xã hội tư sản, vì thế nó ít nhiều mang ý nghĩa tiêu cực 'Xã hội dân gian' được nhiều nhà sử học sử dụng khi nghiên cứu về tổ chức dân gian trong thời kỳ Trung Quốc cận đại, nhưng chủ yếu là
để nói tới các tổ chức trung gian giữa người dân và nhà nước, mà không thể hiện được hết ý nghĩa chính trị của từ nguyên gốc tiếng Anh 'civil society' Sau năm 1978, thuật ngữ 'xã hội công dân' được giới học giả Trung Quốc sử dụng và dần trở nên phổ biến trong giới học thuật nước này."1
Ở Nhật Bản cũng đã từng xảy ra nhiều cuộc tranh luận xung quanh việc
dịch thuật ngữ civil society ra tiếng Nhật Lúc đầu, người ta sử dụng cụm từ shimin shakai (theo nghĩa đen là citizen society, tức "xã hội công dân"), nhưng
vì chữ shimin dung chứa nội hàm ý thức hệ, nên về sau, người ta đành chấp
1
Du Khả Bình "Xã hội công dân Trung Quốc : khái niệm, phân loại và hoàn cảnh
chế độ", Tạp chí Khoa học Xã hội Trung Quốc, số 1-2006, dẫn lại theo Phùng Thị
Huệ, Phạm Ngọc Thạch, "Xã hội công dân Trung Quốc : cơ sở hình thành và môi
trường chính sách", Tạp chí Triết học, số 7 (194), tháng 7-2007, tr 25-26
Trang 4nhận buộc phải chế tạo ra một cụm từ trung tính là shibiru sosaeti, cụm từ phiên âm ra tiếng Nhật từ cụm từ civil society trong tiếng Anh.2
Theo thiển ý chúng tôi, ở Việt Nam ngày nay, chúng ta nên thống nhất
sử dụng cụm từ "xã hội dân sự" (vì cụm từ "xã hội công dân" có ý nghĩa khác, không trùng khớp với xã hội dân sự)
Một cách khái quát, chúng ta cần hiểu rằng xã hội dân sự là khái niệm gắn liền với hình thái xã hội hiện đại trong trào lưu kinh tế tư bản chủ nghĩa
"Sự đồng hóa của Hegel giữa xã hội 'dân sự' với xã hội 'tư sản' không phải là một sự ngẫu nhiên Hiện tượng mà ông gọi tên là bürgerliche Gesellschaft là một hình thái xã hội đặc thù lịch sử Mặc dù 'xã hội dân sự' này không chỉ nói đến các định chế thuần túy 'kinh tế' ( ), [nhưng] 'nền kinh tế' hiện đại vẫn là điều kiện chủ yếu của nó."3
Có rất nhiều cách hiểu và cách định nghĩa khác nhau của các tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam liên quan tới khái niệm xã hội dân sự.4 Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc tới hai định nghĩa của Nguyễn Kiến Giang và của Charles Taylor, trước khi nêu ra định nghĩa mà chúng tôi đề xuất
Trong quyển Từ điển xã hội học của Nguyễn Kiến Giang (do Nguyễn
Khắc Viện làm chủ biên, 1994), tác giả không dùng cụm từ "xã hội dân sự"
mà dùng thuật ngữ "xã hội công dân", và gắn khái niệm này đi đôi với khái niệm nhà nước pháp quyền Có thể nói đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ nhất về khái niệm xã hội dân sự lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn nghiên cứu
bằng tiếng Việt Tác giả coi xã hội công dân là "một thành tựu to lớn của sự phát triển lịch sử của con người", và định nghĩa đây là "xã hội trong đó các công dân là chủ thể của xã hội và do đó của nhà nước, nhà nước phục tùng lợi ích của công dân mà không phải ngược lại" "Những yếu tố cấu thành [xã hội công dân] là : sở hữu của các công dân với tư cách cá nhân, các quyền tự nhiên của con người và các quyền tự do cá nhân của công dân, chế độ dân chủ về mặt chính trị và nhà nước pháp quyền." Xã hội công dân được xem như
2
Xem Frank Schwartz, "Introduction: Recognizing Civil Society in Japan", in Frank
