1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau

84 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 10 năm triển khai GĐGR trên địa bàn huyện A Lưới, chương trình đã đạt được một số kết quả như sau: Về khía cạnh kinh tế, trong 2 hoạt động của chương trì

Trang 1

VÕ THANH NHANH

TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN SINH SỐNG TẠI KHU

VỰC RỪNG NGẬP MẶN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

VÕ THANH NHANH

TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN SINH SỐNG TẠI KHU

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 26 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Võ Thanh Nhanh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vithu thập dữ liệu 3

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1.1 Các khái niệm 4

2.1.2 Phương pháp đánh giá tác động chính sách 8

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

2.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến GĐGR 9

2.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ 13

2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC GIAO ĐẤT GIAO RỪNG 16

2.3.1 Yếu tố chính sách GĐGR 16

2.3.2 Các yếu tố thuộc đặc điểm kinh tế xã hội của hộ 17

2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 21

Trang 5

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 23

3.1.1 Khung phân tích 23

3.1.2 Mô hình đánh giá tác động 23

3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 25

3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong phân tích định lượng 25

3.2.2 Dữ liệu thứ cấp 27

3.2.3 Dữ liệu sơ cấp 27

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 29

3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 29

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 31

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 31

4.1.2 Thực trạng chính sách GĐGR ngập mặn của tỉnh Cà Mau 36

4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU PHỎNG VẤN 40

4.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn 40

4.2.2 Tình trạng nhà ở và các vật dụng thiết yếu 42

4.2.3 Thu nhập của hộ 43

4.3 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GĐGR ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN SINH SỐNG TẠI RỪNG NGẬP MẶN TỈNH CÀ MAU 44

4.3.1 Kiểm định điều kiện của phương pháp khác biệt kép 44

4.3.2 Tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập của người dân 45

4.4 NGUYÊN NHÂN CỦA KẾT QUẢ ẢNH HƯỞNG TỪ CHÍNH SÁCH GĐGR ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN SINH SỐNG TẠI KHU VỰC RỪNG NGẬP MẶN TỈNH CÀ MAU 48

4.4.1 Diện tích đất rừng giao cho hộ 48

4.4.2 Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương 49

4.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 52

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 54

Trang 6

5.1 KẾT LUẬN 54

5.2 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 55

5.2.1 Hoàn thiện chính sách giao đất, giao rừng 55

5.2.2 Tạo điều kiện cho hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau tham gia chính sách GĐGR được tiếp cận tín dụng chính thức 56

5.2.3 Khai thác rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau 57

5.2.4 Các chính sách hỗ trợ về quản lý rừng và sản xuất 58

5.2.5 Thu hút vốn đầu tư phát triển rừng 58

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DID Khác biệt trong khác biệt (khác biệt kép)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong nghiên cứu 26

Bảng 4.1: GDP theo khu vực kinh tế qua các năm 34

Bảng 4.2: Diện tích đất rừng giao cho các tổ chức, hộ gia đình thời điểm 2015 38

Bảng 4.3: Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn tại thời điểm năm 2015 41

Bảng 4.4: Tình trạng sở hữu các vật dụng thiết yếu của hộ gia đình 42

Bảng 4.5: Tình trạng nhà ở tại thời điểm năm 2015 43

Bảng 4.6:Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình 44

Bảng 4.7: Khác biệt giữa 2 nhóm hộ tại thời điểm chưa có chính sách (năm 2011) 45 Bảng 4.8: Thu nhập của ngườidân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi không xét đến các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ 46

Bảng 4.9: Thu nhập của ngườidân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi có xét đến các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ 47

Bảng 4.10: Diện tích đất rừng của nhóm hộ hưởng lợi thời điểm năm 2015 48

Bảng 4.11: Chính sách hỗ trợ đối với người dân được GĐGR 49

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 3.1: Khung nghiên cứu của đề tài 23

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép 25

Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau 31

Hình 4-2: Lý do không tham gia chính sách GĐGR 50

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Từ xưa đến nay, rừng luôn đóng vai trò quan trọng đối với môi trường cũng như sự sống của con người Rừng không chỉ đơn thuần có ý nghĩa về chức năng sinh thái, mà còn là không gian sinh tồn và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia

Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hạn chế sự suy thoái rừng và quản lý bền vững hơn nguồn tài nguyên quý giá này, trong đó, giao đất giao rừng (GĐGR) là một chính sách lớn trong quản lý rừng và có tác động nhiều nhất đến cuộc sống của người dân Kể từ khi triển khai chính sách GĐGR (năm 2003) đến nay, cuộc sống của người dân đã có nhiều thay đổi Việc thực thi chính sách đã góp phần đem lại sự thành công về tỷ lệ tăng trưởng rừng, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (Nguyễn Thị Mỹ Vân, 2015)

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau (2015), rừng ngập mặn Cà Mau có tổng diện tích 60.000 ha, tập trung nhiều nhất ở huyện Ngọc Hiển với 41.400 ha, chiếm 69% diện tích rừng ngập mặn toàn tỉnh; 18.600 ha còn lại, tương đương 31% diện tích rừng ngập mặn được phân bổ ở các huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Phú Tân, Trần Văn Thời và U Minh

Trong những năm qua, tỉnh Cà Mau rất chú trọng đến việc thực thi chính sách GĐGR cho người dân kết hợp với việc triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong đó có tái cơ cấu lâm nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng của rừng Đến cuối năm 2015, có 9.000 hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn đã được giao 40.000 ha đất rừng; diện tích chưa giao là 20.000 ha (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, 2015) Thu nhập bình quân năm 2015 của hộ được GĐGR trung bình là 220 triệu đồng/năm, gấp 1,3 lần so với mức thu nhập trung bình 170 triệu đồng của hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm

2015 (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, 2015)

Trang 10

Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về chính sách GĐGR, chủ yếu tập trung đánh giá chính sách GĐGR ở khu vực miền núi hoặc đánh giá chính sách GĐGR đối với dân tộc thiểu số Kể từ khi chính sách GĐGR được triển khai trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2007 đến nay, trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của chính GĐGR đối với người dân

Vấn đề đặt ra là, chính sách GĐGR của tỉnh Cà Mau thời gian qua có thực sự cải thiện thu nhập cho hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn hay không? Từ

đó tác giả chọn đề tài “Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của

hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài này nghiên cứu tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau Trên cơ sở đó đưa ra một số gợi ý cho chính sách GĐGR của tỉnh Cà Mau trong thời gian tới

Ba mục tiêu trên nhằm trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu:

Chính sách GĐGR có thực sự tác động đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau hay không? Nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng này?

Chính sách GĐGR cần phải có những điều chỉnh như thế nào để nâng cao thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn?

