Đảm bảo ổn định thu nhập từ các hộ dân bị thu hồi đất là nhiệm vụ của cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn xã hội không chỉ riêng ở thị xã Cửa Lò mà một số địa phương khác cũng đang gặp phải
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM HỒNG MẠNH Chủ tịch Hội Đồng:
TS LÊ KIM LONG Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nha Trang, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Thị Tuyết Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ quý báu của quý Thầy, Cô trong Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nha Trang, xin gửi tới quý Thầy, Cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo TS Phạm Hồng Mạnh người hướng dẫn khoa học, Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân: UBND thị xã Cửa Lò, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài chính -
Kế hoạch, Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội, Hội đồng bồi thường và giải phóng mặt bằng thị xã Cửa Lò, Văn phòng ĐKQSD đất thị xã Cửa Lò, Ủy ban nhân nhân thị xã Cửa Hội, phường Nghi Hoà và các hộ gia đình, cá nhân thuộc các nhóm
hộ điều tra tại thị xã Cửa Hội, tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, góp ý và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nha Trang, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Thị Tuyết Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN .iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT .ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG .xi
DANH MỤC HÌNH xii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp của nghiên cứu 3
1.5.1 Về mặt khoa học 3
1.5.2 Về mặt thực tiễn 3
1.6 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Những khái niệm liên quan 5
2.1.1 Khái niệm về hộ gia đình và nông hộ 5
2.1.2 Kinh tế hộ gia đình 6
Trang 62.2 Thu nhập của nông hộ 7
2.3 Các nguồn vốn sinh kế và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 8
2.3.1 Các nguồn vốn sinh kế 8
2.3.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 11
2.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
2.4.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 13
2.4.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 13
2.5 Đánh giá chung các nghiên cứu liên quan và mô hình nghiên cứu đề xuất 17
2.5.1 Đánh giá chung các nghiên cứu liên quan 17
2.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 18
Tóm tắt chương 2 19
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
3.1.1 Vị trí địa lý 20
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội TX Cửa Lò 24
3.1.4 Dân số, việc làm và đời sống dân cư 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 28
3.2.2 Mô hình kinh tế lượng 30
3.2.3 Mẫu nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng 33
3.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 34
Tóm tắt chương 2 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Tình hình thu hồi đất phát triển kinh tế xã hội tại Thị Xã Cửa Lò 36
Trang 74.1.1 Đặc điểm chung 36
4.1.2 Công tác thu hồi đất, bồi thường tại thị xã Cửa Lò trong thời gian qua 37
4.1.3 Chính sách bồi thường, hình thức hỗ trợ cho người bị thu hồi đất 38
4.1.4 Chính sách nâng cao thu nhập thông qua hỗ trợ giải quyết việc làm cho các hộ dân bị ảnh hưởng do quá tình thu hồi đất 39
4.2 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân bị thu hồi đất trên tại Thị xã Cửa Lò 41
4.2.1 Đặc điểm về mẫu điều tra 41
4.2.2 Đặc điểm về diện tích đất thu hồi và đất sản xuất của hộ 41
4.2.3 Sự hỗ trợ của chính quyền 43
4.2.4 Đặc điểm việc làm của hộ gia đình sau khi thu hồi đất 44
4.2.5 Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình sau khi thu hồi đất 44
4.3 Nhận diện mối liên hệ giữa thu nhập và các đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế xã hội của hộ gia đình 45
4.4 PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA NHỮNG HỘ DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ 51
4.4.1 Phân tích các kiểm định các giả thiết của mô hình hồi qui 51
4.4.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi qui 53
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 56
Tóm lược Chương 4 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Các khuyến nghị chính sách về cải thiện thu nhập cho hộ dân bị thu hồi đất tại TX Cửa Lò 60
5.2.1 Quan điểm và định hướng của Trung ương, của tỉnh Nghệ An 60
5.3 Các gợi ý chính sách nhằm cải thiện thu nhập cho hộ dân bị thu hồi đất 62
Trang 85.3.1 Giải pháp về chính sách hỗ trợ việc làm cho người bị thu hồi đất 62
5.3.2 Cần có hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn về sử dụng tiền đền bù, tư vấn, tuyền truyền về các phương án đào tạo nghề, giải quyết việc làm 63
5.3.3 Tạo việc làm và ổn định đời sống sau khi thu hồi đất đối với hộ gia đình 63
5.3.4 Chính sách tạo việc làm đối với lao động lớn tuổi 64
5.3.5 Chính quyền Thị xã cần có những giải pháp để phát triển thị trường lao động 64
5.3.6 Nâng cao năng lực vốn con người đối với hộ gia đình bị thu hồi đất 65
5.3.7 Chính sách tín dụng và nguồn vốn tài chính 66
5.3.8 Một số giải pháp khác 66
Tóm lược Chương 5: 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt các yếu tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình từ các
nghiên cứu liên quan 18
Bảng 3.1: Các biến trong mô hình nghiên cứu 30
Bảng 4.1: Gới tính của chủ hộ thuộc diện thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò 41
Bảng 4.2: Một số đặc điểm thống kê về diện tích đất của những hộ diện thu hồi đất tại Thị Xã Cửa Lò 42
Bảng 4.3: Tiền đền bù cho những hộ dân bị thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò 43
Bảng 4.4: Đặc điểm việc làm của chủ hộ trước và sau khi thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò 44
Bảng 4.5: Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình 45
Bảng 4.6: Chiều hướng thay đổi thu nhập của hộ gia đình sau khi thu hồi đất 45
Bảng 4.7: Mối quan hệ giữa thu nhập và đặc điểm giới tính của chủ hộ gia đình 46
Bảng 4.8: Mối quan hệ giữa thu nhập và độ tuổi của chủ hộ gia đình 47
Bảng 4.9: Mối quan hệ giữa thu nhập và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình 48
Bảng 4.10: Mối quan hệ giữa đặc điểm thu nhập và hỗ trợ việc làm 50
Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình hồi qui về ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất TX Cửa Lò 53
Bảng 4.12: Bảng tổng hợp kết quả hồi qui về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ và kiểm định giả thuyết mô hình nghiên cứu 58
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 2.1: Tài sản sinh kế của người dân 8
Sơ đồ 2.2: Khung phân tích nghiên cứu 19
Sơ đồ 3.1: Qui trình nghiên cứu đề tài 29
Hình 3.1: Bản đồ Thị Xã Cửa Lò 20
Hình 4.1: Diện tích đất sản xuất sản xuất của những hộ dân thuộc diện thu hồi đất tại Thị Xã cửa Lò 42
Hình 4.2: Diện tích đất thu hồi của những hộ dân thuộc diện thu hồi đất tại Thị Xã cửa Lò 43