J Schwartz, Susan J Pharr (Ed.), The State of Civil Society in Japan, Cambridge,
Cambridge University Press, 2003, tr 4
3
Ellen Meiksins Wood, "The Uses and Abuses of 'Civil Society'", The Socialist Register, 1990, tr 62
4
Xem thêm Trần Hữu Quang, "Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân sự", Tạp chí
Khoa học xã hội, số 07 (131), 2009, tr 3-16, và Trần Hữu Quang, "Một số quan niệm đương đại về xã hội dân sự", Tạp chí Khoa học xã hội, số 12 (136), 2009, tr
13-23
Trang 5"đối lập với xã hội toàn trị".5
Về khái niệm xã hội dân sự, Charles Taylor (1990) đã phân biệt ra ba
xu hướng quan niệm chính : xu hướng thứ nhất là quan niệm độc đoán về xã hội của Hobbes cũng như quan niệm chống độc đoán của Rousseau và Locke
(mà Taylor gọi là quan điểm L, "L-view"), xu hướng thứ hai là quan niệm của
Montesquieu cho rằng xã hội dân sự vừa nằm trong, vừa có thể ảnh hưởng tới
các chính sách nhà nước (Taylor gọi là quan điểm M, "M-view"), và xu hướng
thứ ba là quan niệm của Hegel nằm giữa hai quan niệm trên
Theo Taylor, quan điểm L cho rằng xã hội dân sự nằm bên ngoài lĩnh vực chính trị, còn quan điểm M của Montesquieu thì cho rằng xã hội dân sự chính là sự hội nhập của xã hội vào các tổ chức chính trị bằng cách tham gia vào sự phân chia quyền lực Quan điểm của Hegel, và cũng là của Taylor, nằm
ở giữa hai quan điểm L và M vì cho rằng cũng cần phải có sự tồn tại của những hiệp hội độc lập không mang mục đích chính trị Sở dĩ như vậy không
phải là để hình thành một không gian phi chính trị (a non-political sphere),
mà thực ra là để hình thành nền tảng cho sự chia tách và sự đa dạng của quyền lực ngay bên trong nội bộ hệ thống chính trị Khi giải thích tư tưởng của Hegel, Taylor cho rằng xã hội dân sự không hẳn là một lĩnh vực nằm bên ngoài quyền lực chính trị, mà thực ra nó thâm nhập sâu xa vào ngay bên trong
quyền lực này Những thành tố của xã hội dân sự thực sự mang tính chất "lưỡng cư" (amphibious)
Taylor phân biệt ba ý nghĩa của xã hội dân sự : (a) bao gồm những hiệp hội tự nguyện không nằm dưới sự giám hộ của nhà nước ; (b) đây là nơi mà xã hội tự cấu trúc chính mình và điều phối các hoạt động của mình thông qua các hiệp hội tự nguyện ; (c) tổng thể những hiệp hội có khả năng quyết định hoặc ảnh hưởng quan trọng đến quá trình ban hành các chính sách của nhà nước.6
Trong bối cảnh Việt Nam đương đại, nhằm mục tiêu xác lập một khái niệm mang tính phân tích, tức là có hiệu lực phân tích được xã hội Việt Nam đương đại, chúng tôi đề xướng một cách hiểu về khái niệm xã hội dân sự như sau, xuất phát từ những ý tưởng của Georg W.F Hegel (1770-1831) và từ lý thuyết của Antonio Gramsci (1891-1937):7
Trang 6(a) Xã hội dân sự là một khái niệm được dùng để chỉ không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước và ngoài lĩnh vực riêng tư của cá nhân và gia
đình, bao gồm tổng thể các định chế tương đối độc lập với nhà nước và các hoạt động tự nguyện trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội Như vậy, xã hội dân sự là một không gian trong đó diễn ra các hoạt động của những thành tố xã hội như nhà trường, bệnh viện, nhà hát, báo chí, các đài phát thanh và truyền hình, các hiệp hội, các tổ chức xã hội và các đảng phái chính trị, các giáo hội, các doanh nghiệp, công ty, ngân hàng