Trang 11

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách GĐGR đối với rừng ngập mặn và hộ dân sinh sống trong vùng rừng ngập mặn là đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối với hộ dân sinh sống trong vùng rừng ngập mặn, có 02 nhóm đối tượng: (1) Nhóm xử lý/nhóm thụ hưởng chính sách GĐGR; (2) Nhóm kiểm soát/nhóm so sách là những hộ dân có điều kiện tương đồng nhưng họ không được GĐGR

1.3.2 Phạm vithu thập dữ liệu

Về không gian: Huyện Ngọc Hiển có diện tích rừng ngập mặn lớn, chiếm 69% diện tích toàn tỉnh và chiếm 70% số hộ được GĐGR của toàn tỉnh nên đề tài chọn huyện Ngọc Hiển làm đại diện cho cả khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau

Về thời gian: thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong giai đoạn

2011 - 2015 Số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 02/2016 đến tháng 04/2016

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID – diffence in difference) hay còn gọi là khác biệt kép để đánh giá tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau

1.4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn bao gồm các chương dưới đây:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 12

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1.1 Các khái niệm

2.1.1.1 Nông dân, nông thôn

Theo Bùi Quang Dũng (2012) thì nông dân là người dân làm nghề nông Người nông dân vừa là tác nhân kinh tế, vừa là chủ một gia đình Một gia đình nông dân không đơn giản là một đơn vị sản xuất, đó cũng là một đơn vị tiêu dùng Gia đình nông dân không chỉ nuôi dưỡng các thành viên của nó mà còn cung cấp cho họ những hoạt động khác

Theo Phan Văn Thạng (2008) thì nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.1.1.2 Hộ gia đình, nông hộ

Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý Trong đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (kể cả nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội Do tác động của nền kinh tế thị trường, hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam được phân loại thành:

hộ gia đình thuần nông, hộ gia đình nông nghiệp - phi nông nghiệp, hộ gia đình phi nông nghiệp

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì nông hộ là gia đình nông dân ở nông thôn, sinh sống bằng nghề nông hoặc một số ngành nghề phụ khác Nông hộ là đơn vị sản xuất quan trọng đối với nông nghiệp Liên hợp quốc (1993) khái niệm về

“Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, làm chung và có chung một ngân quỹ

Trang 13

Theo Frank Ellis (1993) thì nông hộ được khái niệm như là một hộ gia đình

mà trong đó các thành viên trong nông hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp hoặc theo Nguyễn Lân (2000) thì nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông

Như vậy, nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau

2.1.1.3 Thu nhập

Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong một ngày, 1 tuần hay 1 tháng; hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập Thu nhập bình quân/người/tháng được tính bằng cách chia tổng số thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

2.1.1.4 Thu nhập của hộ gia đình

Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp

Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn

bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,…

Trang 14

Cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,…

2.1.1.5 Rừng và giao đất, giao rừng

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các quần thể thực vật rừng, động vật rừng,

vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên (Luật Bảo vệ và phát triển rừng, 2004) Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng

Giao đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất (Luật đất đai, 2003) Giao đất khác với cho thuê đất Cho thuê đất là hình thức Nhà nước hoặc các chủ sử dụng đất tạm thời chuyển quyền sử dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành

Giao đất, cho thuê đất là nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai, được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua giao đất và cho thuê đất Việc giao đất và cho thuê đất phải đảm bảo các nguyên tắc là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đúng thẩm quyền; đúng đối tượng; theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; đúng hạn mức, thời hạn; do UBND các cấp có thẩm quyền thực hiện Việc giao đất, cho thuê đất được thực hiện thông qua các hình thức Nhà nước có thu tiền và không thu tiền sử dụng (Luật Đất đai, 2003)

Giao rừng là việc Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất và rừng cho các đối tượng trong xã hội.Hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp chỉ có quyền sử dụng đất; được giao rừng tự nhiên chỉ có quyền sử dụng rừng, chứ không

có quyền sở hữu rừng Rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư thì có quyền sở hữu rừng (Luật Bảo vệ và phát triển rừng, 2004)

Trang 15

Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), giao rừng được Nhà nước triển khai với nhiều đối tượng khác nhau: (1) Ban quản lý vườn quốc gia, Ban quản lý khu bảo tồn; (2) Ban quản lý rừng phòng hộ; (3) Lâm trường/công ty kinh doanh rừng; (4) Cộng đồng thôn, bản, xã; (5) Hộ gia đình/cá nhân; (6) Các tổ chức chính trị xã hội dân sự khác như Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên

Như vậy, khi xem xét chính sách, chúng ta thấy có một số đặc điểm chung: Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; Nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; Chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng (Ngô Tự Nam, 2012)

Đánh giá chính sách là đánh giá tính toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách, nhằm điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và thực tế (Nguyễn Minh Thuyết, 2010 được trích trong Võ Thanh Sơn, 2013) Theo Ngô Tự Nam (2012), đánh giá chính sách là phân tích động lực của chính sách, tính cấp bách của chính sách, đồng thời dự báo hiệu quả của chính sách khi tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) thì đánh giá chính sách là quá trình xem xét, đánh giá mục tiêu, nội dung và các ảnh hưởng của chính sách, để từ đó đưa ra những kiến nghị về chính

Trang 16

sách trên cơ sở lợi ích xã hội

Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các

cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại

Có 2 cách đánh giá chính sách: (1) Sử dụng các dữ liệu về lịch sử của những đối tượng thụ hưởng và “dự đoán” kết quả thông qua các kỹ thuật kinh tế lượng truyền thống; (2) So sánh nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách (còn gọi là nhóm

xử lý) với nhóm “đối chứng” - tức là nhóm đối tượng không hưởng lợi từ chính sách (còn gọi là nhóm kiểm soát) với điều kiện nhóm đối tượng không thụ hưởng chính sách có những đặc điểm tương tự nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách Leeuw và Vaessene (2009) cho rằng đánh giá tác động chủ yếu quan tâm đến kết quả cuối cùng của những can thiệp như là chương trình, dự án đến phúc lợi cộng đồng, gia đình, cá nhân Theo Khandker và cộng sự (2010) các phương pháp đánh giá tác động được áp dụng phổ biến như sau:

(1) Đánh giá ngẫu nhiên hóa (Randomized evaluation)

(2) Phương pháp đối chiếu (Matching method), đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM-propensity score matching)

Trang 17

(3) Phương pháp khác biệt kép (DID-diffence in difference)

(4) Phương pháp biến công cụ (IV-Instrument Variable)

(5) Thiết kế Gián đoạn hồi qui (Regression Discontinuity) và Phương pháp tuần tự (Pipeline)

Luận văn này sử dụng phương pháp phân biệt kép (khác biệt trong khác biệt)

sẽ trình bày cụ thể ở chương 3

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến GĐGR

Nguyễn Thị Mỹ Vân (2015) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách GĐGR đến sinh kế bền vững của người dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế đã sử dụng khung sinh kế để đánh giá tác động của chính sách GĐGR Trên cơ sở khảo sát bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu người dân tộc thiểu số được Nhà nước GĐGR và sử dụng kỹ thuật kiểm định Chi bình phương Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 10 năm triển khai GĐGR trên địa bàn huyện A Lưới, chương trình đã đạt được một số kết quả như sau:

Về khía cạnh kinh tế, trong 2 hoạt động của chương trình là giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý và giao đất lâm nghiệp để người dân trồng rừng), hoạt động giao rừng tự nhiên hầu như chưa đem lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng, do phần lớn rừng tự nhiên trên địa bàn huyện A Lưới được xác định là rừng phòng hộ,

sự hưởng lợi của người dân rất hạn chế Bên cạnh đó, những khu rừng được giao cho dân chủ yếu là rừng nghèo kiệt, nên hiệu quả kinh tế thấp Trái lại, chương trình trồng rừng trên địa bàn ngày càng thu hút sự tham gia của người dân, góp phần tạo thêm việc làm cho một số bộ phận dân cư, đặc biệt là tầng lớp trẻ, tạo cơ hội cho người dân có thêm nguồn thu, từ đó giúp cải thiện đời sống hộ gia đình, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về quan hệ hàng hóa sức lao động

Xét ở khía cạnh các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình, chương trình trồng rừng đã góp phần nâng cao nguồn vốn nhân lực cho người dân thông qua sự tiếp nhận khoa học kỹ thuật, tiếp cận các nguồn tri thức mới, vốn xã hội của cộng đồng

Trang 18

cũng được mở rộng hơn thông qua các mạng lưới trao đổi hàng hóa và thông tin; vốn vật chất của hộ gia đình và cộng đồng cũng được nâng cấp, đầu tư, cải thiện nhiều hơn so với những năm trước

Về khía cạnh xã hội, chương trình đã tạo cơ hội cho người dân được tham gia các khóa tập huấn, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, được giao lưu học hỏi, được tiếp cận với các phương tiện hiện đại

Về khía cạnh môi trường, việc triển khai chính sách GĐGR đã dẫn đến những thay đổi về mục đích sử dụng tài nguyên: góp phần làm tăng giá trị sử dụng đất, phát triển kinh tế hàng hóa, tạo cơ hội cho người dân được tiếp cận với các nguồn sinh kế mới, tạo thêm việc làm

Về góc độ quản lý, việc thực thi chính sách GĐGR đã làm thay đổi các quyền hưởng dụng về đất rừng của các tộc người ở huyện A Lưới: quyền sở hữu rừng truyền thống của cộng đồng và phương thức quản lý rừng theo luật tục đã dần được thay thế bởi hệ thống quản lý rừng theo luật pháp

Tuy nhiên, chính sách GĐGR vẫn còn một số hạn chế như: Thứ nhất, tình trạng nghèo ở địa phương vẫn còn nghiêm trọng Tỷ lệ nghèo thực tế của người dân (38,6% hộ nghèo và 12,7% hộ cận nghèo) cao hơn rất nhiều so với con số thống kê của chính quyền các cấp; Thứ hai, người nghèo có một số hạn chế về tiếp cận thông tin, sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác các lâm sản phi gỗ; Thứ ba, trong quá trình triển khai GĐGR, đã làm nảy sinh hiện tượng xung đột về lợi ích nhóm diện tích đất rừng có mối quan hệ với tình trạng kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện A Lưới: hộ nghèo có diện tích đất rừng ít hơn so với hộ không nghèo

Nguyễn Thị Thu Trang (2012) đã nghiên cứu về phân quyền sở hữu tài sản trong giao rừng cho cộng đồng ở Tây Nguyên Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để phân tích việc quản lý, khai thác tài nguyên rừng ở Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Tây Nguyên tồn tại cơ chế tiếp cận mở hệ thống rừng xuất phát từ chỗ Nhà nước nắm giữ diện tích rừng lớn nhưng quản lý, bảo vệ không hiệu quả Một bộ phận lớn người dân địa phương có điều kiện tiếp

Trang 19

cận, sử dụng rừng thực tế nhưng không được trao quyền pháp lý đã làm nảy sinh sự cạnh tranh, mâu thuẫn giữa các đối tượng tiếp cận, sử dụng rừng Nhà nước không

đủ nguồn lực kiểm soát các hoạt động khai thác rừng trên diện rộng Hộ gia đình, doanh nghiệp được giao rừng nhưng không có khả năng chi phối đến tài sản rừng, loại trừ khai thác, sử dụng của người khác và đảm bảo an toàn quyền hưởng dụng,

vì thế không có động cơ để quản lý, bảo vệ và đầu tư dài hạn vào rừng Từ đó, tác giả khuyến nghị cần tiếp tục nhân rộng mô hình giao rừng cho cộng đồng; thừa nhận người dân có tư cách pháp nhân theo luật dân sự để tham gia giao dịch liên quan đến tài sản rừng; Hỗ trợ tài chính đối với cộng đồng được Nhà nước giao rừng đặc biệt là bắt đầu giao rừng để cộng đồng có nguồn vốn trong việc trồng, chăm sóc

và bảo vệ rừng

Nguyễn Bảo Huy (2013) khi nghiên cứu về cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng ở Tây Nguyên đã đi sâu nghiên cứu mô hình quản lý rừng cộng đồng đã được phát triển và thử nghiệm ở 6 thôn buôn thuộc 4 tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Dak Lak, Dak Nông Kết quả nghiên cứu cho thấy giao rừng và cấp quyền sử dụng rừng cho cộng đồng dân cư thôn buôn là tiền đề để phát triển quản lý rừng cộng đồng Các nguồn lợi kinh tế từ rừng tự nhiên cho người nhận rừng nói chung bao gồm:

Gỗ: Gỗ đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng sống gần rừng như làm nhà, chuồng trại, nhà rẫy, các công trình công cộng, thủy lợi, hàng rào, ; đồng thời giá trị thương mại của gỗ luôn là một tiềm năng tạo ra thu nhập cao Khả năng cung cấp gỗ của rừng phụ thuộc vào trạng thái giàu nghèo của rừng được giao Lâm sản ngoài gỗ: Đây là nhóm sản phẩm rất đa dạng, mức độ giàu nghèo của

nó phụ thuộc vào trạng thái rừng giao, đồng thời phụ thuộc vào kinh nghiệm, kiến thức sử dụng rừng của người bản địa Trong thực tế lâm sản ngoài gỗ luôn đóng vai trò quan trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân tộc thiểu số, cung cấp thực phẩm, cây thuốc, làm công cụ lao động, để bán, chăn nuôi Tuy nhiên các loại lâm sản ngoài gỗ thường phân tán, quy mô nhỏ; chỉ một số loại có thể có sản phẩm lớn tập trung ở một vài nơi như song mây, măng, tre nứa, sa nhân,

Trang 20

Dịch vụ môi trường rừng: Đây là nguồn lợi tiềm năng, hiện đang được thảo luận và phát triển; bao gồm việc chi trả dịch vụ môi trường của rừng như bảo vệ nguồn nước cho thủy lợi, thủy điện, thu hút khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, bảo tồn đa dạng sinh học hưởng lợi từ gỗ thương mại là trực tiếp và thiết thực nhất đối với người nhận rừng tự nhiên Khả năng khai thác gỗ thương mại phụ thuộc vào trạng thái rừng khi giao, vì vậy cần có chính sách giao các trạng thái rừng giàu nghèo khác nhau cho cộng đồng quản lý và tạo thu nhập, không chỉ chủ trương giao đất trống và rừng nghèo kiệt như hiện nay

Tổng giá trị gỗ thu được từ thí điểm rừng cộng đồng trong thời gian này ở Tây Nguyên là 6,8 tỷ đồng, bình quân mỗi thôn buôn tổng thu được 1,5 tỷ/năm; và theo

cơ chế trên sau khi trừ chi phí, thuế, trích cho xã, cộng đồng còn được 48%, tức mỗi thôn buôn có khoảng 700 triệu đồng/năm Thu nhập này là đáng kể với cộng đồng nghèo và tạo ra động lực bảo vệ và phát triển rừng Số tiền này được phân chia theo quy ước, mỗi hộ dân mỗi năm có được 4 - 6 triệu đồng và quỹ cộng đồng mỗi thôn mỗi năm bình quân thu được 250 triệu đồng, phục vụ cho bảo vệ và phát triển rừng Nguyễn Thị Hồng Mai và Hoàng Huy Tuấn (2013) nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách GĐGR cho cộng đồng bước đầu đã phát huy được hiệu quả, có tác dụng cải thiện thu nhập cho cộng đồng

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của chính sách GĐGR là thiếu hỗ trợ từ bên ngoài Sau khi giao rừng, hầu như chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng “giao phó” toàn bộ trách nhiệm quản lý rừng cho cộng đồng, trong khi đó cộng đồng thiếu năng lực và kinh phí để thực hiện công việc này Kiểm lâm địa bàn chỉ chú trọng đến việc kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến rừng cộng đồng, chứ chưa chú trọng đến việc hỗ trợ cộng đồng trong việc quản lý rừng;

Hệ thống khuyến nông khuyến lâm chưa quan tâm đến việc hỗ trợ cho cộng đồng sau khi được giao rừng Vấn đề tiếp cận nguồn tài chính và tín dụng là không thể thực hiện được đối với các rừng cộng đồng hiện nay

Nhóm tác giả cũng đã đúc kết các điều kiện để giao đất rừng thành công cho

Trang 21

cộng đồng gồm:

Chất lượng rừng giao cho cộng đồng có thể là một yếu tố quan trọng vì

nó ảnh hưởng trực tiếp đến hưởng lợi về mặt kinh tế của cộng đồng Khi rừng giao cho cộng đồng có chất lượng thấp, cộng đồng phải mất một thời gian dài chờ đợi mới được hưởng lợi từ rừng