Hình 4.3: Mối quan hệ giữa thu nhập và tỉ lệ đất nông nghiệp thu hồi của các hộ dân tại TX Cửa Lò 49
Trang 13TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tỉnh Nghệ An nói chung, thị xã Cửa Lò nói riêng đã và đang quyết tâm tập trung nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất góp phần thực hiện vai trò là “Trung tâm kinh tế- văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ” theo Quyết định số 10/1998/QĐ - TTg về định hướng Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020 Đồng thời tạo tiền
đề cho việc phát triển Nghệ An thành trung tâm kinh tế- văn hoá vùng Bắc Trung Bộ theo Quyết định số 239/2005/QĐ - TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Chính vì vậy, tốc độ phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, việc xây dựng kết cấu
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng diễn ra rất nhanh Quá trình
đó đi liền với việc thu hồi đất, bao gồm cả đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư, chủ yếu là vùng ven đô, vùng có điều kiện giao thông thuận lợi, có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Đảm bảo ổn định thu nhập từ các hộ dân bị thu hồi đất là nhiệm vụ của cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn xã hội không chỉ riêng ở thị xã Cửa Lò mà một
số địa phương khác cũng đang gặp phải khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong qúa trình đô thị hoá
Để có thể đánh giá đúng thực trạng việc thu hồi đất cũng như ảnh hưởng của nó tới thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất, qua đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân
bị thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An”
Từ kết quả điều tra phân tích các hộ dân bị thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò cho thấy, phần lớn các hộ gia đình tại địa bàn có tỉ lệ chủ hộ là nam giới chủ hộ là nữ giới chiếm tỉ lệ 25,4% và tỉ lệ chủ hộ là nam giới chiếm 74,6% Tuổi của chủ hộ thấp nhất
là 25 và lớn nhất là 79 Trung bình tuổi của chủ hộ bị thu hồi đất là 48,68 tuổi Trình
độ học vấn của chủ hộ cũng khá đa dạng Tuy nhiên phần lớn những chủ hộ thuộc diện thu hồi đất tại Thị xã có trình độ học vấn khá thấp Tỉ lệ chủ hộ có trình độ học vấn từ cấp ba trở xuống chiếm tới 92,5% Tỉ lệ chủ hộ có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 6% và chỉ có 1,5% chủ hộ có trình độ sau đại học
Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình của Cửa Lò đặc điểm thu nhập của những hộ
dân sau thu hồi đất khá đa dạng ở nhiều dải thu nhập khác nhau Tỉ lệ hộ có thu nhập
Trang 14dưới 5 triệu chiếm 1%; từ 5 đến 10 triệu chiếm 49,2% và trên 10 triệu chiếm 49,7%
Hộ có thu nhập thấp nhất là 5 triệu, cao nhất là 35 triệu và trung bình là 12,4 triệu Trong các hộ gia đình điều tra có 12,4% số hộ có chiều hướng thu nhập tăng lên so với trước khi thu hồi đất, 52,8% tỉ lệ hộ điều tra có thu nhập không đổi và 34,7% tỉ lệ hộ gia đình có thu nhập giảm đi so với trước khi thu hồi đất
Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ bao gồm: Các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình bi thu hồi đất bao gồm bao gồm: giới tính, trình độ học vấn (thời gian đi học của chủ hộ), tỉ lệ phụ thuộc, tỉ lệ diện tích đất thu hồi, có hỗ trợ việc làm, có làm thêm và có vay vốn Trong đó, tỉ lệ diện tích đất thu hồi có ảnh hưởng mạnh nhất tới thu nhập của hộ gia đình và tỉ lệ phụ thuộc
có tác động yếu nhất Mức độ giải thích của mô hình là 46,3%
Thông qua nghiên cứu, luận văn đã đề xuất các hàm ý chính sách nhằm cải thiện thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại Thị xã Cửa Lò trong thời gian tới
Từ khóa: thu hồi đất, thu nhập, Cửa Lò
Trang 15
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới của đất nước, trên khắp các vùng, miền của tổ quốc, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội được nâng cấp, xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp, hiện đại và văn minh Việc thu hồi đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia dẫn đến tình trạng hàng nghìn lao động bị mất đất, trong đó, phần lớn là lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo, quen làm ăn manh mún, nhỏ lẻ, ngại thay đổi…
đã trở thành người thất nghiệp
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó một phần do nhiều nơi thực hiện công tác bồi thường, tái định cư, đào tạo, giải quyết việc làm cho người dân
có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động, quá trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, chưa chủ động tự đào tạo để thích ứng với
sự thay đổi
Tỉnh Nghệ An nói chung, thị xã Cửa Lò nói riêng đã và đang quyết tâm tập trung nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất góp phần thực hiện vai trò là “Trung tâm kinh tế- văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ” theo Quyết định số 10/1998/QĐ - TTg về định hướng Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020 Đồng thời tạo tiền đề cho việc phát triển Nghệ An thành trung tâm kinh tế- văn hoá vùng Bắc Trung Bộ theo Quyết định số 239/2005/QĐ - TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Chính vì vậy, tốc độ phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, việc xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng diễn ra rất nhanh Quá trình đó đi liền với việc thu hồi đất, bao gồm cả đất nông nghiệp của một
bộ phận dân cư, chủ yếu là vùng ven đô, vùng có điều kiện giao thông thuận lợi, có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Đảm bảo ổn định thu nhập từ các hộ dân bị thu hồi
Trang 16đất là nhiệm vụ của cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn xã hội không chỉ riêng ở thị xã Cửa Lò mà một số địa phương khác cũng đang gặp phải khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong qúa trình đô thị hoá
Để có thể đánh giá đúng thực trạng việc thu hồi đất cũng như ảnh hưởng của nó tới thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất, qua đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân
bị thu hồi đất tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An” để làm luận văn thạc sĩ cho mình Thông qua đó, nghiên cứu có thêm những bằng chứng thực nghiệm cho các cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương có được cái nhìn tổng quan, để giải quyết việc làm cho người dân tại khu vực để phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn, qua đó có thể xóa đói giảm nghèo, đảm bảo ổn định và bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là làm rõ là xác định và làm rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình bị thu hồi đất tại địa bàn
TX Cửa Lò, từ đó đề xuất giải pháp tạo nhằm cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình
bị thu hồi đất ở thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất tại địa bàn TX Cửa Lò?
(2) Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào đến thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất tại địa bàn TX Cửa Lò?