(b) Xã hội dân sự và nhà nước cấu thành hệ thống xã hội tổng thể của một nhà nước/quốc gia (tức nhà nước hiểu theo nghĩa rộng), trong đó nhà
nước (hiểu theo nghĩa hẹp) là nơi thực hiện chức năng cưỡng chế (coercion),
và xã hội dân sự là nơi thực hiện sự thống lãnh (hegemony) hay lãnh đạo (direction) về mặt văn hóa-tư tưởng của giai cấp thống trị bằng cách tạo ra sự đồng thuận (consensus) nơi các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội Vì thế,
xã hội dân sự có những mối quan hệ ít nhiều chặt chẽ và hữu cơ với nhà nước Nhưng đồng thời, nó cũng có tính độc lập tương đối, bởi lẽ nếu không tạo ra được sự đồng thuận nơi xã hội dân sự, thì nhà nước sẽ không còn giữ được sự
thống lãnh tư tưởng, và vì thế tất yếu sẽ mất đi tính chính pháp 8 của mình và
chỉ còn nắm được sự cưỡng chế mà thôi
(c) Xã hội dân sự là nơi luôn luôn xuất hiện những xung đột về lợi ích,
và do đó là nơi diễn ra những cuộc đấu tranh về mặt kinh tế cũng như về mặt
văn hóa-tư tưởng giữa giai cấp thống trị với các giai cấp và tầng lớp bên dưới, cũng như giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm xã hội với nhau
(d) Hình thái xã hội dân sự chỉ xuất hiện khi ra đời hình thái kinh tế-xã
hội tư bản chủ nghĩa, trong khuôn khổ của hình thức nhà nước hiện đại tương ứng là nhà nước pháp quyền Do đó, xã hội dân sự chỉ thực sự tồn tại khi xác
lập được một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa và lành mạnh.9
Ramasamy, "Civil Society in Malaysia: An Arena of Contestations?", trong Lee
Hock Guan (chủ biên), Civil Society in Southeast Asia, Singapore, Institute for Southeast Asian Studies, 2004 ; Muthiah Alagappa (chủ biên), Civil Society and Political Change in Asia: Expanding and Contracting Democratic Space, Palo
Alto, Stanford University Press, 2004 ; Ingrid Landau, "Law and Civil Society in
Cambodia and Vietnam: A Gramscian Perspective", trong Journal of Contemporary Asia, Vol 38, No 2, tháng 5-2008
Trang 7Định nghĩa mà chúng tôi nêu ra trên đây coi xã hội dân sự như một khái niệm phân tích, tức là được dùng để phân tích mối quan hệ giữa xã hội với nhà
nước Ở đây, có lẽ cũng cần nhắc lại điểm lưu ý của Gramsci khi ông nhấn mạnh rằng sự phân biệt giữa khái niệm xã hội dân sự với khái niệm nhà nước
thực ra là một "sự phân biệt mang tính phương pháp luận" và cần tránh rơi vào một "sự phân biệt máy móc" mang tính giản lược.10
Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh đến ý nghĩa "phân tích" (analytical) của
khái niệm xã hội dân sự là do vẫn còn tồn tại nhiều ngộ nhận trong những cách hiểu liên quan tới khái niệm này ở Việt Nam lâu nay, và chúng tôi cho rằng phần lớn các định nghĩa đều thiên về tính chất "công cụ"
(instrumentalist) mà chúng tôi cho rằng cần phải giải tỏa
2 Giải tỏa một số quan điểm ngộ nhận
Trước hết là ngộ nhận trong nhận thức về bản chất của thị trường Cho