Loại rừng cộng đồng sẽ đồng ý nhận rừng phòng hộ để bảo vệ chỉ khi nó được giao cùng với một diện tích lớn rừng sản xuất Cộng đồng thích rừng tự nhiên hỗn loài (gỗ và phi gỗ)

Vị trí rừng: Rừng gần cộng đồng thì dễ cho cộng đồng đi tuần tra nhưng lại dễ

bị khai thác trái phép Trong khi những khu rừng được giao ở xa khu dân cư là rất khó khăn cho việc tuần tra nhưng ít bị phá hủy Tuy nhiên nhìn chung người dân không thích được giao những khu rừng ở xa và khó tiếp cận

Diện tích rừng: Diện tích rừng giao cho cộng đồng là rất linh hoạt, phụ thuộc rất nhiều vào diện tích rừng sẵn có ở địa phương Diện tích rừng được quản lý bởi mỗi cộng đồng không nên quá nhỏ nhưng cũng không quá rộng vì nó có thể vượt quá khả năng của họ để quản lý rừng có hiệu quả và có thể tạo nên sự không công bằng cho các cộng đồng xung quanh

Yếu tố quan trọng để chính sách GĐGR có hiệu quả bền vững là cần phải tăng cường sự hỗ trợ từ bên ngoài đối với cộng đồng sau khi giao rừng gồm: Nâng cao năng lực về quản lý rừng cho cộng đồng (chú trọng đến những quyền và nghĩa vụ khi được nhận rừng; kỹ thuật khai thác, cách thức tổ chức điều hành, quản lý, phát triển rừng của cộng đồng…) và chính quyền địa phương cần quan tâm đến việc hỗ trợ về kỹ thuật và tín dụng

2.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ

Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Theo Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ của sản xuất Cùng với quan điểm này Wharton (1963) cho rằng, với tất cả nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân khác biệt nhau về trình độ kỹ

Trang 22

thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau

Walker và cộng sự (2004) đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về “Nguồn gốc và

các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn” ở Mozambique

Kết quả của bài nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở Mozambique là: giới tính, tuổi, trình độ học vấn của hộ, tài sản của hộ,

cơ sở hạ tầng, tiềm năng sản xuất (đa dạng cây trồng và sinh thái),…

Shrestha và Eiumnoh (2000) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu

nhập nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan” Với cỡ mẫu là 192 hộ

gia đình là nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của những hộ ở vùng đồng bằng và đồi núi chủ yếu bao gồm: Nguồn thu từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, nhận thức của người dân về môi trường, hiện trạng sở hữu đất đai và số thành viên trong độ tuổi lao động

Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bổ hiệu quả: sự phát triển

thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc” trong

nghiên cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực của hộ trong việc tăng trưởng thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc Nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng để ngành công nghiệp

ở nông thôn phát triển nhanh chóng và cũng tạo nên nguồn thu nhập ổn định, bền vững hơn cho người nông dân Các hộ gia đình có thành viên có trình độ học vấn cao hơn sẽ phân bổ nguồn lực của hộ cho các hoạt động phi nông nghiệp và mang lại thu nhập cao hơn Nghiên cứu cũng cho rằng kinh nghiệm cũng đóng vai trò quan trọng đối với thu nhập hộ gia đình

Schwarze (2004), với nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định hoạt

động tạo thu nhập của hộ gia đình nông thôn trong vùng lân cận vườn quốc gia Lore-Lindu ở Sulawesi, Indonesia” Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy

tuyến tính với dữ liệu khảo sát 301 hộ gia đình nông thôn tại 12 ngôi làng xung quanh vườn quốc gia Lore-Lindu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên cho thấy diện tích đất thuộc quyền sở hữu, giá trị các loại tài sản khác và số lượng gia súc sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến tổng thu nhập của hộ gia đình; tỷ lệ phụ thuộc có

Trang 23

ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thu nhập của hộ

Nghiên cứu của Naschold (2009) về “Các yếu tố kinh tế vi mô của sự bất bình

đẳng thu nhập ở nông thôn Pakistan” Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tạo ra sự

khác biệt thu nhập giữa các hộ gia đình bao gồm: việc sở hữu đất đai, số nhân khẩu, trình độ giáo dục của các thành viên trong hộ Những hộ có số thành viên trong tuổi lao động nhiều và có trình độ cao hơn thì có thu nhập vượt trội hơn so với các hộ có

ít lao động và trình độ thấp

Aikaeli (2010) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu nhập nông thôn

ở Tanzania” Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến với

cở mẫu hợp lệ là 1.610 hộ gia đình nông thôn cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, diện tích đất sản xuất là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Ngoài ra, các hộ có chủ hộ là nữ thì có thu nhập thấp hơn so với thu nhập của các hộ có chủ hộ là nam giới

Nguyễn Trọng Hoài (2005) khi nghiên cứu về nghèo đói các tỉnh Đông Nam

Bộ đã kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ là việc làm; diện tích đất đai và khả năng tiếp cận đất đai; tỷ lệ người phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm

Nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh, Nguyễn Quốc Nghi và Trần Quế Anh (2011)

về “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn của

huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”, số liệu nghiên cứu từ việc phỏng vấn trực tiếp 182

hộ gia đình Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp hồi quy

để phân tích Kết quả nghiên cứu, cả 5 biến độc lập trong mô hình đều ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn huyện Trà Ôn, trong đó nguồn thu nhập chính của phần lớn hộ gia đình phụ thuộc vào nghề nông, bên cạnh đó nghiên cứu còn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, độ tuổi lao động, trình độ học vấn và số lao động tạo ra thu nhập

Nguyễn Bích Đào (2008), cho rằng tín dụng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn Vốn là điều kiện quan trọng, thiết yếu ban đầu của các nông

Trang 24

hộ kết hợp với trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu khoa học kỹ thuật và nắm bắt thông tin thị trường sẽ giúp nhiều hộ mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Theo Đinh Phi Hổ (2007), quy mô vốn có tác động đến thu nhập Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, thu nhập hộ gia đình thấp và tiết kiệm cũng thấp Và khi tiết kiệm thấp dẫn đến thiếu hụt vốn đầu tư, lại tiếp tục dẫn đến thu nhập thấp

2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC GIAO ĐẤT GIAO RỪNG

Qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả tổng hợp các yếu tố chính tác động đến thu nhập của hộ được GĐGR tại tỉnh Cà Mau gồm 2 nhóm yếu tố chính là (i) Yếu tố chính sách GĐGR của nhà nước và (ii) yếu tố liên quan đến đặc điểm kinh tế xã hội của hộ dân

2.3.1 Yếu tố chính sách GĐGR

Chính sách GĐGR là chủ trương lớn của nhà nước Trong thực tiễn triển khai tại các vùng, miền khác nhau ở Việt Nam mặc dù còn một số hạn chế nhưng đã có tác động cải thiện sinh kế và thu nhập của người dân Nghiên cứu của Nguyễn Thị

Mỹ Vân (2015) cho thấy GĐGR đã cải thiện sinh kế của người dân về khía cạnh kinh tế, tăng thu nhập của hộ

Nguyễn Thị Hồng Mai và Hoàng Huy Tuấn (2013) cũng nhận thấy chính sách GĐGR tại tỉnh Thừa Thiên Huế có tác dụng cải thiện thu nhập cho cộng đồng Nguyễn Bảo Huy (2013) khi nghiên cứu về cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng ở Tây Nguyên cho thấy mỗi hộ dân tham gia quản lý rừng sẽ được hưởng thêm số tiền 4 - 6 triệu đồng/hộ/năm Ngoài ra, hộ dân còn có thêm nguồn thu nhập chưa được lượng hóa bằng tiền từ gỗ được sử dụng để làm nhà, chuồng trại chăn nuôi

Tóm lại, chính sách GĐGR trong thực tế đã tạo điều kiện cải thiện thu nhập cho người dân và được xác định yếu tố quan trọng có tác động thu nhập của người dân sinh sống tại rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau

Trang 25

2.3.2 Các yếu tố thuộc đặc điểm kinh tế xã hội của hộ

2.3.2.1 Giới tính của chủ hộ

Giới tính của chủ hộ: Có những quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa giới tính của chủ hộ và thu nhập của hộ Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những

hộ có chủ hộ là nam thường có thu nhập bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ

là nữ (Karttunen, 2009; Walker và cộng sự2004) Tuy nhiên, theo đánh giá của UNDP (1995), ở Việt Nam, những hộ do phụ nữ làm chủ hộ có thu nhập không thấp hơn so với những hộ do nam giới làm chủ

2.3.2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ

Chất lượng lao động của hộ thể hiện ở trình độ học vấn, sự hiểu biết, kỹ năng, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất,… tuy nhiên người có trình độ học vấn thấp (số năm đi học ít) thường hiểu biết ít và thiếu khả năng tiếp thu các kiến thức chuyên môn để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, thu nhập thấp Theo Yang (2004) cho rằng học vấn là mấu chốt của sự phát triển và trình độ học vấn cũng giúp nông dân tăng cường khả năng nắm bắt thông tin, điều đó một phần giúp người nông dân có cơ hội tham gia hoạt động phi nông nghiệp và tìm việc làm ở đô thị

Solow (1957) cho rằng giáo dục làm cho lao động hiệu quả hơn thông qua các tiến bộ kỹ thuật Điều này xuất phát từ thực tế là giáo dục cho phép mọi người thích nghi dễ dàng hơn với những thay đổi của xã hội và kỹ thuật Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình

Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ của sản xuất Cùng với quan điểm này Wharton (1963) cho rằng: với tất cả nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân khác biệt nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau Một tỷ lệ lớn người nghèo là nông dân, những người thường thiếu những

kỹ năng, kỹ thuật sản xuất và khả năng tiếp cận với các nguồn lực phát triển khác cũng rất thấp

Trang 26

Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda ông kết luận rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì hộ gia đình càng giàu có Bùi Quang Bình (2008) và Nguyễn Đức Thắng (2002) cũng kết luận rằng những người có trình

độ học vấn cao hơn sẽ có mức thu nhập cao hơn

2.3.2.3 Kinh nghiệm của chủ hộ

Kinh nghiệm là những kỹ năng, bí quyết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh C.R.Wharton (1963) cho rằng nếu tất cả các yếu tố đầu vào là giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về kinh nghiệm và kiến thức thì sẽ có kết quả sản xuất khác nhau hoàn toàn

Theo Bùi Quang Bình (2008), ứng dụng hàm Mincer nghiên cứu về vốn con người đối với thu nhập các hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng đến thu nhập, nếu chủ hộ có số năm kinh nghiệm tăng 1 điểm thì thu nhập tăng lên 0,577 điểm

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long với số mẫu khảo sát 183 hộ, kết quả kết luận rằng: biến số kinh nghiệm

có hệ số dương 0,305 ở mức ý nghĩa 5% cho thấy số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng cao thì thu nhập bình quân của hộ càng tăng

2.3.2.4 Số nhân khẩu trong hộ

Hộ gia đình đông con thì thu nhập bình quân đầu người sẽ giảm, điều này càng đúng khi các hộ gia đình nông thôn, nhất là hộ dân tộc Khmer phần đông là sản xuất nông nghiệp để tạo ra thu nhập là chủ yếu, vì thế trong điều kiện diện tích đất canh tác hạn chế, việc tăng nhân khẩu sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ

Trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2006), tại tỉnh Bình Phước, quy mô hộ tập trung của tỉnh là 4,76 người/hộ, trong khi đó quy mô trung bình của hộ nghèo là 5,46 người/hộ, hộ giàu là 2,82 người/hộ Điều này chứng tỏ hộ gia đình có thu nhập cao thì số người trong hộ ít hơn so với hộ gia đình có thu nhập thấp

Nguyễn Sinh Công (2004) khẳng định: nếu quy mô của hộ gia đình tăng thêm một người thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 9,2%

Trang 27

2.3.2.5 Tỷ lệ phụ thuộc

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), người phụ thuộc là người không tham gia lao động tạo ra thu nhập cho hộ, số người phụ thuộc càng cao đồng nghĩa với việc

có nhiều người ăn theo hơn nhưng lại có ít người lao động hơn Kết quả cho thấy tỷ

lệ phụ thuộc càng cao thì gánh nặng đối với hộ gia đình càng lớn Các thành viên có lao động phải gánh nặng cho các thành viên không thể lao động, do đó sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ Nguyễn Sinh Công (2004) đã kết luận rằng nếu tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình càng thấp

Theo Huỳnh Trường Huy và cộng sự (2008) cho rằng đất đai là tài sản quan trọng đối với hộ nông dân và khả năng tiếp cận với đất (về số lượng và chất lượng)

là một yếu tố quyết định đối với sản xuất nông nghiệp và có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp hoặc không có đất sản xuất nông nghiệp thường dẫn đến thu nhập của hộ thấp

Nghiên cứu cũng cho thấy diện tích đất đai của hộ nông dân có ảnh hưởng chiều thuận đối với thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình, các hộ gia đình

có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn thường là các hộ khá, giàu Phần lớn các

hộ nghèo là những hộ có diện tích đất ít hoặc không có đất sản xuất Tình trạng hộ nông dân không có đất sản xuất hoặc có rất ít đất sản xuất cũng là khó khăn lớn cho việc nâng cao thu nhập, bởi vì với diện tích nhỏ hẹp, mỗi hộ tự canh tác riêng lẻ, sẽ rất trở ngại cho sản xuất hiện đại, từ đó giá thành sản phẩm cao không đồng đều, sản xuất lãi ít dẫn đến thu nhập thấp

Trang 28

Theo Nguyễn Sinh Công (2004), Mwanza (2011) đã chứng minh cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản xuất, tức diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao Lê Thanh Sơn (2008) cho thấy trung bình mỗi

hộ gia đình vùng biên giới Tây Nam Bộ là 0,9 ha đất sản xuất, trong khi đó hộ nghèo có 0,43 ha và hộ không nghèo là 1,1 ha

Tóm lại, diện tích đất sản xuất trong đó bao gồm diện tích rừng được giao có ảnh hưởng đến khả năng quản lý của hộ, từ đó có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Những hộ có diện tích đất sản xuất lớn có xu hướng thu nhập cao hơn so với những

hộ có diện tích đất sản xuất nhỏ hơn

2.3.2.7 Sự đa dạng hóa tạo ra nguồn thu nhập

Hoạt động nông nghiệp là hoạt động chủ yếu ở nông thôn, tuy nhiên các hoạt động nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập (nghề nghiệp phụ) giúp hộ nông thôn cải thiện và tăng thêm thu nhập

Reardon (2001), cho rằng đa dạng hóa được hiểu như một hình thức tự đảm bảo thu nhập trên cơ sở lựa chọn các hoạt động có ít biến động ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập Micevska và Rahut (2007) cho rằng vùng nông thôn ngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động này góp phần làm tăng thu nhập của họ (trích bởi Trương Châu 2014)

Nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Trang (2010) cũng cho thấy giữa hộ giàu và hộ nghèo có cách sử dụng công cụ đa dạng hóa nguồn thu nhập với mục đích khác nhau Việc đa dạng hóa được xem là cách để tăng thêm thu nhập cho hộ gia đình, giảm nghèo và khai thác tốt các nguồn lực sẵn có của hộ Tại tỉnh Phú Thọ, Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010) đã kết luận mô hình đa dạng hoạt động tạo

ra nguồn thu nhập có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của hộ, thu nhập của hộ

sẽ tăng lên 0,85% nếu hộ gia đình đa dạng hóa hoạt động sản xuất

2.3.2.8 Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức

Theo Nguyễn Thị Hồng Mai và Hoàng Huy Tuấn (2013), khả năng tiếp cận tín

Trang 29

dụng chính thức yếu làm cản trở việc thực thi chính sách GĐGR Để phát huy hiệu quả bền vững của chính sách GĐGR thì tín dụng chính thức là yếu tố rất quan trọng Nguyễn Bích Đào (2008), cho rằng tín dụng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn Vốn là điều kiện quan trọng, thiết yếu ban đầu của các nông

hộ kết hợp với trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu khoa học kỹ thuật và nắm bắt thông tin thị trường sẽ giúp nhiều hộ mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm

Đồng vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ giúp những hộ có ruộng đất rất ít hoặc thiếu vốn có khả năng giải quyết được vấn đề khó khăn trong sản xuất, người nông dân phải vay thêm vốn từ các định chế chính thức và không chính thức hoặc từ những dự án của Chính phủ Tuy nhiên, không phải hộ dân nào cũng có thể tiếp cận được vốn để phục vụ cho việc đầu tư sản xuất (mua phân bón, giống cây trồng, đầu

tư máy móc…)

Theo Đinh Phi Hổ (2007) nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Cần Thơ cho thấy quy mô vốn có tác động đến thu nhập Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, thu nhập hộ gia đình thấp và tiết kiệm cũng thấp Và khi tiết kiệm thấp dẫn đến thiếu hụt vốn đầu tư, lại tiếp tục dẫn đến thu nhập thấp Mwanza (2011) kết luận rằng có mối quan hệ tích cực giữa tiếp cận tín dụng và thu nhập Nếu các yếu tố khác trong mô hình không đổi, các hộ gia đình có tiếp cận tín dụng có thu nhập trung bình cao hơn 58,9% so với hộ không được tiếp cận tín dụng

Tóm lại, qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả tổng hợp các yếu

tố chính tác động đến thu nhập của nông hộ bao gồm: (1) Giới tính của chủ hộ; (2) Kinh nghiệm của chủ hộ; (3) Trình độ học vấn của chủ hộ; (4) Số nhân khẩu trong hộ; (5) Tỷ lệ phụ thuộc; (6) Diện tích đất sản xuất; (7) Sự đa dạng của nguồn thu nhập; (8) Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức

2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày những khái niệm về GĐGR, phương pháp đánh giá tác động của chính sách Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu có liên quan, chương này cho thấy tác động của chính sách GĐGR được triển khai tại nhiều vùng, khu vực

Trang 30

khác nhau của Việt Nam đã có tác động làm tăng thu nhập của người dân Ngoài yếu tố chính sách GĐGR, còn có một số yếu tố về kinh tế xã hội mang tính đặc trưng của hộ nông dân (tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, học vấn, số lượng nhân khẩu, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất sản xuất, sự đa dạng hóa các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, vay tín dụng chính thức, …) có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Từ đó, làm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu ở chương 3

Trang 31

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1.1 Khung phân tích

Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài và tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại chương 2, khung phân tích của đề tài được trình bày tại hình 3.1

Hình 3.1: Khung nghiên cứu của đề tài

Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2015)

Phương pháp này được thực hiện bằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai nhóm, một nhóm được áp dụng chính sách (nhóm tham gia/ nhóm xử lý), nhóm còn lại không được áp dụng chính sách (nhóm so sánh/ nhóm kiểm soát) Gọi D là

CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, XÃ HỘI

Trang 32

biến giả phản ánh nhóm quan sát, D=0: hộ thuộc nhóm so sánh; D=1: hộ thuộc nhóm tham gia

Một giả định quan trọng của phương pháp này là nhóm tham gia và nhóm so sánh phải có đặc điểm tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách

Do đó, đầu ra của hai nhóm này phải có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu không có chính sách

Gọi Y (thu nhập) là đầu ra của chính sách Với T=0 là khi chưa có chính sách, T=1 là sau khi có chính sách Trước khi áp dụng một chính sách hay chương trình mới, tiến hành thu thập thông tin về đầu ra (Y) của cả hai nhóm và so sánh xem có

sự khác nhau như thế nào

Sau đó, áp dụng chính sách lên nhóm tham gia và không áp dụng chính sách lên nhóm so sánh Khi chương trình kết thúc hoặc sau một thời gian áp dụng nhất định, thu thập thông tin về đầu ra của hai nhóm này một lần nữa So sánh sự khác biệt trước và sau khi có chính sách trong đầu ra của cả hai nhóm

Nếu có sự khác biệt trong mức độ biến thiên trong đầu ra giữa hai nhóm này thì đó chính là tác động của chính sách Kết quả này vừa phản ánh sự khác biệt về mặt thời gian trước và sau khi có chính sách vừa phản ánh sự khác biệt chéo giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia

Giả thiết tối quan trọng của phương pháp DID là nếu không có chính sách thì đầu ra của nhóm so sánh và nhóm tham gia có xu hướng biến thiên như nhau Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hai nhóm này là do tác động của chính sách hay chương trình mới

Phương pháp DID được mô tả cụ thể như sau:

Vào thời điểm trước khi có chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y00 (D=0, T=0) và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D=1, T=0) Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có chính sách là Y10-Y00 Tại thời điểm sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y01 (D=0, T=1) và đầu ra của nhóm tham gia là

Y11 (D=1, T=1) Khi đó, chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này là Y11-Y01 Tác động của chính sách là (Y11-Y01) – (Y10-Y00) (hình 3.2)

Trang 33

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép

Nguồn: Phân tích tác động chính sách công, Nguyễn Xuân Thành (2006)

Tuy nhiên, thu nhập của người dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn là hàm đa biến, không chỉ phụ thuộc vào việc tham gia chính sách GĐGR mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế xã hội như đã trình bày tại chương 2 Chính vì vậy, đánh giá tác động của chính sách GĐGR đối với thu nhập của người dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn sẽ chính xác hơn nếu đưa thêm các yếu tố kinh tế xã hội này vào làm biến kiểm soát

3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong phân tích định lượng

3.2.1.1 Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc (Y): Biểu thị thu nhập bình quân người/năm của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn Thu nhập của hộ được tính bằng cách lấy tổng thu nhập của hộ trừ đi các khoảng chi phí (chi phí đầu vào mà hộ gia đình phải mua hay thuê trong quá trình sản xuất) Thu nhập bình quân người/năm ta lấy tổng thu nhập của hộ chia cho số nhân khẩu trong hộ

3.2.1.2 Biến độc lập

Biến độc lập trong mô hình nghiên cứu định lượng được trình bày tại bảng 3.1

Trang 34

Nhóm hộ (D): Là biến giả, D nhận giá trị 1 nếu hộ thuộc nhóm tham gia (được GĐGR); D nhận giá trị 0 nếu hộ thuộc nhóm so sánh (không được GĐGR)

Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong nghiên cứu

chủ hộ (KNghiem)

Nhận giá trị tương ứng với số năm làm việc của chủ hộ (năm)

Nguyễn Xuân Thành (2006), Nguyễn Quốc Nghi (2011) Trình độ học vấn

của chủ hộ

(GiaoDuc)

Số năm đi học của chủ hộ (năm)

Shrestha và Eiumnoh (2000), Nguyễn Xuân Thành (2006), Bùi Quang Bình (2008),

Số nhân khẩu trong

hộ (SoNguoi)

Thể hiện số người trong hộ gia

đình (người)

Okurut và cộng sự (2002), Đinh Phi Hổ (2006)

Tỷ lệ phụ thuộc

(TLPThuoc)

Tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động trong tổng số người trong

độ tuổi lao động (%)

Schwarze (2004), Karttunen (2009) Nguyễn Trọng Hoài (2010)

Diện tích đất sản

xuất (DTSX)

Diện tích đất canh tác thực tế bình quân đầu người của hộ (1.000m2/người)

Shrestha và Eiumnoh (2000), Lê Thanh Sơn (2008), Mwanza (2011)

Sự đa dạng hóa tạo

ra nguồn thu nhập

(KetHop)

Là biến giả, nhận giá trị là 0 nếu chủ hộ chỉ khai thác rừng; 1 nếu kết hợp khai thác rừng với nuôi

Đinh Phi Hổ (2008), Nguyễn Bích

Đào (2008)

Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan

Thời điểm khảo sát (T): Là biến giả, T nhận giá trị 1 nếu số liệu khảo sát năm 2015; T nhận giá trị 0 nếu số liệu khảo sát năm 2011 Giới tính của chủ hộ

Trang 35

(Gioitinh): Là biến giả, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ; nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam giới Kinh nghiệm của chủ hộ (KNghiem): Là biến thể hiện số năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chính của chủ hộ (năm)

Trình độ học vấn của chủ hộ (GiaoDuc): Được tính bằng số năm đi học của chủ hộ Số nhân khẩu trong hộ (SoNguoi): Là biến thể hiện số người trong hộ (người), không tính người làm thuê, ở nhờ Tỷ lệ phụ thuộc (TLPThuoc): Biến này

đo lường tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi và trên 55 tuổi đối với nữ hoặc trên 60 tuổi đối với nam) so với tổng số người của hộ Diện tích đất sản xuất (DTSX): Là biến thể hiện diện tích đất sản xuất bình quân đầu người của hộ (1.000m2/người)

Sự đa dạng hóa tạo ra nguồn thu nhập (KetHop): Là biến giả, thể hiện ở sự đa dạng hóa nguồn thu nhập của hộ, nhận giá trị 0 nếu hộ chỉ có nguồn thu nhập chính

từ khai thác rừng; nhận giá trị 1 nếu nguồn thu nhập đến từ hoạt động khai thác rừng kết hợp với nuôi tôm, cá, cua Tiếp cận tín dụng chính thức (Vayvon): Là biến giả, nhận giá trị là 1 nếu có vay vốn từ các định chế chính thức (ngân hàng, các quỹ của nhà nước), ngược lại nhận giá trị 0

3.2.2 Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015; số liệu thống kê về GĐGR của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015; định hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp của tỉnh Cà Mau đến năm 2020, …

Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê, các báo cáo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau

3.2.3 Dữ liệu sơ cấp

3.2.3.1 Chọn điểm điều tra

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau (2015), huyện Ngọc Hiển chiếm đến 69% diện tích rừng ngập mặn và chiếm 70% hộ dân được

Trang 36

GĐGR trên địa bàn tỉnh Cà Mau Đề tài chọn các hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn của huyện Ngọc Hiển để thu thập thông tin sơ cấp mang tính đại diện cho toàn tỉnh Cà Mau

3.2.3.2 Chọn đối tượng điều tra

Đề tài chọn phỏng vấn hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn theo danh sách do Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cung cấp với tiêu chuẩn như sau:

Nhóm hộ bắt đầu được GĐGR kể từ năm 2012 nhưng không được GĐGR trong năm 2011 làm nhóm tham gia (nhóm hưởng lợi) Yêu cầu là những hộ thuộc nhóm tham gia phải được GĐGR liên tục từ năm 2012 đến hết năm 2015

Nhóm hộ không được GĐGR xuyên suốt trong cả giải đoạn 2011 – 2015 làm nhóm so sánh

Việc lưa chọn 2 nhóm này phải thỏa mãn điều kiện giả định của phương pháp khác biệt kép là vào năm 2011, hai nhóm này có xuất phát điểm như nhau nghĩa là phải có các đặc điểm về kinh tế xã hội (thu nhập, kinh nghiệm, số năm làm việc, số lượng nhân khẩu, giá trị tài sản, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất canh tác, số năm đi học, số hoạt động tạo ra thu nhập, vay vốn) như nhau Và nếu hai nhóm đều không được GĐGR thì thu nhập của họ thay đổi tương tự nhau từ năm 2011 đến năm 2015

3.2.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Theo nghiên cứu của Bollen (1989), kích thước mẫu tối thiểu là 5 lần số biến quan sát (tiêu chuẩn 5:1) Nghiên cứu này có 10 biến quan sát, nên kích thước mẫu tối thiểu phải đạt được là n = 5 lần x 10 = 50 Đề tài chọn số lượng mẫu cho nhóm

so sánh là 100 và số lượng mẫu cho nhóm hưởng lợi là 100 (thỏa mãn điều kiện cỡ mẫu tối thiểu) Như vậy, tổng số mẫu điều tra của cả hai nhóm là 200

3.2.3.4 Thiết kế bảng hỏi định lượng

Bảng câu hỏi sẽ thu thập một số thông tin của đối tượng phỏng vấn tại 2 thời điểm: năm 2011 và năm 2015 Các thông tin chính trong bảng hỏi định lượng được

Trang 37

thu thập (ngoài các thông tin cơ bản của hộ gia đình) gồm: Hiện trạng khai thác đất rừng được giao, những trở ngại trong việc tiếp cận và thực hiện chính sách GĐGR, hiểu biết về chính sách, đánh giá về thủ tục liên quan đến việc tiếp cận chính sách GĐGR; các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ và các khuyến nghị nếu có Trong những trường hợp hộ dân từ chối tham gia vào các cuộc phỏng vấn, hộ

đó sẽ được thay thế bằng hộ gia đình khác

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

Đối với mục tiêu 1: Đánh giá tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập của

hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau Sử dụng thống kê mô tả

để phân tích thực trạng thực hiện chính sách GĐGR của tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2011 – 2015 và phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng phỏng vấn Thực hiện kiểm định t – test giá trị trung bình các chỉ tiêu thu nhập giữa nhóm

hộ hưởng lợi và nhóm hộ so sánh tại thời điểm 2011 và 2015 để đảm bảo điều kiện giả định của phương pháp khác biệt kép Sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng đánh giá tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập hộ dân bằng phương pháp khác biệt kép (DID), có bổ sung thêm các yếu tố kinh tế xã hội của hộ dân làm biến kiểm soát

Đối với mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng từ chính sách GĐGR đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số hộ dân được tham gia GĐGR kết hợp với kết quả phân tích thực trạng thực hiện chính sách GĐGR ở mục tiêu 1 để đưa ra nhận định, đánh giá

Đối với mục tiêu 3: Gợi ý chính sách GĐGR để nâng cao thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau, sử dụng phương pháp diễn dịch, tổng hợp các kết quả thu được từ mục tiêu 1, mục tiêu 2 để khuyến nghị chính sách

Đề tài sử dụng phần mềm Stata phiên bản 12.0 để hỗ trợ xử lý dữ liệu

3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu sử dụng

Trang 38

kỹ thuật đánh giá tác động của chính sách GĐGR đến thu nhập của hộ dân bằng phương pháp phân biệt kép (DID), có bổ sung thêm các yếu tố kinh tế xã hội của hộ dân được phỏng vấn để đảm bảo tính chính xác của kết quả đánh giá tác động Kích thước mẫu được chọn là 100 hộ dân thuộc nhóm xử lý/nhóm thụ hưởng chính sách GĐGR và 100 hộ dân thuộc nhóm kiểm soát/nhóm so sách là những hộ dân có điều kiện tương đồng nhưng họ không được GĐGR Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử dụng Các kỹ thuật phân tích kiểm định t – test về giả định điều kiện của phương pháp khác biệt kép ở giữa nhóm hộ hưởng lợi và nhóm

hộ so sánh tại thời điểm 2011 được thực hiện để đảm bảo tính phù hợp của mô hình nghiên cứu

Trang 39

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu

Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau (2015)

Diện tích phần đất liền của tỉnh là 5.329,5 km2; bằng 13,13% diện tích vùng ĐBSCL và bằng 1,58% diện tích cả nước

Trang 40

Tỉnh Cà Mau được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển Về địa lý kinh tế trong đất liền, tỉnh Cà Mau nằm trong tiểu vùng Cà Mau - Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang, là 1 trong 4 tiểu vùng kinh tế của ĐBSCL, là địa bàn đang được quy hoạch xây dựng thành vùng kinh tế động lực của ĐBSCL (đô thị trung tâm Cần Thơ, trung tâm điện lực Ô Môn; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Kiên Giang, công nghiệp tàu thủy, công nghiệp chế biến thủy sản, cụm khí điện đạm Cà Mau, du lịch sinh thái Hà Tiên, Phú Quốc, Châu Đốc, rừng ngập Cà Mau…)

4.1.1.2 Thời tiết - khí hậu

Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo của vùng ĐBSCL, có nền nhiệt cao (nhiệt độ trung bình 26,50C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 4 khoảng 27,60C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng Giêng khoảng 250C), tạo điều kiện phát triển đa dạng cây con trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 – 2020)

Nét đặc trưng là khí hậu phân mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Ẩm độ trung bình là 85,6%, nhưng mùa khô ẩm độ thấp hơn, vào tháng 3 ẩm độ chỉ khoảng 80%

Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp hơn, trong mùa mưa thường xảy ra các cơn giông, lốc xoáy cấp 7 đến cấp 8 ở vùng biển, ven biển; ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác hải sản và các hoạt động kinh tế khác trên vùng biển Về cơ bản, khí hậu ôn hoà, ít khắc nghiệt hơn các vùng khác, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản

4.1.1.3 Địa hình

Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi

đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ), cao trình phổ biến từ 0,5-1m so với mặt nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông - biển hỗn hợp có địa hình

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Huỳnh Trường Huy và Ông Thế Vinh, 2009, “Phân tích thực trạng lao động nhập cư tại Khu công nghiệp Vĩnh Long”, Tạp chí Quản lý Kinh tế, Số 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng lao động nhập cư tại Khu công nghiệp Vĩnh Long
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, 2009.Kỷ yếu Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam:Chính sách và thực tiễn, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, Hà Nội, ngày 5/6/2009 Khác
2. Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền, 2010. Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ vùng Trung du ở tỉnh Phú Thọ. Tạp chí kinh tế phát triển, Số 236 Khác
3. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức Khác
5. Nguyễn Bảo Huy, 2013. Cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng ở Tây Nguyên. Kỷ yếu Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam:Chính sách và thực tiễn, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, Hà Nội, ngày 5/6/2009 Khác
6. Nguyễn Đình Thọ, 2011, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao động xã hội Khác
7. Nguyễn Đức Thắng, 2002, Ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập của người lao động, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM Khác
8. Nguyễn Quốc Nghi, 2010, Thực trạng và giải pháp định hướng sinh kế cho các dân tộc thiểu số vùng ĐBSCL: Nghiên cứu trường hợp người Khmer ở Trà Vinh và người Chăm ở An Giang. Tạp chí khoa học số 19- Trường Đại Mở TPHCM Khác
9. Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh, 2011, Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí khoa học - Trường Đại Học Cần Thơ, Số 5 (23) Khác
10. Nguyễn Sinh Công, 2004, Các nhân tố tác động đến thu nhập và nghèo đói tại huyện Cờ Đỏ, Tp Cần Thơ. Luận văn Thạc sỹ, Đại học kinh tế Tp HCM Khác
11. Nguyễn Thị Hồng Mai và Hoàng Huy Tuấn, 2013. Quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam:Chính sách và thực tiễn, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng Hà Nội, ngày 5/6/2009 Khác
12. Nguyễn Thị Thu Trang (2012), Phân quyền sở hữu tài sản trong giao rừng cho cộng đồng ở Tây Nguyên. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Khác
13. Nguyễn Thị Mỹ Vân (2015), Chính sách giao đất giao rừng và sinh kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng núi tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận án tiến sỹ Khoa học môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
14. Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2010. Tài liệu giảng dạy môn học Kinh tế lượng ứng dụng, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Khác
15. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau (2015), Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau 5 năm 2016 – 2020 Khác
16. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau (2016), Báo cáo tình hình triển khai chính sách giao đất, giao rừng tỉnh Cà Mau 2010 – 2015 Khác
17. Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị (2014), Giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao. Báo cáo trong khuôn khổ dự án được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốctế Vương quốc Anh (DFID), Cơ quan Hợp tác Phát triển Vương quốc Na Uy (NORAD) Khác
18. UBND tỉnh Cà Mau (2010), Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau đến năm 2020 Khác
19. UBND tỉnh Cà Mau (2010), dự án: Phát triển kinh tế một cách bền vững của người dân trong vùng đệm và vùng chuyển tiếp trong khu Dự trữ sinh Khác
20. UBND tỉnh Cà Mau (2014) Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2014 – 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Khung nghiên cứu của đề tài - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Hình 3.1 Khung nghiên cứu của đề tài (Trang 31)
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép (Trang 33)
Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong nghiên cứu - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong nghiên cứu (Trang 34)
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Hình 4.1 Bản đồ tỉnh Cà Mau (Trang 39)
Bảng 4.1: GDP theo khu vực kinh tế qua các năm - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.1 GDP theo khu vực kinh tế qua các năm (Trang 42)
Bảng 4.3: Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn tại thời điểm năm 2015 - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.3 Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn tại thời điểm năm 2015 (Trang 49)
Bảng 4.4: Tình trạng sở hữu các vật dụng thiết yếu của hộ gia đình - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.4 Tình trạng sở hữu các vật dụng thiết yếu của hộ gia đình (Trang 50)
Bảng 4.5: Tình trạng nhà ở tại thời điểm năm 2015 - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.5 Tình trạng nhà ở tại thời điểm năm 2015 (Trang 51)
Bảng 4.6:Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.6 Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình (Trang 52)
Bảng 4.7 cho thấy ở mức ý nghĩa 5% giữa nhóm so sánh và nhóm hưởng lợi  không có sự khác biệt tại thời điểm năm 2011 (thời điểm chưa có chính sách) ở các  yếu tố như thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ chủ hộ là nam giới; kinh nghiệm sản  xuất; số năm đi  - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.7 cho thấy ở mức ý nghĩa 5% giữa nhóm so sánh và nhóm hưởng lợi không có sự khác biệt tại thời điểm năm 2011 (thời điểm chưa có chính sách) ở các yếu tố như thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ chủ hộ là nam giới; kinh nghiệm sản xuất; số năm đi (Trang 53)
Bảng 4.8: Thu nhập của người dân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi  không xét đến các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.8 Thu nhập của người dân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi không xét đến các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ (Trang 54)
Bảng 4.9: Thu nhập của người dân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Bảng 4.9 Thu nhập của người dân trước và sau khi tham gia chính sách GĐGR khi (Trang 55)
Bảng  4.11  cho  thấy  nhóm  hộ  hưởng  lợi  (tham  gia  chính  sách  GĐGR)  được  tiếp cận các chính sách hỗ trợ khác như tập huấn kỹ thuật sản xuất, bảo vệ rừng, vay  vốn, các chính sách hỗ trợ khác - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
ng 4.11 cho thấy nhóm hộ hưởng lợi (tham gia chính sách GĐGR) được tiếp cận các chính sách hỗ trợ khác như tập huấn kỹ thuật sản xuất, bảo vệ rừng, vay vốn, các chính sách hỗ trợ khác (Trang 57)
Hình 4-2: Lý do không tham gia chính sách GĐGR - Tác động chính sách giao đất, giao rừng đến thu nhập của hộ dân sinh sống tại khu vực rừng ngập mặn tỉnh cà mau
Hình 4 2: Lý do không tham gia chính sách GĐGR (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm