1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã hà tiên, tỉnh kiên giang

96 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ tác động đến việc mất đất sản xuất của người dân mà còn ảnh hưởng đến nơi ở, việc làm, thu nhập của các nhóm đối tượng khác.. Phạm vi nghiên cứu Về nộ

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN TẠI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ MINH TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ DÂN TẠI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THANH LOAN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 15 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Đối tượng khảo sát 3

1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Bố cục của luận văn 4

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

2.1 Các khái niệm 5

2.1.1 Khái niệm hộ gia đình 5

2.1.2 Thu nhập của hộ gia đình 6

2.1.3 Khung sinh kế 6

2.2 Tác động của chính sách thu hồi đất 10

2.3 Đánh giá tác động của chính sách 12

Trang 5

2.3.1 Khái niệm 12

2.3.2 Các phương pháp đánh giá tác động chính sách 13

2.3.3 Phương pháp khác biệt trong khác biệt 14

2.4 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 15

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài 15

2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 18

2.4.3 Đánh giá tổng quan tài liệu 23

Tóm tắt chương 2 23

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Tổng quan về chính sách thu hồi đất ở Việt Nam 24

3.1.1 Thu hồi đất và đền bù khi thu hồi đất 24

3.1.2 Khung pháp lý về thu hồi đất ở Việt Nam 25

3.1.3 Các trường hợp thu hồi đất và trình tự thu hồi đất 26

3.1.4 Chính sách đền bù khi Nhà nước thu hồi đất 26

3.2 Mô hình nghiên cứu 27

3.2.1 Khung phân tích 27

3.2.2 Mô hình định lượng đánh giá tác động của việc thu hồi đất 28

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 29

3.3.1 Dữ liệu thứ cấp 29

3.3.2 Dữ liệu sơ cấp 29

3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 35

Tóm tắt chương 3 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 37

4.2 Thực trạng thu hồi đất phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên 38

4.2.1 Các chính sách đền bù 38

4.2.2 Tình hình thu hồi đất 39

4.3 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 40

4.3.1 Cơ cấu mẫu khảo sát 40

Trang 6

4.3.2 Đặc điểm mẫu khảo sát tại thời điểm chưa có chính sách thu hồi đất 40

4.3.3 Bồi thường, hỗ trợ và sử dụng tiền thu hồi đất đối với nhóm bị thu hồi đất 43

4.4 Tác động của việc thu hồi đất 45

4.4.1 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm hộ so sánh và nhóm bị tác động 45

4.4.2 Tác động thu hồi đất đến đời sống, sinh hoạt của hộ gia đình 49

4.5 Tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ gia đình 50

4.5.1 Kết quả mô hình phân tích tác động của thu hồi đất đến thu nhập 50

4.5.2 Kiểm định mô hình 51

4.5.3 Phân tích tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập 53

4.5.4 Sự thay đổi nghề nghiệp và đa dạng hóa nguồn thu nhập của hộ 59

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Khuyến nghị chính sách 60

5.2.1 Về chiến lược sinh kế 60

5.2.2 Về vốn xã hội 61

5.2.3 Về vốn tự nhiên 62

5.2.4 Về vốn tài chính 63

5.2.5 Về vốn con người 63

5.2.6 Cải tiến chính sách thu hồi đất 64

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT HỘ GIA ĐÌNH

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

Trang 7

OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất

VIF Độ phóng đại phương sai

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 21

Bảng 3.1: Phương pháp khác biệt trong khác biệt 28

Bảng 3.2: Các biến trong mô hình nghiên cứu 33

Bảng 4.1: Tình hình thu hồi đất tại 2 Dự án Thạnh Động và Đá Dựng 39

Bảng 4.2: Tình hình bồi thường, hỗ trợ của dự án 39

Bảng 4.3: Giới tính, dân tộc, sinh kế của hộ gia đình tại thời điểm 2014 41

Bảng 4.4: Đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ trước khi có dự án thu hồi, năm 2014 42

Bảng 4.5: Đặc điểm kinh tế, xã hội của nhóm bị thu hồi sau khi thu hồi đất 42

Bảng 4.6: Diện tích đất và số tiền bồi thường, hỗ trợ 43

Bảng 4.7: Hỗ trợ của chính quyền địa phương 44

Bảng 4.8: Khác biệt giữa 2 nhóm hộ tại thời điểm trước và sau khi triển khai chính sách thu hồi đất 46

Bảng 4.9: Khác biệt giữa 2 thời điểm trước và sau khi triển khai chính sách của nhóm đối chứng và bị thu hồi 46

Bảng 4.10: Tác động của thu hồi đất đến đời sống, sinh hoạt của hộ gia đình 49

Bảng 4.11: Khó khăn hộ gia đình gặp phải sau khi có chính sách thu hồi đất 50

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố sinh kế đến thu nhập 51

Bảng 4.13: Cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình 59

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững 7

Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép 15

Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài 27

Hình 4.1: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thị xã Hà Tiên 37

Hình 4.2: Cơ cấu mẫu khảo sát 40

Hình 4.3: Sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ 43

Hình 4.4: Hỗ trợ của chính quyền đối với hộ bị thu hồi đất 45

Trang 10

TÓM TẮT

Đề tài “Tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Từ đó khuyến nghị các chính sách nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Hà Tiên trong thời gian tới

Đề tài đã thực hiện khảo sát 194 hộ thuộc hai dự án du lịch Thạch Động và Đá Dựng trên địa bàn xã Mỹ Đức, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang Với số quan sát hợp lệ trong mẫu là 144 gồm 73 hộ bị thu hồi đất (nhóm bị ảnh hưởng) và 71 hộ không bị thu hồi đất (nhóm so sánh), ở mức ý nghĩa thống kê 5%, bằng kỹ thuật khác biệt kép kết hợp với hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy:

Thu hồi đất đã làm giảm thu nhập đầu người là 4,37 triệu đồng/người/năm Các yếu tố như: Nhóm chiến lược sinh kế; tình trạng thu hồi đất; vốn con người; vốn tự nhiên; vốn xã hội; vốn tài chính; vốn vật chất có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất

Cuối cùng tác giả trình bày khuyến nghị chính sách, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội các nước Du lịch đang trở thành một ngành “công nghiệp không khói” và giữ vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Phát triển du lịch có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, bởi du lịch được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu để cải thiện đời sống cho người dân Do đó, để phát triển du lịch bền vững cũng như thu hút nhiều lượt khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng thì đòi hỏi mỗi địa phương phải đầu tư nhiều khu thương mại, dịch vụ, du lịch đồng bộ nhằm phục vụ khách du lịch Muốn như thế phải có nguồn quỹ đất, do đó việc thu hồi đất của các hộ dân để đầu tư khu thương mại, dịch vụ, du lịch là việc làm tất yếu

Khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ tác động đến việc mất đất sản xuất của người dân mà còn ảnh hưởng đến nơi ở, việc làm, thu nhập của các nhóm đối tượng khác Một số hộ dân sẽ có lợi ích cao hơn nhờ nắm được cơ hội nhưng nhiều hộ dân khác có thể sẽ bị thất nghiệp, tổn thương, công việc không ổn định nếu sử dụng không hợp lý số tiền bồi thường từ thu hồi đất Chính vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn

đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân

có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới, đặc biệt đối với người dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương

Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, trong giai đoạn 2011 – 2015 cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Theo UBND thị xã Hà Tiên (2016) trong giai đoạn này diện tích đất bị thu hồi 167.218 hecta để đầu tư thực hiện 58 dự án với giá trị bồi thường và hỗ trợ trên 115,8 tỷ đồng Trong đó, có 5 dự án lớn như dự án xây

Trang 12

dựng khu du lịch sinh thái Hòn Đước - Hòn Tre Vinh, dự án Đường giao thông quanh đảo Hòn Đốc, dự án xây dựng Đường Hoành Tấu - Bài Nò, dự án mở rộng Khu du lịch Thạch Động và Khu du lịch Đá Dựng có ảnh hưởng đáng kể đến việc thu hồi của các hộ dân với diện tích thu hồi là 27,2 hecta và số tiền bồi thường, hỗ trợ 37,65 tỷ đồng Trong số đó có 2 dự án Khu du lịch Thạch Động và Khu du lịch

Đá Dựng là 2 dự án được thu hồi, bồi thường, hỗ trợ gần đây nhất vào năm 2015 Nhìn chung, sau khi thu hồi đất, đời sống của người dân có nhiều thay đổi, một số hộ đảm bảo được cuộc sống ở nơi mới, tuy nhiên, nhiều hộ cũng còn gặp nhiều khó khăn (UBND thị xã Hà Tiên, 2016) Do đó, việc nghiên cứu tác động của chính sách thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang trở nên cấp thiết Vấn đề đặt ra là sau khi bị thu hồi đất thì thu nhập của các hộ dân thay đổi như thế nào? Làm sao để nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất?

Vì vậy, tôi chọn đề tài “Tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập của các hộ dân tại dự án phát triển khu du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Mục tiêu 2: Khuyến nghị một số chính sách nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Hà Tiên trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Việc thu hồi đất tác động như thế nào đến thu nhập của các hộ dân tại các dự

án phát triển khu du lịch trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang?

Trang 13

Cần có chính sách gì để ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu

hồi đất trên địa bàn thị xã Hà Tiên trong thời gian tới?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thu nhập của hộ dân trước và sau khi bị

thu hồi đất đối với cả 2 nhóm hộ là nhóm đối chứng và nhóm bị thu hồi Các nội

dung khác liên quan đến thu nhập của hộ gia đình cũng được xem xét gồm: các

nguồn vốn sinh kế và chiến lược sinh kế của hộ gia đình

1.4.2 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát gồm 2 nhóm: nhóm bị thu hồi đất (là các hộ sinh sống tại

xã Mỹ Đức bị thu hồi đất để triển khai thực hiện dự án) và nhóm đối chứng (là các

hộ sinh sống xung quanh khu vực triển khai thực hiện dự án nhưng không bị thu hồi đất) tại 2 thời điểm (năm 2014 và năm 2016) Theo đó, năm 2014 là thời điểm 2 dự

án chưa được triển khai thực hiện và năm 2016 là thời điểm 2 dự án đã hoàn tất việc

thu hồi và đền bù

1.4.3 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung phân tích tác động của việc thu hồi đất đến thu

nhập của các hộ dân tại dự án phát triển khu du lịch Thạch Động và Đá Dựng, các

tác động khác không được phân tích trong đề tài

Về không gian: Đề tài tập trung khảo sát các hộ dân sinh sống tại xã Mỹ Đức

xung quanh 2 dự án khu du lịch Thạch Động và Đá Dựng Đây là 2 dự án du lịch có

số lượng hộ dân bị thu hồi đất nhiều nhất trên địa bàn trong 5 năm trở lại đây

Về thời gian: Các số liệu thứ cấp phân tích trong nghiên cứu được thu thập

trong 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2015 Số liệu sơ cấp đối với 2 nhóm của 2 dự án

khu du lịch Đá Dựng và Thạch Động được thu thập tại thời điểm trước khi dự án

được triển khai vào năm 2014 và thời điểm sau khi dự án hoàn tất việc thu hồi và

đền bù Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 10/2017 đến tháng 11/2017

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng là phương pháp phân biệt kép - DID (khác biệt trong khác biệt) với mô hình hồi quy đa biến OLS để đánh giá tác động của thu hồi đất đến thu nhập của hộ dân Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu để giải thích rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng

1.6 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Mở đầu Chương này giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 2 trình bày lý thuyết về thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình; các phương pháp đánh giá tác động chính sách; tổng quan chính sách thu hồi đất tại Việt Nam; tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này gồm khung nghiên cứu, mô hình nghiên cứu; các chỉ tiêu đo lường các khái niệm nghiên cứu; mô tả dữ liệu, kỹ thuật phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4 giới thiệu vùng nghiên cứu; trình bày thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu; đánh giá tác động của thu hồi đất đến thu nhập của hộ gia đình; thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; đề xuất các chính sách nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Hà Tiên Đồng thời, chương này cũng chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái niệm hộ gia đình

Theo Haviland (2003) thì hộ gia đình là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ Ở Việt Nam, hộ là một khái niệm đã tồn tại ngay từ thời phong kiến Nó cũng được coi là một đơn vị tế bào của

xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng trùng khớp với gia đình Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, hộ được xem như là chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung

Từ các quan niệm trên, ta có thể khái quát, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có trường hợp đặc biệt không cùng chung huyết thống như con nuôi, người làm công Hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất, kinh doanh chung, có ngân quỹ chung,… Hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian Khi xã hội còn ở trình độ phát triển thấp, với kinh tế tự cấp

tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ Song, khi xã hội phát triển cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung và ăn chung nữa Họ có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác nhau và có thể chỉ đóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của hộ

Phân loại hộ gia đình dựa vào tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ

Hộ không làm việc: là hộ không có thành viên trong gia đình làm công ăn lương và không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Hộ làm công: là hộ có các thành viên trong gia đình làm công ăn lương và hộ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Hộ thuần nông: là hộ có các thành viên trong gia đình đều làm việc trong khu vực nông nghiệp

Hộ sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của những thành

Trang 16

viên trong hộ đều thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ

2.1.2 Thu nhập của hộ gia đình

Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp Theo Tổng cục Thống kê (2011) thì thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm Thu nhập bao gồm: (1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) Thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm và các khoản thu khác

Việc thu thập thông tin về thu nhập cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh và các khoản thu nhập khác

2.1.3 Khung sinh kế

Khái niệm sinh kế có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Theo Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) thì sinh kế có thể được miêu tả là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt các mục tiêu và ước nguyện của họ (DFID, 2007) Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad và cộng sự, 2004; Diana Carney, 1998) Theo Nguyễn Văn Toàn và cộng sự (2012), khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt con

Trang 17

người làm trung tâm trong quá trình phân tích

Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó (hình 2.1)

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững

Chi

ến lượ

c sin

h

kế

Cấu trúc và Quá trình biến đổi

Ở các cấp của chính quyền Khu vực tư nhân

Kết quả sinh kế

Tăng thu nhập Tăng mức sống Giảm tình trạng

dễ bị tổn thương Cải thiện an ninh lương thực Tăng tính bền vững khi sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên

H: Nguồn vốn con người (Human capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial capital)

N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical capital)

S: Nguồn vốn xã hội (Social capital)

Chiến lược sinh kế

Trang 18

định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây

có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy

mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố

tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học

Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả

Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình

Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, nó nằm trong các mối quan hệ xã hội hoặc các nguồn lực xã hội chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế

Hai là, chiến lược sinh kế: chiến lược sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự

Trang 19

xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai

Ba là, cấu trúc và quá trình biến đổi: Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh

kế Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc

Bốn là, kết quả sinh kế: Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh

kế Kết quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự

đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên Đó có thể cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lược sinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định

có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh kế Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi quy mô hoạt động

Cuối cùng là ngữ cảnh dễ bị tổn thương: Đó chính là những thay đổi, những

xu hướng, tính mùa vụ Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn hạn Vì vậy trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chống chọi đối với những thay đổi trên hay phục hồi dưới những tác động trên

Trang 20

2.2 Tác động của chính sách thu hồi đất

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng đất có một vị trí quan trọng đối với người nông dân, không có đất hoặc thiếu đất là một vấn đề lớn đối với nhiều hộ gia đình Quyền sở hữu đất đai có ý nghĩa về nhiều mặt và là cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác hay các sinh kế thay thế (Hanstad và cộng sự, 2004) Tái định cư thuộc các dự án phát triển thường làm phát sinh rủi ro kinh tế, xã hội và môi trường nghiêm trọng: hệ thống sản xuất bị phá vỡ; người dân phải đối mặt với nghèo đói khi tài sản sản xuất hoặc các nguồn thu nhập của họ bị mất đi; người ta bị thay đổi môi trường mới nơi mà các kỹ năng sản xuất của họ có thể ít phù họp và sự cạnh tranh đối với các nguồn tài nguyên lớn hơn; các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ; mối quan hệ họ hàng thân thích bị phân tán; và bản sắc văn hóa, các yếu tố truyền thống, và khả năng hỗ trợ lẫn nhau bị giảm sút hoặc mất đi Chính sách này bao gồm các biện pháp bảo vệ để giải quyết và giảm thiểu những rủi ro bần cùng hóa (World Bank, 2001)

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (1995), khi một dự án được triển khai thì con người sẽ bị ảnh hưởng, những thiệt hại mà người bị thu hồi đất đối mặt như: cư dân tại khu vực tái định cư thiếu thân thiện, hoặc có sự khác biệt về văn hóa, những khó khăn về công ăn việc làm nơi ở mới có thể khiến cho người dân muốn sinh tồn phải khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến kiệt quệ môi trường sinh thái Từ đó ADB đề nghị những chính sách cụ thể nhằm giúp cho hộ dân sau tái định cư ổn định và thuận lợi hơn Nếu cá nhân hay cộng đồng dân cư bị thu hồi đất, mất kế sinh nhai, thay đổi lối sống quen thuộc thì họ nên được tư vấn, được đền

bù cho những mất mát của họ, phải được bồi thường mọi tài sản, thu nhập, sinh kế,

hỗ trợ di dời và tái định cư, được hỗ trợ xây nhà và những hoạt động cộng đồng khác để đời sống kinh tế xã hội được tốt hơn hoặc chí ít ngang bằng so với trước Những vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn nếu những người ảnh hưởng là người nghèo, khi mà không có khả năng xoay xở thì việc hỗ trợ là hết sức cần thiết

Đất đai là một tài sản sinh kế cơ bản Nhà ở, sản xuất lương thực và hoạt động sinh kế khác tất cả phụ thuộc vào nó Dù ở khu vực thành thị hay nông thôn, tiếp

Trang 21

cận tốt hơn với đất đai là cơ sở để đầu tư sinh kế tốt hơn và cải thiện đời sống Chính sách đất đai công bằng hơn giúp người nghèo được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế trên diện rộng Thông qua sản xuất nông nghiệp lớn hơn nó có thể góp phần, hoặc thậm chí thúc đẩy tăng trưởng (DFID, 2002)

Theo Nguyễn Dũng Anh (2014), thu hồi đất có những tác động tích cực đến

hộ gia đình Thứ nhất là do việc tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng hiện đại Trong quá trình thu hồi đất, một bộ phận đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng, cải tạo, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và kinh tế - xã hội gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị, khu thương mại, du lịch Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và kinh tế xã hội càng hiện đại thì sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất, thúc đẩy các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ phát triển Từ đó xã hội tạo ra ngày càng nhiều việc làm mới trong công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ có giá trị gia tăng cao

Thứ hai, việc thu hồi đất góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu việc làm cũng như góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ, do đó cơ cấu lao động, việc làm của người lao động cũng có sự thay đổi mạnh mẽ Gia tăng lao động, việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ nhưng giảm lao động, việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp Gia tăng lao động, việc làm có năng suất, thu nhập cao, tạo nhiều giá trị gia tăng nhưng giảm lao động, việc làm có năng suất, thu nhập thấp

Thứ ba, thúc đẩy khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm đối với người lao động, đặc biệt, đối tượng là nông dân bị thu hồi đất Thu hồi đất giúp cho một

bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp Đồng thời làm chuyển biến nhận thức của người dân trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chuyển từ mô hình đại gia đình nhiều thế hệ đông con truyền thống nông thôn sang mô hình gia đình ít con theo kiểu đô thị Điều này giúp cho những người lao động có điều kiện thuận lợi hơn về thời gian, tiền bạc, công sức để

Trang 22

ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, vừa làm giảm áp lực về nhu cầu phải giải quyết việc làm hiện tại ở đô thị, vừa nâng cao khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm cho bản thân và con em họ

Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên, quá trình thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết (Nguyễn Dũng Anh, 2014); (i) Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị và các công trình công cộng đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, do đó làm giảm việc làm, thiếu việc làm hoặc thất nghiệp Từ đó thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hơn so với trước thu hồi đất nên điều kiện sống của họ gặp nhiều khó khăn hơn; (ii) Việc thu hồi đất gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất và tạo áp lực giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với chính quyền địa phương Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, tỷ lệ lao động mất việc làm ở nông thôn tăng dẫn đến tình trạng nhập cư vào đô thị diễn ra ngày càng mạnh mẽ Từ đó, gia tăng sức ép về vấn đề nhà ở, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đặc biệt là với nông dân trong độ tuổi lao động Mặt khác, làm gia tăng áp lực đối với chính quyền địa phương trong công tác quản lý xã hội, nhất là việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho các bộ phận dân cư, trong đó có đối tượng

là nông dân bị thu hồi đất

Vì vậy, thu hồi đất đặc biệt là thu hồi đất nông nghiệp có thể tác động tiêu cực cho người bị thu hồi đất Họ bị mất tư liệu sản xuất, không có công ăn việc làm dẫn đến đời sống gặp nhiều khó khăn (Phạm Thu Thủy, 2014)

2.3 Đánh giá tác động của chính sách

2.3.1 Khái niệm

Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá tác động chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng Xem xét liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác không Mục tiêu đánh giá tác động của chính sách

Trang 23

là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại Theo Khandker và cộng sự (2010) thì đánh giá tác động là nghiên cứu xem những thay đổi trong mức phúc lợi có thực sự là kết quả của can thiệp chương trình chứ không phải của các yếu tố khác hay không Đánh giá tác động, là việc lượng hóa hiệu quả của chương trình đối với cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nói một cách cụ thể, đánh giá hoạt động là đánh giá hồi cứu dựa trên các mục tiêu chung ban đầu của dự án, các chỉ số và mục tiêu cụ thể Đánh giá hoạt động có thể được thực hiện dựa trên phỏng vấn các đối tượng thụ hưởng chương trình và các cán bộ chịu trách nhiệm triển khai

Như vậy, có thể thấy đánh giá tác động là tìm hiểu xem quá trình triển khai chương trình có diễn ra theo đúng kế hoạch hay không Mục tiêu là so sánh kế hoạch với kết quả thực hiện nhằm xác định xem có khoảng trống nào giữa kế hoạch

và kết quả thực hiện hay không, cũng như tìm ra các bài học kinh nghiệm giúp thiết

kế và triển khai dự án trong tương lai

Trang 24

2.3.3 Phương pháp khác biệt trong khác biệt

Phương pháp khác biệt trong khác biệt (difference in difference- DID) có nhiều ưu điểm và được sử dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu để đánh giá tác động của một chính sách kinh tế Để áp dụng được phương pháp DID, cần phải có số liệu bảng, tức là số liệu vừa phản ánh thông tin theo thời gian vừa phản ánh thông tin chéo của nhiều đối tượng quan sát khác nhau (Nguyễn Xuân Thành, 2006)

Phương pháp này được thực hiện bằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai nhóm, một nhóm được áp dụng chính sách (nhóm tham gia/ nhóm xử lý), nhóm còn lại không được áp dụng chính sách (nhóm đối chứng/ nhóm kiểm soát) Gọi D là biến giả phản ánh nhóm quan sát, D = 0: hộ thuộc nhóm đối chứng; D = 1:

hộ thuộc nhóm tham gia Một giả định quan trọng của phương pháp này là nhóm tham gia và nhóm đối chứng phải có đặc điểm tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách Do đó, đầu ra của hai nhóm này phải có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu không có chính sách

Gọi Y là đầu ra của chính sách Với T = 0 là khi chưa có chính sách, T = 1 là sau khi có chính sách Trước khi áp dụng một chính sách hay chương trình mới, tiến hành thu thập thông tin về đầu ra (Y) của cả hai nhóm và so sánh xem có sự khác nhau như thế nào Sau đó, áp dụng chính sách lên nhóm tham gia và không áp dụng chính sách lên nhóm đối chứng Khi chương trình kết thúc hoặc sau một thời gian

áp dụng nhất định, thu thập thông tin về đầu ra của hai nhóm này lần nữa So sánh

sự khác biệt trước và sau khi có chính sách trong đầu ra của cả hai nhóm Nếu có sự khác biệt trong mức độ biến thiên trong đầu ra giữa hai nhóm này thì đó chính là tác động của chính sách Kết quả này vừa phản ánh sự khác biệt về mặt thời gian trước

và sau khi có chính sách vừa phản ánh sự khác biệt chéo giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia

Giả thiết tối quan trọng của phương pháp DID là nếu không có chính sách thì đầu ra của nhóm đối chứng và nhóm tham gia có xu hướng biến thiên như nhau Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hai nhóm này là do tác động của chính sách hay chương trình mới Phương pháp DID được mô tả cụ thể tại hình 2-2

Trang 25

Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép

Nguồn: Phân tích tác động chính sách công, Nguyễn Xuân Thành (2006)

Vào thời điểm trước khi có chính sách, đầu ra của nhóm đối chứng là Y00 (D

= 0, T = 0) và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D = 1, T = 0) Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có chính sách là Y10-Y00 Tại thời điểm sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm đối chứng là Y01 (D = 0, T = 1) và đầu ra của nhóm tham gia là Y11 (D = 1, T = 1)

Khi đó, chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này là Y11-Y01 Tác động của chính sách là (Y11-Y01) - (Y10-Y00)

2.4 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Chaudhary (2000) đã nghiên cứu về những kinh nghiệm của việc di dời và tái định cư của người dân ở bang Gujarat, Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thiếu chính sách và hỗ trợ của nhà nước đối với việc di dời, tái định cư đã ảnh hưởng bất lợi đến đời sống của người dân Nhiều gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng và trở thành người thất nghiệp; quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang ngành nghề phi nông nghiệp là vô cùng khó khăn cho cộng đồng Mức sống của gia đình xấu đi vì thu nhập của hầu hết các gia đình đã giảm hơn một nửa so với thời điểm trước khi thu hồi đất Mất đất nông nghiệp đã lập tức tác động tiêu cực đến cơ hội việc làm trực tiếp phụ thuộc vào trang trại các hoạt động liên quan Giảm diện

Trang 26

tích đất đai và tình trạng kinh tế của nông dân là dẫn đến tình trạng thiếu lao động nông nghiệp và thắt chặt tiền công lao động làm đào sâu khoảng cách bất bình đẳng Tiền mặt phần lớn các trường hợp ước tính và phân bổ bồi thường tài sản ở cấp hộ gia đình dẫn đến sự bất đồng giữa các gia đình và thành viên khác nhau (những người cùng nhau sử dụng tài sản) liên quan đến việc sử dụng bồi thường Tỷ lệ của bồi thường cho đất được tưới tiêu gần như một nửa của giá thị trường Không có gia đình nào có thể mua được diện tích đất bằng nhau sau khi tái định cư Một số trẻ em gái đặc biệt đã bị thất học Các vấn đề về sức khoẻ như bệnh tật thể chất và tâm lý trầm cảm tăng lên Hầu hết các khu tái định cư đều thiếu các tiện nghi cơ bản như tiếp cận thị trường, đường giao thông, cấp nước sạch, và giáo dục cho trẻ em Guha (2007) đã tiến hành một nghiên cứu về tác động kinh tế xã hội của việc thu hồi đất trên các hộ gia đình có đất nông nghiệp ở Tây Bengal, Ấn Độ Tác giả

đã khảo sát 200 gia đình bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thu hồi đất đã làm làm gia tăng thất nghiệp Điều này làm giảm thu nhập và mức sống của những gia đình cũng giảm sút, nhiều hộ gia đình phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực Nhiều hộ gia đình đã chi phần lớn bồi thường từ thu hồi đất

để cho mục đích tiêu dùng, kết hôn, sửa chữa nhà ở mà ít có tích lũy Chỉ có một số

ít hộ gửi một phần tiền vào ngân hàng Hậu quả chính của việc thu hồi đất là mất đất, mất phương tiện kiếm sống, gián đoạn hoạt động kinh tế, xung đột trong việc phân chia tiền đền bù Người dân buộc phải di dời đến các khu vực kém phát triển, bồi thường không đầy đủ, muộn và suy thoái môi trường Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị cần tham vấn đầy đủ, thanh toán đầy đủ, công bằng và kịp thời số tiền bồi thường, khuyến khích nông nghiệp bảo tồn, tăng cường hỗ trợ tái định cư nơi ở, nghề nghiệp cho người dân bị ảnh hưởng

Mariapia Mendola và Franklin Simtowe (2014) đã nghiên cứu tác động của phân bổ đất đai đến năng suất và phúc lợi của hộ gia đình ở miền Nam Malawi Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khác biệt kép (DID) và hồi quy điểm xu hướng (PSM) để đánh giá tác động của chính sách phân bổ đất đai đến thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình Dữ liệu nghiên cứu gồm 391 hộ gồm 191 hộ thuộc nhóm

Trang 27

hưởng lợi và 200 hộ thuộc nhóm đối chứng Kết quả nghiên cứu cho thấy, chương trình phân bổ đất đai có tác động đến sản lượng nông nghiệp, thu nhập, an ninh lương thực và quyền sở hữu tài sản của các hộ gia đình thuộc nhóm hưởng lợi, trong

đó những hộ được tiếp cận đất đai có điều kiện để tăng phúc lợi Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của chương trình phân bổ đất đai không đồng nhất, những hộ có chủ hộ

là nam giới thì phúc lợi cao hơn hộ có chủ hộ là nữ giới Nghiên cứu đã khuyến nghị để giảm được đói nghèo và bất bình đẳng trong xã hội thì cần cải cách việc cung cấp đất cho các hộ gia đình nghèo đất thông qua việc thực hiện cách tiếp cận thị trường và dựa vào cộng đồng

Justin Holstein (2011), nghiên cứu về phân bổ đất đai và đói nghèo ở Nam Phi Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy điểm xu hướng (PSM) kết hợp với hồi quy OLS để đánh giá tác động của phân bổ đất đai đến đói nghèo của hộ gia đình Biến phụ thuộc sử dụng là an toàn về lương thực Các biến độc lập gồm: chi tiêu, tỷ

lệ đói; dân tộc, tuổi của chủ hộ, số người trong hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, trình độ học vấn với cỡ mẫu nghiên cứu gồm 235 hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy những hộ bị mất đất đai sẽ có chi tiêu thấp hơn so với những hộ không bị mất đất đai Chương trình phân bổ đất đai của Nam Phi không mang lại lợi ích cho người thụ hưởng do không làm tăng chi tiêu hoặc giảm bớt tình trạng mất an ninh lương thực Điều này có thể do chất lượng đất được chuyển giao, quy mô tổ chức tập thể, hoặc nghĩa vụ trong việc giao đất

Arup Majumder (2016) nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính trong việc thu hồi đất tại Tây Bengal, Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả và phỏng vấn sâu hộ gia đình bị thu hồi đất Nghiên cứu tiến hành khảo sát 121 hộ gia đình bị mất đất có chủ hộ là nữ giới và 120 hộ gia đình không bị mất đất có chủ hộ là nữ giới Kết quả nghiên cứu cho thấy: hầu hết các dự án thu hồi đất tại Ấn Độ đã gây ra những thay đổi lớn trong việc sử dụng đất, dẫn đến khó khăn trong di dời và tái định

cư một số lượng lớn hộ gia đình Việc thu hồi đất mà không đi kèm theo các chính sách hỗ trợ sẽ ảnh hưởng xấu đến phúc lợi, nó đã dẫn đến mất an ninh lương thực, mất việc làm hoặc tăng áp lực công việc để có nguồn thu nhập ở phụ nữ Từ đó làm

Trang 28

gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng Xu hướng của các hộ gia đình bị thu hồi đất là

đã chi một phần tiền bồi thường cho mục đích nông nghiệp (ví dụ như mua đất nông nghiệp) trong khi các hộ gia đình nghỉ hưu dành một phần bồi thường cho tiêu dùng hoặc gửi ngân hàng Thay đổi trong mô hình canh tác: có một sự thay đổi đáng kể

từ trồng lúa sang trồng hoa màu hoặc các hoạt động liên quan đến nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất Điều này hàm ý rằng hộ gia đình không muốn tách rời họ từ các hoạt động liên quan đến nông nghiệp để tránh rủi ro trong các hoạt động phi nông nghiệp Tuy nhiên, do thiếu đất nông nghiệp, một số hộ gia đình đã tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp để tìm kiếm nguồn thu nhập thay thế Tăng lao động nông nghiệp: sau khi đất bị thu hồi, diện tích đất còn lại giảm trong khi số lượng người lao động trong nông nghiệp chưa giảm theo kịp dẫn đến hệ quả là thu nhập của người làm nông nghiệp bị giảm sút Tăng khối lượng công việc trong số phụ nữ: ngoài công việc nội trợ, người phụ nữ bắt buộc phải làm thêm công việc ở lĩnh vực khác sau khi bị thu hồi đất để có thể trang trải chi phí cho gia đình

2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Trần Quang Tuyến (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa đất đai, việc làm phi nông nghiệp và mức sống hộ gia đình vùng ven đô Hà Nội Thống kê mô tả và phân tích hồi quy sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này Dựa vào khung phân tích chính sách vi mô về sinh kế nông thôn của Ellis (2000), mức sống của một hộ gia đình (được đo bằng chi tiêu bình quân đầu người) được giả định sẽ bị quyết định bởi các nhân tố sau: đặc điểm nhân khẩu học của hộ; giáo dục và tài sản; việc tham gia của hộ vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và biến giả xã nơi hộ gia đình cư trú Kết quả chỉ ra rằng phần lớn các hộ gia đình trong mẫu khảo sát tham gia vào hoạt động kinh tế phi nông nghiệp Các nhân tố tác động tới mức sống hộ gia đình được nghiên cứu bằng việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến và kết quả đã khẳng định tầm quan trọng của

cả đất đai và việc làm phi nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống của hộ gia đình Bên cạnh đó, tác giả phát hiện rằng một vài biến số khác như giáo dục, tiếp cận vốn tín dụng chính thức, đất đai và tài sản sản xuất có tác động tích cực tới mức

Trang 29

sống hộ gia đình Dựa vào kết quả thực nghiệm, bài viết đề xuất một vài hàm ý chính sách có thể giúp nâng cao thu nhập của hộ gia đình trong bối cảnh đất ven đô ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Bằng chứng kinh tế lượng trong nghiên cứu này khẳng định tác động tích cực của việc làm phi nông nghiệp tới mức sống hộ gia đình Việc tham gia và mức độ tham gia vào bất kỳ một hoạt động phi nông nghiệp nào cũng đều có tác động tích cực tới nâng cao mức sống hộ gia đình Một vài hàm ý chính sách có thể rút ra ở đây là: trong bối cảnh đất ven đô ngày càng bị thu hẹp thì các hộ gia đình thiếu đất có thể nâng cao thu nhập qua việc tham gia tích cực vào bất kỳ hoạt động kinh tế phi nông nghiệp nào Đặc biệt là các việc làm thuê ở khu vực phi chính thức vốn sẵn có và không đòi hỏi cao

về kỹ năng và trình độ giáo dục và do vậy là khá phù hợp với lao động dư thừa ở nông thôn và ven đô của Hà Nội (Cling & cộng sự, 2011) Tuy nhiên, khả năng tiếp cận các việc làm phi nông nghiệp có lợi tức cao hơn ở khu vực ven đô Hà Nội đòi hỏi các người lao động phải có giáo dục tốt, độ tuổi lao động phù hợp, có nguồn vốn và tài sản sản xuất hay có mặt bằng kinh doanh thuận lợi Việc có được hay khả năng tiếp cận tới các nhân tố này bị ảnh hưởng nhiểu bởi yếu tố thể chế và chính sách Do vậy, sự can thiệp chính sách giúp hộ gia đình vượt qua các rào cản trên để tiếp cận các cơ hội việc làm phi nông nghiệp có lợi tức cao sẽ giúp cho họ tự nâng cao mức sống Nghiên cứu này cho thấy đất đai có vai trò tích cực đối với mức sống của hộ gia đình Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở vùng ven đô, thì sự giảm sút thu nhập từ nông nghiệp của nông hộ là không thể tránh khỏi

Lê Thanh Sơn và Trần Tiến Khai (2016) đã nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất vùng nông thôn đến thu nhập của người dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khác biệt kép (DID) để đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình Dữ liệu dùng để đánh giá tác động gồm: i) đặc điểm của hộ gia đình; ii) năm nhóm tài sản sinh kế: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính Mẫu nghiên cứu bao gồm 112 hộ gia đình, gồm 59 hộ dân bị thu hồi đất trong khuôn khổ giai

Trang 30

đoạn 1 dự án khu dân cư vượt lũ Thạnh Mỹ và 53 hộ dân không bị thu hồi đất cư trú dọc theo ba tuyến kênh bao quanh 59 hộ bị thu hồi đất Kết quả nghiên cứu cho thấy việc Nhà nước thu hồi đất ở khu vực nông thôn, trường hợp dự án khu dân cư vượt

lũ Thạnh Mỹ, huyện Vĩnh Thạnh không ảnh hưởng đến thu nhập của người dân bị thu hồi đất, thu nhập bình quân của nhóm hộ bị thu hồi đất thay đổi cùng với xu thế chung, tương tự như nhóm hộ không bị thu hồi Nguyên nhân chính là dự án thu hồi đất với quy mô nhỏ, không gây ra tác động bất lợi cho người bị thu hồi đất đối với

hộ sản xuất nông nghiệp Đối với hộ không sản xuất nông nghiệp thì có thể họ bị mất mối làm ăn do di chuyển chỗ ở, xét ở góc độ hộ gia đình, có thể có nhiều hộ bị mất việc làm nhưng các hộ khác có thể có việc làm nhiều hơn nên tổng thể nguồn thu nhập hoặc chi tiêu không thay đổi Từ các kết quả trên, Lê Thanh Sơn và Trần Tiến Khai (2016) đề xuất một số hàm ý chính sách: 1) Nên thu hồi đất với quy mô nhỏ, hoặc với quy mô nhỏ nhất có thể nhằm hạn chế việc gây ra xáo trộn đời sống sinh kế dân cư và tiết kiệm ngân sách; 2) Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn không có đất hoặc có ít đất nông nghiệp khá cao, và sinh kế dựa vào việc làm thuê nông nghiệp, đời sống bấp bênh Vì vậy, nên chú trọng mở rộng các cơ hội đầu tư nhất là trong ngành chế biến nông sản và thương mại, dịch vụ để tạo thêm việc làm nông thôn và

ổn định đời sống của họ khi thu hồi đất

Trang 31

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

nghiên cứu

Các biến số đại diện Kết quả nghiên cứu

Chaudhary (2000) Thống kê mô tả Thu nhập, diện tích đất, tiền mặt, số tiền bồi

Hộ được tiếp cận đất đai có điều kiện để tăng phúc lợi

Justin Holstein

(2011)

PSM kết hợp với hồi quy OLS

Biến phụ thuộc: Chi tiêu hộ gia đình, đói nghèo, an ninh lương thực Biến độc lập gồm: Học vấn, nơi cư trú, tỷ lệ người phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, mục đích canh tác nông nghiệp

Thu hồi đất làm giảm thu nhập và chi tiêu

Arup Majumder

(2016)

Thống kê mô tả Giới tính, thu nhập, thu nhập của nữ giới,

diện tích đất thu hồi, tỷ lệ bỏ học

Thiếu các chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất

sẽ ảnh hưởng xấu đến phúc lợi, dẫn đến mất an ninh lương thực, mất việc làm Trần Quang Tuyến Thống kê mô tả và Biến phụ thuộc là mức sống hộ gia đình Thu hồi đất làm giảm sút thu nhập

Trang 32

(2014) hồi quy OLS Các biến độc lập gồm đặc điểm nhân khẩu

học của hộ, giáo dục và tài sản, việc tham gia của hộ vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và biến giả là xã nơi hộ gia đình cư trú

Lê Thanh Sơn và

Trần Tiến Khai

(2016)

Phương pháp DID Biến phụ thuộc là thu nhập, chi tiêu của hộ

gia đình Các biến độc lập gồm: năm đánh giá; nhóm hộ và các biến kiểm soát bao gồm nhóm biến phản ánh 05 nhóm tài sản sinh kế của hộ gia đình

Thu hồi đất không ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình

Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2017)

Trang 33

2.4.3 Đánh giá tổng quan tài liệu

Qua lược khảo các tài liệu có liên quan, tác giả rút ra một số nhận xét:

Một là, đất đai là nguồn vốn tự nhiên quan trọng trong sinh kế của người dân Việc thu hồi đất có thể tác động mạnh đến sinh kế của hộ gia đình, làm giảm sút thu nhập của hộ (Justin Holstein, 2011; Arup Majumder, 2016; Trần Quang Tuyến, 2014) Những tác động tiêu cực này có thể được giảm thiểu nếu như có các chính sách hỗ trợ về định cư, y tế, giáo dục, việc làm phù hợp nhằm giúp người dân thích nghi với điều kiện sinh kế thay đổi

Hai là, bên cạnh yếu tố đất đai, thu nhập của hộ gia đình còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như đặc điểm của hộ gia đình; vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính vốn (Justin Holstein, 2011; Arup Majumder, 2016; Trần Quang Tuyến, 2014; Lê Thanh Sơn và Trần Tiến Khai, 2016)

Ba là, các phương pháp đánh giá tác động của việc thu hồi đất đai đến thu nhập của người dân thường được sử dụng là hồi quy OLS, khác biệt trong khác biệt (DID) hoặc hồi quy điểm xu hướng (PSM) kết hợp với hồi quy OLS Trong đó, tùy theo điều kiện thực tế mà sử dụng phương pháp đánh giá phù hợp

Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã trình bày các khái niệm tiếp cận trong nghiên cứu; Tổng quan về chính sách thu hồi đất ở Việt Nam; Phương pháp đánh giá tác động chính sách, trong đó giới thiệu phương pháp khác biệt kép (DID) Đồng thời, lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc hình thành phương pháp nghiên cứu ở chương 3

Trang 34

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Tổng quan về chính sách thu hồi đất ở Việt Nam

3.1.1 Thu hồi đất và đền bù khi thu hồi đất

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Cụ thể, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam (Quốc Hội, 2013) Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai

Theo Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 thì “bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”

Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy định của pháp luật đất đai Như vậy, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra, cho người sử dụng đất tuân theo những quy định của pháp luật đất đai

Theo Từ điển Tiếng Việt thì hỗ trợ là giúp thêm, góp thêm vào Hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ hay chia sẻ bớt một phần khó khăn, rủi

Trang 35

ro mà một thành viên hoặc một nhóm người gặp phải trong cuộc sống Hoạt động này bao gồm 2 hình thức: hỗ trợ về vật chất (tiền của hoặc các hiện vật) và hỗ trợ về tinh thần (động viên, thăm hỏi, an ủi) Theo Luật Đất đai năm 2013 thì hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới

3.1.2 Khung pháp lý về thu hồi đất ở Việt Nam

Khung pháp lý của Chính phủ Việt Nam gồm các Luật, Nghị định của nhà nước về việc thu hồi đất, bồi thường và tái định cư ở Việt Nam và các quy định của chính quyền địa phương bao gồm:

Luật Đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội Khoá XIII nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014;

Nghị định số 44/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ ban hành Quy định về giá đất;

Nghị định 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT, ngày 15/5/2014 của Bộ Tài nguyên môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, ngày 20/6/2014 của Bộ Tài nguyên môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Ngoài ra, ở địa phương, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh như:

Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND ngày 06/4/2012 về việc ban hành quy định

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;

Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND ngày 30/10/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thi hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ban hành kèm theo Quyết định số 16/2012/QĐ-

Trang 36

UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang;

Quyết định số 31/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 về việc ban hành Bảng quy định giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 về việc ban hành quy định đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc trên địa bàn tinh Kiên Giang; Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND ngày 20/10/2008 về việc ban hành quy định đơn giá bồi thường về cây trồng, hoa màu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

3.1.3 Các trường hợp thu hồi đất và trình tự thu hồi đất

Theo Luật Đất đai 2013, những trường hợp Nhà nước thu hồi đất: (i) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (ii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (iii) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

Việc thu hồi đất phải tuân theo quy định của pháp luật Theo đó, trình tự thu hồi đất thực hiện như sau (Quốc hội, 2013): (i)Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; (ii) Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (iii) Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (iv) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt; (v) Bàn giao mặt bằng cưỡng chế thu hồi đất

3.1.4 Chính sách đền bù khi Nhà nước thu hồi đất

Luật đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Chính sách bồi thường, hỗ trợ của Việt Nam được xem xét để đảm bảo họ có một nơi để sống, để ổn định đời sống và sản xuất của họ (Điều

25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP) Hoặc họ sẽ được hỗ trợ về tài chính để mua nhà ở (Điều 86, Luật Đất đai năm 2013)

Trang 37

Khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ bồi thường mà còn thực hiện những chính sách hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, bởi khi bị thu hồi đất, người dân sẽ không thể tránh khỏi những khó khăn về cuộc sống, về lao động sản xuất, về việc làm Chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp bao gồm: hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, các hỗ trợ khác (Phạm Thu Thủy, 2014) Việc bồi thường cho người dân bị thu hồi đất được thực hiện với các hình thức khá đa dạng, bao gồm bồi thường bằng tiền, bằng đất và bằng nhà ở (Chính phủ, 2014)

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Khung phân tích

Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu trước, khung phân tích của đề tài được trình bày tại hình 3.1 Các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình gồm: Nhóm chiến lược sinh kế; tình trạng thu hồi đất; vốn con người; vốn tự nhiên; vốn xã hội; vốn tài chính; vốn vật chất

Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài

Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2017)

HỘ GIA ĐÌNH

Chính sách thu hồi đất - đền bù

- Nhóm hộ dân bị thu hồi đất

Chiến lược sinh kế

- TN chính là làm công hưởng lương

- TN chính là nông nghiệp

- TN chính là kinh doanh

- TN nhập chính là nguồn khác

Trang 38

3.2.2 Mô hình định lượng đánh giá tác động của việc thu hồi đất

Phương pháp sai biệt kép (DID) được áp dụng để đánh giá tác động của yếu tố gây ra sự thay đổi giữa hai thời điểm trước và sau khi có tác động xảy ra so với trường hợp không có tác động của yếu tố (Khandker và cộng sự, 2010) Việc nghiên cứu được thực hiện vào tháng 10/2017 Các thông tin của hộ gia đình trước khi bị thu hồi đất (2014) và sau khi bị thu hồi đất (2016) đều được thu thập, vì vậy phương pháp DID được sử dụng để đánh giá tác động của việc thu hồi đất

Phương pháp DID so sánh nhóm bị thu hồi đất và nhóm không bị thu hồi đất dựa trên những khác biệt trong kết quả tương ứng với tình trạng ban đầu Đặt T = 0

là thời điểm chưa bị thu hồi đất, T = 1 là thời điểm sau khi bị thu hồi đất; D = 0 là nhóm hộ gia đình không bị thu hồi đất, D = 1 là nhóm hộ gia đình bị thu hồi đất Thu nhập tương ứng với các hộ gia đình bị thu hồi đất và không bị thu hồi đất trong thời gian t = T1- T0 Phương pháp DID sẽ cho phép tính toán tác động của việc thu hồi đất bình quân như bảng 3.1

Bảng 3.1: Phương pháp khác biệt trong khác biệt

Thu nhập bình quân đầu người (Yit) Năm 2014 Năm 2016 Khác biệt

Yit là chỉ tiêu phản ánh thu nhập của hộ i tại thời điểm t

D = 1 là hộ khảo sát thuộc nhóm bị thu hồi; D = 0 là hộ khảo sát thuộc nhóm đối chứng

T = 0 là số liệu thời điểm năm 2014; T =1 là số liệu thời điểm năm 2016

Zit là các biến kiểm soát bao gồm nhóm biến phản ánh 5 nhóm tài sản sinh kế

hộ gia đình

Trang 39

3.3 Dữ liệu nghiên cứu

3.3.1 Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; Số liệu thống kê về tình hình thu hồi đất, hỗ trợ tái định cư đối với hộ dân bị thu hồi đất; Các chính sách đã ban hành về hỗ trợ đối với người dân bị thu hồi đất; Tình hình phát triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển kinh tế của thị xã Hà Tiên, … Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê, các báo cáo của UBND thị xã Hà Tiên, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Kiên Giang

3.3.2 Dữ liệu sơ cấp

Lựa chọn điểm điều tra

Đề tài chọn điểm điều tra là 2 Dự án phát triển du lịch: (i) Dự án Thạch Động

và (ii) Dự án Đá Dựng trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang được triển khai

và thực hiện dự án vào năm 2015

Chọn đối tượng điều tra

Đề tài khảo sát nhóm hộ bị thu hồi đất và nhóm hộ không bị thu hồi đất ở xung quanh dự án làm nhóm đối chứng Cả hai nhóm hộ (nhóm bị thu hồi, nhóm đối chứng) có đặc điểm kinh tế, xã hội tương tự nhau tại thời điểm chưa bị thu hồi đất (năm 2014) Với giả định rằng vào năm 2014, hai nhóm này có xuất phát đặc điểm tương đồng nhau, nếu hai nhóm đều không bị thu hồi đất thì thu nhập của họ thay đổi tương tự nhau từ năm 2014 đến 2016 Việc chọn hộ thuộc nhóm hộ bị thu hồi đất và nhóm đối chứng như trên nhằm thỏa mãn điều kiện của phương pháp khác biệt kép

Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi sẽ thu thập một số thông tin của đối tượng phỏng vấn ở thời điểm năm 2014 và năm 2016 bằng phương pháp hồi cứu Các thông tin chính trong bảng hỏi định lượng gồm: i) Thông tin về hộ và chủ hộ (tuổi, giới tính, quy mô hộ, học vấn, dân tộc, tỷ lệ phụ thuộc); ii) các nguồn thu nhập chi tiết phân theo các nhóm sinh kế tại thời điểm năm 2014 và năm 2016; iii) thông tin về 5 tài sản sinh kế

Trang 40

của hộ; iv) thông tin về thực trạng thu hồi đất và đền bù của hộ đối với nhóm bị thu hồi đất v) đánh giá những ảnh hưởng của việc thu hồi đất; (vi) các đề xuất, kiến nghị của hộ (xem chi tiết nội dung bảng câu hỏi tại Phụ lục 1)

Mô tả các biến số và cách đo lường

Thu nhập bình quân đầu người (TNBQ): Được tính bằng tổng thu nhập của hộ trong năm chia cho số lượng thành viên của hộ, đơn vị tính là triệu đồng/người/năm Theo Tổng Cục thống kê (2016) thì thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định Thu nhập của hộ bao gồm: (1) Thu nhập

từ tiền công, tiền lương; (2) Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm… Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh Nhóm hộ (D): Biến giả, nếu bị thu hồi đất nhận giá trị 1; không bị thu hồi đất nhận giá trị 0 Majumder (2016) và ADB (2007) cho rằng thu nhập của hộ bị thu hồi đất thấp hơn so với hộ không bị thu hồi đất, do đó kỳ vọng biến D mang dấu âm Năm đánh giá tác động (T): Biến giả, nếu năm đánh giá là năm 2016 thì nhận giá trị 1; nếu năm 2014 nhận giá trị 0 Majumder (2016) và ADB (2007) cho rằng thu nhập của hộ sẽ tăng theo thời gian nếu bị thu hồi đất, do đó kỳ vọng biến T mang dấu dương

Chiến lược sinh kế (CLSinhKe): Biến định danh 4 nhóm chiến lược sinh kế được xem xét trong nghiên cứu gồm CLSinhKe nhận giá trị 1 đối với hộ có thu nhập chính làm công hưởng lương; CLSinhKe nhận giá trị 2 đối với hộ thu nhập chính từ nông nghiệp; CLSinhKe nhận giá trị 3 đối với hộ thu nhập chính từ kinh doanh; CLSinhKe nhận giá trị 4 đối với hộ thu nhập chính từ nguồn khác ngoài thu nhập từ làm công hưởng lương, từ nông nghiệp và từ kinh doanh Theo Tuyến (2014) và Sơn (2016) thì những hộ có nguồn thu nhập chính từ làm công hưởng

Ngày đăng: 07/08/2018, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w