dù quan niệm rằng xã hội dân sự bao hàm thị trường (tổng thể xã hội bao gồm : nhà nước và xã hội dân sự) hay không bao hàm thị trường (tổng thể xã hội bao gồm : nhà nước, thị trường, và xã hội dân sự), nhiều người thường cho rằng thị trường là một lĩnh vực hoàn toàn độc lập, nằm bên ngoài chính trị, chỉ tuân theo những qui luật kinh tế riêng của nó, được điều hành bởi "bàn tay vô hình", vì thế nhà nước nhất thiết không được can thiệp vào Từ đó, ý niệm về một thị trường độc lập và tự điều tiết được trường phái tự do chuyển sang thành ý niệm về sự độc lập và khả năng tự điều tiết của xã hội dân sự đối với nhà nước.11 Trong lịch sử, quả là sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khởi phát từ quá trình hình thành thị trường Thế nhưng, những
quyền như quyền tự do sản xuất (laisser-faire, "để cho làm"), quyền tự do buôn bán (laisser-passer, "để cho đi qua", cũng tương tự như việc bãi bỏ
những qui định "ngăn sông cấm chợ" ở Việt Nam trước đây), quyền tự do sử dụng tài sản, quyền tự do hợp đồng (hay khế ước) hay nói chung nền mậu dịch
tự do hoàn toàn không phải là những cái tự nhiên mà có hoặc tự động xuất hiện, mà tất cả đều là sản phẩm của những hoạt động của nhà nước.12
Karl Polanyi (1944) trong công trình nổi tiếng The Great Transformation viết rõ như sau : "Lịch sử kinh tế cho thấy rằng sự nổi lên của
Xem Danièle Lochak, "La société civile : du concept au gadget", in Jacques
Chevalier et al., La société civile, Paris, Presses Universitaires de France, 1986, tr
49
Trang 8các thị trường quốc gia hoàn toàn không phải là kết quả của sự giải thoát tiệm tiến và tự phát của lĩnh vực kinh tế ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Ngược lại, thị trường là kết quả của một sự can thiệp có ý thức và thường mang tính chất bạo lực từ phía chính quyền vốn áp đặt tổ chức thị trường lên
xã hội nhằm vào những mục tiêu phi kinh tế."13
Trước đó, chính Antonio Gramsci cũng từng nêu lên một nhận xét phần
nào tương tự để phê phán quan điểm của trường phái tự do kinh tế : "Chúng ta buộc phải thừa nhận rằng hệ thống mậu dịch tự do chính nó cũng là một sự 'qui định hóa' [réglementation] mang dấu ấn của nhà nước, do các luật lệ và
sự cưỡng chế đưa ra và duy trì : đây là kết quả của một ý chí có ý thức về các mục tiêu của mình, chứ không phải là sự biểu hiện bột phát, tự động của sự kiện kinh tế Như vậy, hệ thống mậu dịch tự do là một chương trình chính trị [programme politique] nhằm mục tiêu thay đổi nhân sự lãnh đạo của một nhà nước và thay đổi chương trình kinh tế của chính nhà nước, nghĩa là thay đổi
sự phân phối thu nhập quốc dân – nếu nó thắng thế [tức là nếu nó lên nắm
chính quyền – chú thích của chúng tôi, T.H.Q.]."14
Ngộ nhận thứ hai là ngộ nhận trong sự phân biệt quá giản lược giữa
công và tư, cũng như trong sự phân biệt máy móc giữa lĩnh vực chính trị với lĩnh vực kinh tế Cao Huy Thuần (2004) phân tích như sau : "Chủ nghĩa tư bản tràn vào câu hỏi đó [thế nào là công thế nào là tư, đâu là biên giới giữa công và tư] để tách biệt hoạt động kinh tế, hoạt động thương mại ra khỏi lĩnh vực công, lĩnh vực Nhà nước, và tuyên bố : lĩnh vực kinh tế không phải là lĩnh vực của Nhà nước, đó là lĩnh vực của tư nhân, do đó thị trường thuộc vào xã hội dân sự Song song với xác quyết đó, chủ nghĩa tự do đưa ý thức hệ vào ngay, quả quyết rằng tự do cạnh tranh mang lại cho xã hội dân sự khả năng
tự điều tiết – với điều kiện là không được có một can thiệp nào ngoài can thiệp kinh tế vào những trao đổi kinh tế Nghĩa là Nhà nước không được can thiệp Nói như vậy, các lý thuyết gia của chủ nghĩa tự do mô tả đúng một thực trạng mới, khuynh hướng mới, diễn ra trước mắt mọi người, nhưng họ không phải chỉ mô tả, họ còn nâng sự mô tả lên thành nguyên tắc, quy luật, như thử phát xuất từ bản chất của sự vật, của thiên nhiên, của chân lý muôn đời Từ
đó, Nhà nước là xấu, vì cưỡng bức ; xã hội dân sự là tốt, vì tự do [ ] Đứng
về mặt nhận thức khoa học, không có gì lầm lẫn cho bằng, bởi vì không thể vạch ra biên giới giữa Nhà nước và xã hội dân sự cũng như không thể vạch ra
Trang 9biên giới giữa chính trị và phi chính trị."15
Như Hegel và Marx đã nói, trong các chế độ phong kiến và tiền tư bản chủ nghĩa, toàn bộ xã hội đều thuộc về nhà nước, thuộc về lĩnh vực chính trị ; sau đó, với sự ra đời của xã hội tư bản chủ nghĩa, các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo dần dà tách ra khỏi lĩnh vực chính trị Nhưng, theo Danièle Lochak (1986), nếu từ đó mà suy ra rằng có một sự khác biệt về bản chất giữa cái gì thuộc về chính trị và cái gì không, thì đó là một "huyền thoại"
Bà Lochak viết như sau : "Hẳn nhiên, không phải tất cả mọi chuyện đều mang tính chất chính trị, nhưng chính trị là một chiều kích cấu thành nên các cộng đồng con người, thấm nhiễm vào toàn bộ đời sống xã hội, kể cả đời sống hàng ngày của chúng ta, và do đó sẽ là hão huyền nếu có tham vọng tách nó riêng
ra khỏi những cái khác Vì không thể vạch ra được cái ranh giới ấy, nên việc định nghĩa xã hội dân sự như toàn bộ các mối quan hệ phi chính trị là một định nghĩa sai lầm về mặt khái niệm."16
Ngộ nhận thứ ba là cho rằng xã hội dân sự là một dạng tổ chức, một phương thức tổ chức xã hội nhất định, hay một mô hình xã hội nhất định Quan niệm này đã lầm lẫn giữa một khái niệm trừu tượng được dùng để phân tích hiện thực xã hội, với một lý tưởng xã hội mà người ta nỗ lực vươn tới, và
vì thế đã làm cạn kiệt nội hàm mang tính phân tích học thuật của khái niệm xã hội dân sự và biến nó thành một thứ ước mơ hay thậm chí một thứ huyền thoại Nếu người ta biện minh rằng dù sao thì vẫn có thể sử dụng khái niệm xã hội dân sự như một "mô hình xã hội lý tưởng" để phê phán hiện thực xã hội, thì e rằng đây chỉ là một sự phê phán đặt nền tảng trên sự ước mơ (cho dù hết sức tốt đẹp !), chứ chưa phải là một sự phê phán thực thụ dựa trên vũ khí của
sự phân tích duy lý
Thường đi đôi với ngộ nhận trên đây là ngộ nhận thứ tư quan niệm về
xã hội dân sự như một định chế (institution) hay một tác nhân xã hội (social actor), từ đó mặc nhiên biến xã hội dân sự vốn là một khái niệm phức hợp –
hiểu theo nghĩa là một không gian – dung chứa nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều giai cấp, tầng lớp và nhiều định chế xã hội khác nhau, thành một "đối tác" (của nhà nước), một "lực lượng đối trọng" (với nhà nước và/hoặc với thị trường), hoặc một tổ chức "trung gian" (giữa nhà nước với cá nhân) – làm như thể "xã hội dân sự" là một khối người đồng dạng, đồng quan điểm, bình đẳng
Trang 10Trong quyển A Dictionary of Sociology (Từ điển xã hội học), Gordon
Marshall (1998) nhận xét rằng có nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội dân
sự, tuy nhiên người ta thường đồng ý về những đặc trưng chính sau đây của khái niệm xã hội dân sự : (a) khái niệm này nói về đời sống công cộng
(public) hơn là đời sống riêng tư (private) hay sinh hoạt gia đình ; (b) nó nằm
ngoài gia đình và nhà nước ; và (c) nó tồn tại trong khuôn khổ nhà nước pháp
quyền (rule of law).17 Chúng tôi muốn bổ sung thêm một đặc trưng thứ tư : đó
là việc định nghĩa khái niệm xã hội dân sự nhất thiết không thể tách rời khỏi mối quan hệ với nhà nước
Xuất phát từ định nghĩa mà chúng tôi đã đề xướng trong mục trên, chúng tôi sẽ thử tìm hiểu về tính đặc thù của hình thái xã hội dân sự trong các quốc gia khác nhau
3 Tính đặc thù của xã hội dân sự
Nếu hiểu xã hội dân sự là một không gian công cộng nằm giữa nhà nước và gia đình, thì hệ quả tất nhiên là chúng ta không thể coi xã hội dân sự như là một thực thể có một hình hài thống nhất và giống nhau trên khắp thế giới ! Diện mạo xã hội dân sự cụ thể trong từng quốc gia trước hết tùy thuộc chủ yếu vào hình thái nhà nước của quốc gia Mặt khác, mỗi cộng đồng xã hội, mỗi quốc gia vào từng thời điểm lịch sử cụ thể nhất định đều có những nét đặc trưng độc đáo xét về các mặt chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội cũng như xét về mặt cấu hình xã hội nói chung
Do vậy, việc nghiên cứu về xã hội dân sự của một cộng đồng xã hội hay của một quốc gia nào đó vào một thời đoạn nào đó thực chất là sử dụng khái niệm xã hội dân sự – xét như một khái niệm trừu tượng – để phân tích một hiện thực lịch sử cụ thể của hình thái xã hội dân sự, và đặc biệt là phân tích những đặc trưng của các mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể ấy
Nhìn một cách khái quát trên thế giới, Bertrand Badie và Pierre Birnbaum đã từng phân biệt hai loại hình xã hội dân sự tiêu biểu đối lập nhau : loại hình nhà nước cai quản xã hội dân sự (mô hình Pháp), và loại hình
xã hội dân sự tự tổ chức, nơi mà nhà nước chỉ có mặt ở mức độ tối thiểu (mô hình Anh-Mỹ).18 Hay nhìn dưới một giác độ khác, chúng ta cũng có thể phân
Bertrand Badie, Pierre Birnbaum, Sociologie de l'État, Paris, Ed Grasset, 1979,
dẫn lại theo Danièle Lochak, "La société civile : du concept au gadget", trong
Trang 11biệt ít nhất hai hình thái xã hội dân sự tương ứng với hai loại hình nhà nước điển hình trên thế giới : nhà nước phúc lợi hay nhà nước xã hội ở Tây Âu, và
nhà nước tân tự do (neo-liberal) ở Mỹ
Trong khuôn khổ giới hạn của bài chuyên đề này, chúng tôi sẽ chỉ thử điểm lại dưới đây ba hình thái xã hội dân sự đặc thù ở ba quốc gia Đông Á, đó
là Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc
a Hàn Quốc
Theo nhận xét của Choe Hyondok (2009), trong bối cảnh chính quyền độc tài quân sự của Park Chung-Hee (Pắc Chung Hi) trong giai đoạn 1961-
1987, khi mà hai mục tiêu được đưa ra đồng thời là vừa phát triển kinh tế, vừa
chống Cộng, thì "sự phát triển của xã hội dân sự với tư cách một lĩnh vực độc lập với nhà nước là hết sức khó khăn" "Trong bối cảnh đó, chính nhà thờ Cơ Đốc giáo và những nhóm tín hữu đã có những đóng góp quan trọng trong việc vượt qua 'uy quyền vạn năng' của quan điểm chống cộng và tạo dựng một vị thế thích hợp giữa 'chúng ta' và 'kẻ thù' như là một khả năng cho việc phát triển một xã hội dân sự độc lập với nhà nước" thông qua các hoạt động đa
dạng của các tổ chức và các phong trào của cả giáo hội Công giáo lẫn giáo hội Tin lành Kể từ năm 1987 trở đi, với sự ra đời một chính quyền dân chủ hình thành qua cuộc bầu cử tự do, chấm dứt thời kỳ độc tài, thì lúc này mới bắt đầu
mở ra giai đoạn dân chủ hóa và mở rộng dần dần phạm vi hoạt động của xã
hội dân sự ở Hàn Quốc Như vậy, có thể nói rằng "xã hội dân sự Hàn Quốc nảy sinh từ trong cuộc đấu tranh vì công lý chống lại sự áp bức tàn bạo của kinh tế thị trường được hậu thuẫn bởi một chính phủ độc tài", và trong thực tế
"đã diễn ra nhiều xung đột rất gay gắt trong khuôn khổ của xã hội dân sự".19
b Nhật Bản
Theo Frank Schwartz (2003), tâm thức truyền thống chủ đạo trong xã hội Nhật Bản luôn luôn đề cao vai trò của nhà nước, và thường đồng hóa chiều kích xã hội vào chiều kích nhà nước Do quyền lực nhà nước mang tính tập trung cao độ và do uy thế của các viên chức lãnh đạo cấp cao nên thời kỳ Minh Trị canh tân kể từ năm 1868 thực chất là thời kỳ giảm bớt những hoạt động phi lợi nhuận tư nhân vốn đã rất mạnh trước đó dưới thời kỳ phong kiến Tokugawa Ngay cả Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi, 1835-1901), một
Jacques Chevalier et al., La société civile, Paris, Presses Universitaires de France,
Trang 12trí thức nổi danh vào thời ấy, cũng đã phải khước từ mọi sự bổ nhiệm của chính phủ chính là vì ông muốn nêu lên một tấm gương độc lập trong một quốc gia mà các công dân luôn bị phụ thuộc nặng nề vào nhà nước.20
Xã hội Nhật trước Thế chiến thứ hai, theo Maruyama Masao, cũng vẫn
còn bị bao trùm bởi chiều kích nhà nước, và vẫn gặp phải "một sự thất bại trong việc đặt ra một làn ranh rõ rệt giữa lĩnh vực công với lĩnh vực tư".21
Đến thời kỳ sau chiến tranh, theo Yamaoka, các tổ chức phi chính phủ lúc ấy
còn bị coi là "những thực thể ngoại lai, dị thường, khác lạ, xa lạ và kỳ quái".22
Từ đầu thời Minh Trị, nhà nước và doanh nghiệp ở Nhật Bản đã gắn kết với nhau một cách hết sức chặt chẽ, và theo lời Helen Hardacre, hệ quả của
tình hình này là "cả hai đã uốn nắn và định hình lối diễn ngôn công cộng về lợi ích công đến mức mà cực kỳ khó để phân biệt được sự tồn tại của một không gian công cộng [public sphere] nằm giữa hai lĩnh vực này Do vậy, viễn tượng về một không gian công cộng theo ý nghĩa cổ điển, tự do, là hết sức hạn hẹp trong suốt lịch sử Nhật Bản hiện đại, đó là chưa kể nó [tức không gian công cộng] bị bao trùm bởi những vấn đề của thị trường."23
Chính trong bối cảnh ấy, theo Pekkanen, ở Nhật Bản, chính nhà nước đóng vai trò định hình cho xã hội dân sự, chứ không phải là triệt tiêu xã hội dân sự.24
Ở Nhật Bản, cuộc thảo luận về xã hội dân sự không chỉ đi đôi với cuộc thảo luận về nhà nước mà còn cả cuộc thảo luận về thị trường hay về chủ nghĩa tư bản Vai trò thống lãnh của các đại công ty cũng như sự tháp nhập của công nhân vào các cộng đồng công ty với tư cách là thành viên của công
ty hơn là tư cách công dân của xã hội chính trị, tất cả những điều này khiến cho các nghiệp đoàn đóng một vai trò yếu ớt hơn trong xã hội dân sự Trong khi đó, phong trào bảo vệ người tiêu dùng không chỉ nhằm mục tiêu đại diện cho lợi ích của người tiêu dùng trước các cơ quan nhà nước, mà còn nhằm giáo dục các cá nhân về các quyền lợi và trách nhiệm của mình trong một xã
20
Xem Frank Schwartz, "Introduction: Recognizing Civil Society in Japan", in
Frank J Schwartz, Susan J Pharr (Ed.), The State of Civil Society in Japan,
Cambridge, Cambridge University Press, 2003, tr 5