Trang 17(3) Những hàm ý chính sách nào nhằm cải thiện thu nhập cho các hộ dân bị thu hồi đất tại địa bàn TX Cửa Lò, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến thu nhập của các hộ dân bị thu hồi đất Đối tượng khảo sát là các nông hộ bị thu hồi đất tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Giới hạn nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu về thu nhập và những vấn đề liên quan đến thu nhập của hộ dân bị thu hồi đất tại địa bàn TX Cửa Lò, tỉnh Nghệ An + Giới hạn không gian: Tại địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
+ Giới hạn thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ 2011 đến nay, kiến nghị cho đến năm 2020
1.5 Những đóng góp của nghiên cứu
Cuối cùng, một đóng góp có ý nghĩa trực tiếp và thiết thực nhất của đề tài là làm tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên ngành kinh tế tại Trường Đại học Nha Trang
1.6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần trích yếu luận văn, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 5 chương, cụ thể:
Trang 18Chương 1: Giới thiệu
Trong chương 1, luận văn đề cập tới sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu cũng được trình bày trong nội dung này của chương
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trong chương 2, luận văn đề cập tới cơ sở lý thuyết về đất nông nghiệp, đặc điểm kinh tế đất nông nghiệp, những vấn đề và tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng như sự cần thiết đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Bên cạnh đó, tổng quan nghiên cứu
và mô hình nghiên cứu của đề tài cũng được trình batf
Chương 3: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Trong chương 3, luận văn đề cập tới đặc điểm địa bàn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu bao gồm: qui trình nghiên cứu, mô hình kinh tế lượng, các phương pháp thu thập, nguồn số liệu sử dụng, mẫu nghiên cứu và các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương 3 này, luận văn trình bày về kết quả nghiên cứu bao gồm: khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của Thị xã Cửa Lò, khái quát chung
về tình hình sử dụng đất nông nghiệp, kết quả phân tích mẫu điều tra về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của những hộ dân tại vùng nghiên cứu Bên cạnh đó, kết quả phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại địa bàn
TX Cửa Lò cũng trình bày
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Nội dung chương 5 đề cập tới những giải pháp nhằm đưa ra những gợi ý chính sách góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn Thị xã Cửa Lò
Trang 19CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Những khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm về hộ gia đình và nông hộ
Khái niệm hộ gia đình
Theo Phạm Thị Hương Dịu (2009) thì gia đình là nhóm người cùng huyết tộc
và hôn nhân Gia đình hạt nhân: 1 vợ, 1 chồng và các con – là đơn vị cơ bản của xã hội Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau sống dưới một mái nhà Một gia đình có thể bao gồm nhiều hộ Gia đình có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo đời sống cho các thành viên của nhóm Gia đình là cơ sở của hộ vì chứa đựng các yếu tố để hình thành các loại hộ khác nhau Tác giả Hương Dịu đã phân biệt hộ và gia đình như sau: (i) Gia đình: có mối tương quan về mặt xã hội như khía cạnh sinh học truyền thống, hôn nhân; (ii) Hộ: là một đơn vị kinh tế nhỏ nằm trong một nền kinh tế nói chung; (iii)
Hộ được coi là Gia đình khi các thành viên có quan hệ huyết thống và hôn nhân; (iv) Gia đình được coi là Hộ khi các thành viên có chung cơ sở kinh tế
Vương Thị Vân (2009) thì đưa ra 3 tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: có quan hệ huyết thống và hôn nhân; cùng cư trú; có
cơ sở kinh tế chung Tác giả cũng cho rằng, đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình
Trong khi đó, Võ Thành Nhân (2011) lại cho rằng hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua
và có chung quỹ thu chi
Khái niệm về nông hộ
FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao ðộng nhà, bao gồm cả nam lẫn nữa
Trang 20Trần Xuân Long (2009) đã nghiên cứu rằng: Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan đến nông nghiệp và không có liên quan đến nông nghiệp Gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn đang tranh luận Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: Nông dân là các nông
hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình
độ hoàn chỉnh không cao
Hộ nông dân có những đặc điểm sau: (i) Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ
sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng; (ii) Quan hệ giữa tiêu dùng
và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường; và (iii) Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân
2.1.2 Kinh tế hộ gia đình
Khái niệm
Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong
đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
khác do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)
Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp
Theo Đinh Văn Quảng (2006) đã nêu lên đặc điểm nổi bật của kinh tế hộ gia đình
là có một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản
Trang 21xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm
vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, còn ở thành thị gọi là các hộ
tiểu thủ công nghiệp
Để phân biệt kinh tế hộ nông dân với các hình thức kinh tế khác thì Vương Thị Vân (2009) đã đưa ra 3 đặc điểm chính như sau: tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai; lao động sản xuất chủ yếu là các thành viên trong hộ tự đảm nhận và sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương và cuối cùng là tiền vốn chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức
lao động của họ
Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền (2013) đã tổng kết và đưa ra các đặc
điểm để có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình như sau: Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong
hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ Tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau Chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng
là người lao động trực tiếp, tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động Về quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh
tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu Quá tŕnh sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp Do vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại
cho đời sau
2.2 Thu nhập của nông hộ
FAO (2007, tr.207) đã đưa ra khái niệm về thu nhập của nông hộ: “thu nhập được xem là một phần thưởng mà các chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định nhận được khi đem các yếu tố như đất đai, vốn, lao động tham gia sản xuất” Trong khi đó, tác giả Trần Xuân Long (2009) cho rằng thu nhập của một nông hộ là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Todaro và Smith (2012) cho rằng thu nhập của hộ gia đình là số lượng hàng hóa và dịch vụ vật chất mà nông hộ có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được Thu nhập của nông hộ được xác định như sau (FAO, 2007):
Trang 22Thu nhập của hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản thu về – Tổng chi phí cho các yếu tố đầu vào – chi phí thuê lao động – chi phí lãi vay – chi phí thuê đất (Các khoản chi phí này không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất)
Trong đó:
+ Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là khoản chi phí được dùng để sản xuất ra một
lượng nông sản nào đó trong một khoảng thời gian nhất định
Tổng chi phí sản xuất (TC) = Chi phí cố định (FC) + Chi phí biến đổi (VC) + Chi phí cố định:là những khoản chi phí không thay đổi và không phụ thuộc vào khối lượng công việc hoàn thành nhằm sản xuất ra nông sản phẩm Bao gồm khoản thuê nhà kho, khấu hao tài sản cố định, tiền thuê đất, chi phí bảo hiểm tài sản, kinh doanh v.v
+ Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí sẽ thay đổi phụ thuộc vào quy mô, khối
lượng công việc được hoàn thành trong quá trình sản xuất Bao gồm các khoản chi phí
về hạt giống, phân bón, thức ăn gia súc
Việc phân ra chi phí cố định và chi phí biến đổi để có giải pháp sử dụng có hiệu quả, bởi vì các khoản chi phí cố định, nếu không sử dụng các nguồn lực này theo đúng thời gian thì sẽ bị lãng phí Tài sản cố định mặc dù không được sử dụng vẫn phải chịu khấu hao
2.3 Các nguồn vốn sinh kế và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
2.3.1 Các nguồn vốn sinh kế
Theo DFID (1999), Nguồn vốn là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên
Sơ đồ 2.1 Tài sản sinh kế của người dân
Nguồn: http://www.livelihoods.org/info/ guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf
Trang 23 Vốn nhân lực (Human capital):
Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau theo những mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp độ gia đình, nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên các hoạt động sinh kế của hộ gia đình Nó được xem là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập Việc
hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó, kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khóa đào tạo Trong trường hợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (những tiêu chuẩn xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn cấm phụ nữ tới trường) thì việc hỗ trợ gián tiếp vào việc phát triển vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong nhiều trường hợp cần kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ Cơ chế phù hợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ là thực hiện các chương trình trọng điểm Các chương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đế xuất những thông tin thông qua việc phân tích các phương thức kiếm sống để chắc chắn rằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất
Cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ
và đào tạo, nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn vốn
con người
Vốn tài chính (Financial capital)
Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế để tạo thu nhập cho hộ gia đình Các nguồn đó bao gồm nguồn
dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu:
- Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị ràng buộc về tính pháp lý Chúng có thể có nhiều hình thức: Tiền mặt, tín dụng ngân hàng, hoặc tài sản thanh khoản khác như vật nuôi, nữ trang, Nguồn lực tài chính có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng
Trang 24- Dòng tiền đều: Ngoại trừ thu nhập, hầu hết loại này là tiền trợ cấp, hoặc sự chuyển giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực (Trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhau giữa sự trả nợ một lần và với sự chuyển giao thường xuyên về kế hoạch đầu tư)
Vốn tự nhiên (Natural capital)
Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khẳ năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người
từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học
Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng
Vốn vật chất (Physical capital)
Vốn vật chất gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế
để thực hiện các hoạt động tạo thu nhập, như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận thích hợp, những vấn
đề giúp ích cho sinh kế của người nghèo và người có thu nhập thấp Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiết lập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng
Cơ sở hạ tầng là một trong những loại tài sản hỗ trợ trực tiếp người dân, đặc biệt
là người nghèo Tài sản này có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh
Trang 25chóng, nếu được đầu tư đúng, và phù hợp với sinh kế hộ nghèo Như hệ thống đường
xá, vận tải, y tế
Vốn xã hội (Social capital)
Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo
ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người tạo ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh
và các hoạt động tạo thu nhập của họ Chúng bao gồm các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen) và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động làm tăng uy tín và khả năng làm việc của con người,
mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng
Trong năm yếu tố cơ bản của sinh kế cho các hoạt động tạo thu nhập của hộ gia đình, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và chuyển dịch cơ cấu
2.3.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Đất đai và tài nguyên thiên nhiên
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù, nơi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là môi trường cho cây trồng sinh sinh trưởng và phát triển Cùng với đất, nước là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi Nước giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, ngoài ra, còn có thời tiết, khí hậu, nhiệt độ và số giờ có ánh sáng mặt trời trong ngày cũng là yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng Khi người nông dân canh tác trên một mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu thì suất đầu tư sẽ thấp hơn nhưng lại thu về được sản lượng cao hơn so với canh tác trên mảnh đất cằn cỗi, bạc màu
Vốn
Có nhiều nhà nghiên cứu đánh giá tầm quan trọng của vốn Michael và Todaro (2012) đã nghiên cứu về mô hình Harrod – Domar và cho rằng nguồn gốc của việc gia tăng sản lượng là do lượng vốn đưa vào sản xuất tăng lên Vốn trong nông nghiệp được hiểu là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp (Phạm Ngọc Dưỡng, 2012) Để phát triển nông nghiệp, bảo đảm an toàn lương thực, phát triển sản xuất thì vốn đóng vai trò rất quan trọng
Trang 26 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp có tính chất thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng và vật nuôi Có lúc cần rất nhiều lao động nhưng cũng có thời gian hầu như không cần sự tác động trực tiếp của lao động Lao động trong nông nghiệp đa phần là lao động tay chân, không cần phải qua đào tạo vẫn có thể làm được Do vậy, phần lớn trình độ của nguồn nhân lực trong nông nghiệp không cao
Tiến bộ khoa học công nghệ
Sự ra đời và phát triển của khoa học công nghệ có tác động rất lớn đối với cuộc sống của loài người, trong đó tác động mạnh mẽ đối với nông nghiệp Giúp cho sản lượng nông nghiệp được nâng lên, chất lượng tốt hơn, giải phóng sức lao động, năng suất lao động được nâng cao José và cộng sự (2009) nghiên cứu mô hình của Nicolas Kaldor và cho rằng sản lượng tăng là do đầu tư phát triển kỹ thuật công nghệ
Chi phí sản xuất trong nông nghiệp
+ Chi phí sản xuất:Chi phí sản xuất là khoản chi phí được dùng để sản xuất ra một
lượng nông sản nào đó trong một khoảng thời gian nhất định
Tổng chi phí sản xuất (TC) = Chi phí cố định (FC) + Chi phí biến đổi (VC)
+ Chi phí cố định:là những khoản chi phí không thay đổi và không phụ thuộc vào khối lượng công việc hoàn thành nhằm sản xuất ra nông sản phẩm Bao gồm khoản thuê nhà kho, khấu hao tài sản cố định, tiền thuê đất, chi phí bảo hiểm tài sản, kinh doanh v.v
+ Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí sẽ thay đổi phụ thuộc vào quy mô, khối
lượng công việc được hoàn thành trong quá trình sản xuất Bao gồm các khoản chi phí
về hạt giống, phân bón, thức ăn gia súc
Việc phân ra chi phí cố định và chi phí biến đổi để có giải pháp sử dụng có hiệu quả, bởi vì các khoản chi phí cố định, nếu không sử dụng các nguồn lực này theo đúng thời gian thì sẽ bị lãng phí Tài sản cố định mặc dù không được sử dụng vẫn phải chịu khấu hao
Trang 272.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.4.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Ở ngoài nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan, điển hình như nghiên cứu của Emmanuel Ekow Asmah (2012) về đa dạng hóa sinh kế và thu nhập của hộ gia đình nông thôn ở Ghana Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộ gia đình nông thôn tiếp cận với phân bón, giao thông công cộng và các thị trường sản phẩm địa phương có nhiều khả năng cải thiện thu nhập và phúc lợi
Nghiên cứu của Nem Nei Lhing et al (2013) khi nghiên cứu về phân tích yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình tại Kyaukpadaung, Myanmar Các kết quả phân tích cũng đã cho thấy, biến tuổi, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ gia đình, quy mô diện tích đất, số vụ trồng trong năm, và có cửa hàng kinh doanh ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình có ý nghĩa thống kê
Abimbola O.Adepojo and Olaniy O Oyewole (2014), nghiên cứu này xem xét các chiến lược sinh kế nông thôn nhằm cải thiện thu nhập và giảm bất bình đẳng trong thu nhập của hộ gia đình Nghiên cứu cho thấy các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến thu nhập và lựa chọn sinh kế của hộ gia đình, như tuổi và đất đai Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất các chính sách hướng đến người dân nông thôn, như: cải thiện tiếp cận đất đai cho nông dân không có đất, cải thiện cung cấp các công nghệ
Fadipe, Adenuga, Lawal (2014) về phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại bang Kwara State, Nigeria Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi cũng có cấu trúc từ 90 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy đa biến cho nghiên cứu Kết quả phân tích cho thấy, trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô trang trại, hộ có điện và giới tính của chủ hộ gia đình được xác định là yếu tố quyết định chính của thu nhập hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu
2.4.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Thu hồi đất là quá trình tất yếu để phát triển CNH, HĐH và đô thị hóa (ĐTH) Từ nhiều năm qua vấn đề đảm bảo thu nhập cho những hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp
đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến vấn đề việc làm và sinh kế của người dân Một số công trình tiêu biểu liên quan có thể kể đến, như:
Trang 28Nghiên cứu của Đoàn Văn Trung (2008) về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống người dân trồng cao su tại huyện Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương Nghiên cứu được thực hện trên cơ sở phân tích số liệu điều tra ngẫu nhiên của 40 hộ trồng cao su
bị thu hồi đất và 30 hộ đang trồng cao su hiện tại, từ đó so sánh thu nhập, việc làm cũng như đời sống của hai đối tượng điều tra nhằm thấy được ảnh hưởng trực tiếp của việc thu hồi đất đối với đời sống những đối tượng trồng cao su Thu nhập trung bình hiện tại của các hộ bị thu hồi đất chỉ gần bằng ¼ thu nhập bình quân của các hộ đang trồng cao su hiện tại Rõ ràng thu nhập của hộ bị thu hồi đất thấp hơn rất nhiều so với
hộ không bị thu hồi đất Các cấp quản lý nhà nước cần có chính sách hỗ trợ việc làm cho những hộ bị thu hồi đất góp phần tăng nguồn thu nhập của đối tượng này
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà (2013), đã nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Nghiên cứu tập trung phân tích tình hình thu hồi đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp và ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, việc làm và thu nhập của các hộ bị thu hồi đất, những thách thức của việc thu hồi đất trong quá trình phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2000 -
2010, huyện Văn Lâm đã thu hồi đất nông nghiệp của 14.260 lượt hộ; tổng diện tích đã thu hồi là 928,52 ha, trong đó đất nông nghiệp là 736,50 ha Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo chiều hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (từ 31,00% năm
2000 tăng lên 74,99% năm 2010) và giảm tỷ trọng nông nghiệp (57,50% năm 2000 giảm xuống 12,65% năm 2010) Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 3,82 triệu đồng (năm 2000) đến 27,2 triệu đồng (năm 2010) Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút khoảng 25.000 lao động vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp… Tuy nhiên, việc mất đất sản xuất nông nghiệp đã làm một bộ phận nông dân thiếu việc làm, nảy sinh một số tác động xã hội khác, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ Cụ thể, nhóm
hộ có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp nhiều (>70%) có tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp cao (94,17%), do vậy thu nhập, đời sống văn hóa tinh thần của họ cũng tăng lên so với trước kia Kết quả điều tra thực tế vẫn còn một số hộ có thu nhập không thay đổi, một
số hộ có thu nhập bị giảm đi so với trước kia, chủ yếu tập trung vào các hộ có tỷ lệ bị thu hồi đất ít (< 30%), nguyên nhân chính là do tâm lý của người dân ngại thay đổi nghề nghiệp nên cố bám trụ trên diện tích đất nông nghiệp còn lại
Trang 29Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã chỉ ra rằng, để tránh hoặc tối thiểu hoá những tổn thất khi thực hiện dự án thì việc thu hồi đất và tái định cư là không thể tránh khỏi, những kế hoạch này nên được lên kế hoạch và thực hiện như một dự án phát triển Những người ảnh hưởng nên được hỗ trợ để họ cải thiện mức sống, hoặc ít nhất là khôi phục cuộc sống của họ, bằng cuộc sống cũ, hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi đất và di chuyển (ADB, 1995) Theo Ngân hàng thế giới (WB, 2004), phục hồi thu nhập là một phần quan trọng của chính sách thu hồi đất khi những người bị ảnh hưởng mất đi cơ sở sản xuất, kinh doanh, việc làm hoặc các nguồn thu nhập khác Các phương án tạo thu nhập bao gồm: (i) Tín dụng trực tiếp đối với kinh doanh nhỏ và tự làm; (ii) Xây dựng các kỹ thuật thông qua đào tạo; (iii) Hỗ trợ trong việc tìm kiếm các cơ hội trong doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và (iv) Ưu tiên đối với những người bị ảnh hưởng trong việc tuyển chọn lao động liên quan đến
dự án hoạt động
Nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2005) về “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của các hộ có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng và phục vụ lợi ích quốc gia” Đề tài đã lý giải tính tất yếu của việc THĐ trong quá trình CNH-HĐH và ĐTH, cho rằng đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển Cơ hội đó là tạo điều kiện
để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hiện đại Thách thức là: người dân mất đất không có việc làm và thu nhập, đời sống của họ tiềm ẩn sự bất ổn bên trong Đề tài này cũng đưa ra các dự báo nhu cầu THĐ và đưa ra khung chính sách đồng bộ bao gồm: Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; chính sách tạo việc làm; chính sách tái định cư; chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển các KCN, KĐT và các chính sách xã hội liên quan để đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị THĐ
Nghiên cứu của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005) về “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” Nghiên cứu đã phân tích đánh, giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người
có đất bị thu hồi ở 7 tỉnh/TP: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Cần Thơ, Bình Dương Kết quả nghiên cứu cho thấy, những hộ dân bị thu hồi đất gặp nhiều khó khăn trong đời sống, đặc biệt là vấn đề việc làm và tái định cư
Trang 30Nghiên cứu đã đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện giải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị THĐ để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Du Phong (2007) về “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia” Trong công trình này, các tác giả nêu lên một số vấn đề lý luận, thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia trong thời gian qua
ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn tồn tại
Việc thu hồi đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia dẫn đến đất cho sản xuất, kinh doanh của người dân bị thu hẹp, phải thay đổi chỗ ở, điều kiện sống Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt tại nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đào tạo, giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng khiếu kiện gây mất trật tự, an ninh xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Qua đó, các tác giả đã đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân bị thu hồi đất thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
- xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia trong thời gian tới
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” Tác giả
sử dụng lý thuyết năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập của tác giả Park Sung Sang yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động nông nghiệp bao gồm trình độ kiến thức nông nghiệp và mức độ đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập Phương pháp tiếp cận
Trang 31này tương đồng với phương pháp của tác giả Đinh Phi Hổ (2008) Nghiên cứu đã xác định đượccác nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: số nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo thu nhập và độ tuổi của lao động và các biến độc lập này đều có ý nghĩa thống kê Các nhân tố tác động thuận chiều đến thu nhập hộ gia đình đó là: kinh nghiệm, trình độ học vấn, hoạt động tạo thu nhập, cuối cùng là độ tuổi lao động Riêng biến số nhân khẩu lại có tác động nghịch chiều đến thu nhập nông hộ Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề
ra các giải pháp thiết thực, gắn liền với tình trạng thực tế ở địa phương
Nguyễn Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014) đã nghiên cứu về “Những nhân tố quyết định đa dạng hóa thu nhập và ảnh hưởng đối với thu nhập hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam”, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy Tobit giới hạn với biến phụ thuộc được đo bằng chỉ số Herfindahl nghịch đảo Kết quả nghiên cứu cho biết nhân tố tác động tích cực đến thu nhập nông hộ là vốn con người, sở hữu vốn tài chính lớn, khả năng tiếp cận tín dụng tốt và vốn xã hội tốt hơn
2.5 Đánh giá chung các nghiên cứu liên quan và mô hình nghiên cứu đề xuất 2.5.1 Đánh giá chung các nghiên cứu liên quan
Về khía cạnh lý thuyết
Nhìn chung các nghiên cứu liên quan đến sinh kế và thu nhập của nông hộ đều dựa trên các lý thuyết về khung phân tích sinh kế và mức sống dân cư, mà cụ thể là mức sống của các hộ gia đình nông thôn Tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình được xem xét thông qua các đặc điểm, như: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm kinh tế, xã hội của hội và các đặc điểm sản xuất và canh tác…
Về đối tượng khảo sát
Hầu hết các nghiên cứu về thu nhập của hộ gia đình nông thôn đều hướng đến các đối tượng khảo sát tại địa bàn khu vực nông thôn Sự khó khăn về thu nhập và đời sống của các hộ gia đình nông đã đặt ra nhiều yêu cầu trong việc cải thiện thu nhập và
đa dạng hóa sinh kế cho hộ
Trang 32nhập của hộ gia đình Như vậy, từ những lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đã cho phép nghiên cứu của đề tài kế thừa các lý thuyết và phương pháp để thực hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất tại Thị xã Cửa
Lò, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.1: Tóm tắt các yếu tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
từ các nghiên cứu liên quan
Thu nhập
Emmanuel Ekow Asmah (2012), Abimbola O.Adepojo and Olaniy O Oyewole (2014), Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà (2013),Ngân hàng thế giới (2004), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) Đinh Phi Hổ (2008)
(2008), Nem Nei Lhing et al (2013)
(2014)
Học vấn
Nem Nei Lhing et al (2013), Fadipe, Adenuga, Lawal (2014), Ngân hàng thế giới (WB, 2004),Lê Du Phong (2007), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) Đinh Phi
Tỉ lệ diện tích đất thu hồi
Ngân hàng Thế giới (2004), Fadipe, Adenuga, Lawal (2014) Đoàn Văn Trung (2008), Nem Nei Lhing et al (2013)
Hỗ trợ việc làm
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng thế giới (WB, 2004), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2005), Lê Du Phong (2007)
Làm thêm
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) Đinh Phi Hổ (2008), Nem Nei Lhing et al (2013), Ngân hàng thế giới (WB, 2004)
Nguyễn Ngọc Danh (2014)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ quá trình lược khảo tài liệu
2.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Xuất phát từ cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Mô hình nghiên cứu đề xuất về các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ dân bị thu hồi đất tại địa bàn TX Cửa lò được thể hiện trong Sơ đồ 2.1 Các giả thuyết nghiên cứu của mô hình được trình chi tiết trong chương 3 của luận văn
Trang 33Sơ đồ 2.2 Khung phân tích nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Tóm tắt chương 2:
Từ đó xây dựng được mô hình nghiên cứu đề xuất về các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của chủ hộ: Tuổi, giới tính, sức khỏe, trình độ học vấn, tỷ lệ người phụ thuộc, tỷ lệ diện tích đất thu hồi, tiền bồi thường và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và đưa ra các giả thuyết nghiêu cứu
Học vấn +
Tỉ lệ phụ thuộc
-
Có hỗ trợ việc làm
Có hoạt động phi nông nghiệp
Có vay
Tỉ lệ diện tích đất thu hồi
-
Trang 34CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nguồn: UBND Thị xã Cửa Lò, 2016
Hình 3.1: Bản đồ Thị Xã Cửa Lò
+ Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc;
+ Phía Nam giáp Sông Lam và tỉnh Hà Tĩnh;
+ Phía Đông giáp Biển Đông;
+ Phía Tây giáp huyện Nghi Lộc
Trang 35Thị xã có 07 đơn vị hành chính là 07 phường: Nghi Tân, Nghi Thuỷ, Thu Thuỷ, Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Hoà và Nghi Hải (phường Nghi Thu và Phường Nghi Hương được thành lập năm 2010)
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Biển, Đảo Cửa Lò ngoài ý nghĩa về quốc phòng còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, đặc biệt là du lịch Bãi biển nông, cát mịn, trắng, nước biển trong xanh, có độ mặn thích hợp, môi trường khí hậu sạch, kết hợp cảnh quan thiên nhiên ven biển như cây xanh, thảm cỏ, núi non, hang động, có đảo gần bờ, tất cả đã tạo cho Cửa Lò lợi thế về phát triển du lịch
* Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Thị xã Cửa Lò có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời là Thị xã ven biển nên thường hứng chịu những đợt gió bão nặng nề
Chế độ nhiệt: Có hai mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 230 - 240C, tháng nóng nhất là tháng 7 lên tới 390 - 400C Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiết độ trung bình 190 - 200C, thấp nhất có thể xuống tới 60C
Số giờ nắng trung bình năm là 1.637 giờ
Trang 36Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm 1.900 mm, lớn nhất khoảng 2.600
mm, nhỏ nhất 1.100 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm tập trung từ nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, nhiều khi dẫn đến lũ lụt Lượng mưa thấp nhất từ tháng 01 đến tháng 4, chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm
Chế độ gió: Có hai hướng gió chính Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 (tháng 6 - 7 có gió Lào nóng)
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân 85 - 86%, cao nhất vào tháng 01, tháng 02 trên 90 % và nhỏ nhất vào tháng 7 khoảng 74 - 75%
Lượng bốc hơi: Bình quân năm 943 mm Lượng bốc hơi trung bình của tháng nóng là 140mm (từ tháng 5 đến tháng 8) Lượng bốc hơi trung bình của những tháng mưa là 59mm (tháng 10,11 và 12)
Những đặc trưng về khí hậu của thị xã Cửa Lò là: Biên độ nhiệt giữa các mùa trong năm lớn, chế độ mưa tập trung trùng vào mùa bão, mùa nắng nóng có gió mùa khô nóng, đó là những nguyên nhân chính gây nên xói mòn huỷ hoại đất Nhất là trong điều kiện rừng bị chặt phá và sử dụng đất không hợp lý (Phòng Thống kê thị xã Cửa
Lò, 2016)
* Đặc điểm thuỷ văn
Thị xã Cửa Lò nằm giữa hai cửa biển với hai con sông lớn là sông Lam và sông Cấm Sông Lam chảy ở phía Nam, là ranh giới giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh, đổ
ra biển ở Cửa Hội Sông Cấm ở phía Bắc, đến Nghi Lộc có tên là sông Cửa Lò và đổ
ra biển Bên cạnh đó, Thị xã còn chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của một số sông của huyện Nghi Lộc, chế độ thuỷ văn của Biển Đông và đặc biệt là chế độ xâm nhập mặn của thuỷ triều
* Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên nước:
Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của Thị xã khá dồi dào, bao gồm hai hệ thống sông Cấm, sông Lam và một số hồ ở Nghi Hương, Nghi Thu cung cấp nước cho sản xuất NN, cho sinh hoạt chống nhiễm mặn cho đồng ruộng Nguồn nước sông Cấm khá dồi dào nhưng do ảnh hưởng của xâm nhập mặn nên sử dụng khá hạn chế Hiện nay, đập Nghi Quang, Nghi Khánh (thuộc huyện Nghi Lộc) phát huy tác dụng đã ngọt hoá được phần nào nước sông Cấm
Trang 37Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen, Pliocen, Miocen ở độ sâu 100 - 300m, nhưng có nơi 20 - 50 m đã
có nước ngầm, chất lượng khá tốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
- Tài nguyên rừng
Tiềm năng đất lâm nghiệp của Thị xã chủ yếu là rừng trồng sản xuất và phòng hộ, bên cạnh đó còn có một số loại cây trồng chính như phi lao, keo và cây bóng mát trong khu đô thị Nhìn chung, tài nguyên rừng của thị xã Cửa Lò ngoài ý nghĩa về phòng hộ ven biển, còn có vai trò quan trọng là tạo bóng mát, góp phần tích cực vào việc điều hoà khí hậu, giữ gìn nguồn nước, tạo cảnh quan môi trường sinh thái phục vụ cho du lịch
- Tài nguyên biển và ven biển
Thị xã có nguồn lợi hải sản khá phong phú (bao gồm cả khai thác và nuôi trồng)
Do có hai sông lớn đổ ra biển kèm theo nhiều phù sa, phù du từ trong lục địa nên có nguồn hải sản phong phú, gồm nhiều loại có giá trị kinh tế cao như: cá chim, cá thu, tôm, mực, vẹm, ngao Đặc biệt khu vực Cửa Hội là khu vực hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển nghề cá
Bờ biển của Thị xã đã tạo ra tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch biển cho Thị
xã, đặc biệt hơn cả là Đảo Ngư, Đảo Mắt, cảng Cửa Lò là động lực thúc đẩy giao lưu, phát triển kinh tế, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang quan tâm nhiều đến khai thác kinh tế biển của đất nước
- Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn không nhiều, chủ yếu là vật liệu xây dựng như cát, quặng Titan ở Nghi Hải Tuy nhiên trữ lượng thấp, phân bố rải rác ở các phường, tiềm năng khai thác ít, phù hợp với quy mô khai thác vừa và nhỏ
- Tài nguyên nhân văn
Trải qua quá trình chinh phục, cải tạo thiên nhiên và đấu tranh chống giặc ngoại xâm hàng ngàn năm đã tạo cho vùng đất, con người Cửa Lò khá nhiều giá trị văn hóa trong nếp sống, cách ứng xử và quan hệ xã hội Với cốt cách con người xứ Nghệ có tính chặt chẽ, nghiêm khắc song tính trội của con người ở đây vẫn là lòng trung thực, sống nhiệt tình và đoàn kết cộng đồng cao Các di tích lịch sử như Đền thờ Nguyễn Sư Hồi, Đền Vạn Lộc, đã minh chứng về con người, về một vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng
Trang 38- Tài nguyên du lịch
Thị xã Cửa Lò đã trở nên nổi tiếng về du lịch, trên địa bàn có bờ biển dài, thoải, cát mịn, trắng, nước trong, cảnh quan đẹp… đã hình thành được nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng cả nước, như: bãi tắm Thu Thuỷ, Thu Hương và Hải Hoà Ngoài ra, đây là một điểm có các danh lam thắng cảnh xung quanh như: Đảo Lan Châu, Mũi Rồng, Hòn Ngư, Hòn Mắt và nhiều di tích khác đã được xếp hạng Đây cũng là một trong những điểm thuận lợi chính cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ mát Đặc biệt những năm gần đây đã thu hút một lượng du khách đáng kể, hàng năm đón gần 2 triệu lượt khách Trên địa bàn thị xã có nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, giao thông thuận lợi… là điều kiện để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và nghỉ dưỡng (Cục Thống kê Nghệ An, 2016)
3.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội TX Cửa Lò
3.1.3.1 Chỉ tiêu kinh tế xã hội và cơ cấu kinh tế
Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 -2012 là 14,0 % Khu vực dịch vụ luôn luôn đóng vai trò chủ đạo của kinh tế thị xã, vì vậy phát triển kinh tế luôn
đi kèm với phát triển các ngành du lịch, dịch vụ là chủ trương hàng đầu của tỉnh cũng như thị xã Cửa Lò
Các chỉ tiêu kinh tế kinh tế xã hội năm 2016 (Phòng Thống kê thị xã Cửa Lò, 2016) cho thấy tình hình kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh cụ thể:
+ Tổng GTSX ước đạt 4.383 tỷ đồng (theo giá SS 2010), đạt 102,3% KH tỉnh giao
và 102,2% KH HĐND thị xã giao, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2015;
Trong đó:
* Nông lâm thủy sản ước đạt 264 tỷ đồng, tăng 1,6% so cùng kỳ;
* Công nghiệp - xây dựng ước đạt 2.469 tỷ đồng, bằng 100,4% kế hoạch tỉnh giao
và 100,2% kế hoạch HĐND thị xã giao, tăng 9,0% cùng kỳ 2012;
* Các ngành dịch vụ ước đạt 1.650 tỷ đồng, bằng 105,6% kế hoạch tỉnh giao và 105,6% kế hoạch HĐND thị xã giao, tăng 11,4% so cùng kỳ năm 2015
+ Tổng GTGT (Giá 2010) ước đạt 2.174,3 tỷ đồng, tăng 9,9% (tốc độ tăng trưởng) so với cùng kỳ năm 2015 và đạt 102,7% KH năm 2015
Trang 39+ Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 150 tỷ đồng, bằng 100% dự toán HĐND thị xã giao và bằng 103,9% DT tỉnh giao, bằng 93,6% so với cùng kỳ năm 2015; thu cấp QSD đất ước đạt 10 tỷ đồng đạt 33,3% KH, bằng 42,5% cùng kỳ năm 2015 Thu loại trừ tiền đất ước đạt 140 tỷ đồng đạt 122,4% DT pháp lệnh tỉnh giao, đạt 116,7% dự toán HĐND thị xã giao và tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2015
Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 233,412 tỷ đồng, bằng 150,3% dự toán năm tỉnh giao, tăng 38,8% so DT HĐND thị xã giao, tăng 4,1% so cùng kỳ năm 2015 Trong đó: Chi thường xuyên 159,6 tỷ đồng, vượt 22% DT HĐND và chi đầu tư phát triển qua ngân sách thị xã ước đạt 50 tỷ đồng
+ Tổng nguồn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 1000 tỷ đồng đạt 100% KH, tăng 6,5% cùng kỳ năm 2015
Cơ cấu kinh tế của địa phương
Cơ cấu kinh tế Cửa Lò đã chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm – thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực phi NN Tuy nhiên, 5 năm đầu sau khi được thành lập, kinh tế thị xã vẫn thiên về sản xuất nông - lâm – thủy sản nên tỷ trọng của khu vực này liên tục duy trì ở mức 23 - 24% Từ năm 2009 bắt đầu giảm dần
do sự phát triển lấn lướt của khu vực công nghiệp và dịch vụ, năm 2010 tỷ trọng nông
- lâm - ngư nghiệp chỉ còn 8,1%, năm 2012 chỉ còn 6,17 % Thay vào đó là tỷ trọng
ngành dịch vụ du lịch tăng mạnh 61,79 % (Phòng Thống kê thị xã Cửa Lò, 2016)
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Từ sau khi thành lập Thị xã, tuy nhịp độ tăng trưởng không cao nhưng các ngành nông - lâm – thủy sản vẫn duy trì được vai trò của mình trong nền sản xuất xã hội của Thị xã Giá trị sản xuất tăng từ 74,4 tỷ năm 2006, năm 2010 đạt 133,3 tỷ đến 2012 đạt 257,5 tỷ đồng Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2015 của ngành kinh tế nông nghiệp đạt 14,3 % Về dài hạn, đây là nhịp độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn hiện nay, song nó cũng phản ánh giới hạn trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp ở Cửa Lò cần được đầu tư, chuyển đổi sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn tới
Năm 2016, Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp va thủy sản cũng có bước tăng trưởng
Cụ thể là: GTSX nông, lâm, ngư nghiệp ước đạt 264 tỷ đồng, bằng 100,8% KH của tỉnh
và thị xã giao, tăng 2,5% so cùng kỳ năm 2015
Trang 40Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng đạt 100% kế hoạch Sản lượng lương thực có
hạt đạt 2.300 tấn bằng cùng kỳ năm trước
Hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp với số tiền là 318,7 triệu đồng, nhằm đưa các giống cây con mới vào sản xuất Tiếp tục thực hiện mô hình trồng rau an toàn tại khối 10, phường Nghi Hương với quy mô 1 ha, đến nay mô hình được đánh giá đạt hiệu quả cao Dưa chuột cho thu nhập 190 - 200 triệu đồng/ha, bí xanh cho thu nhập 140 - 150 triệu đồng/ha gấp 2-2,5 lần trồng ngô và lạc Đang xây dựng mô hình nuôi chim trĩ tại phường Nghi Hương Xây dựng mô hình nuôi đà điểu sinh sản và lấy thịt tại khối 13 Nghi Hương
Chăn nuôi - Thú y: Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/4/2016, Tổng đàn trâu bò là
989 con giảm 25,4% so cùng kỳ 2015 (bằng336 con); lợn 2.790 con giảm 19% so cùng kỳ
2015 (bằng 653 con), gia cầm đạt 57.778 con giảm 4,7% so cùng kỳ 2015 (bằng 2.871 con), nguyên nhân giảm chủ yếu do diễn biến dịch bệnh gia súc gia cầm phức tạp, giá cả giảm trong khi chi phí thức ăn cao
Lâm nghiệp: Chăm sóc bảo vệ 100% diện tích rừng hiện có Trong năm đã trồng
được khoảng 4.000 cây xanh đô thị và trên 36 ngàn cây phân tán
Khai thác thủy sản: Sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản ước đạt 9.000 tấn,
tăng 2,3% (bằng 200 tấn) so với cùng kỳ năm 2015, đạt 102,5% KH 2016 và vượt 58,7%
KH tỉnh giao
Khu vực kinh tế công nghiệp
Các ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng nhanh Giá trị sản xuất công nghiệp, TTCN tăng từ 82,2 tỷ đồng năm 2006, 747 tỷ đồng năm 2010 và đến năm
2016 đạt 873,2 tỷ đồng Nhờ chú trọng khôi phục một số nghề truyền thống như chế biến thủy sản, kho đông lạnh, đóng sửa chữa tàu thuyền, mộc dân dụng và tích cực du nhập các nghề mới nên công nghiệp - TTCN ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh về tốc độ và tỷ trọng trong công nghiệp Thị xã Với xu thế tăng trưởng cao dần và cao hơn khu vực dịch vụ, tỷ lệ đóng góp của khu vực công nghiệp - xây dựng vào tăng trưởng kinh tế chung chắc chắn sẽ ngày càng cao hơn Ngành xây dựng trong những năm qua có bước phát triển khá, giá trị sản xuất năm 2012 đạt 965 tỷ đồng, chiếm 52,5
% tổng giá trị sản xuất của khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng