Chính điều này dẫn tới việc phản ánh không chính xác về thực trạng thị trường lao động hiện nay”.Ở các nước, họ quan niệm rằng những ai trong độ tuổi lao động không tạo ra thu nhập, khôn
Trang 1BẠN ĐỌC
CHÚNG TÔI CÓ Ý KIẾN
Tỉ lệ thất nghiệp 1,84%: quá phi lý!
08/09/2014 06:52 GMT+7
TT - Ngày 3-9, Bộ Lao động - thương binh và xã hội công bố “Bản tin thị trường lao
động VN - số 3 năm 2014”, trong đó nội dung tỉ lệ thất nghiệp cả nước là 1,84%
Rất đông bạn trẻ tìm việc làm tại chương trình “Tiếp sức người lao động” ở Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM - Ảnh: Quang Định
Trang 2
TS Nguyễn Minh Hòa đã gửi đến Tuổi Trẻ bài viết về tỉ lệ này.
Bộ Lao động - thương binh và xã hội vừa công bố một chỉ số nức lòng dân là tỉ lệ thất nghiệp quý 2 ở VN hiện nay chỉ có 1,84% Nói là nức lòng bởi tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều lần so với châu Âu, nơi vốn được coi là có nền kinh tế khá ổn định, và thấp hơn Mỹnhững ba lần trong thời điểm hiện tại là 6,2%
Những người làm nghiên cứu lâu năm không ngạc nhiên về những con số thống kê như thế vì đã quen rồi, mà ngạc nhiên là tại sao cung cách làm việc như thế sau hàng chục năm vẫn còn được phát huy
Tỉ lệ 1,84% là một tỉ lệ vô cùng lý tưởng, phản ánh một hệ số an toàn gần như tuyệt đối cho một quốc gia Nhưng nếu đây là con số thống kê sai lệch thì hậu quả sẽ khôn lường Một vài ví dụ chắc chắn sẽ xảy ra:
- Các nhà quản lý giáo dục, các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề tin rằng mình đang đào tạo đúng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, không cần phải cải tiến nữa Những ta thán ngoài xã hội là vớ vẩn, phi khoa học
Trong khi thực tế, nếu một khoa đào tạo sinh viên ra trường mà có được 70% sinh viên kiếm được việc làm thì kể như thành công ghê lắm
- Các cơ quan an ninh, bảo vệ xã hội không còn lo lắng gì nhiều nữa, bởi tỉ lệ thất nghiệp giảm sâu đồng nghĩa với việc các tệ nạn xã hội sẽ giảm, như thế các giải pháp phòng ngừa là không cần thiết, bởi yếu tố “nhàn cư vi bất thiện” gần như bị loại bỏ
- Không cần đầu tư thêm cho chính sách xóa đói giảm nghèo nữa, bởi không có lý do gì phải bỏ thêm tiền cho người nghèo khi mà ai cũng có công ăn việc làm
Trang 3- Những nhà đầu tư nước ngoài đang định dịch chuyển từ Trung Quốc, Nam Á sang VN
vì nghe nói lao động VN giá rẻ, dôi dư cao, nay ngưng lại vì ở VN trên 98% lao động có việc làm thì việc tuyển lao động mới là không dễ
- Các tổ chức quốc tế, các quốc gia, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á sẽ ngưng ngay các khoản cho vay ưu đãi, các dự án ODA, các gói hỗ trợ nhân đạo vì VN hiện nay có nền kinh tế bền vững hơn cả Mỹ và châu Âu, và Chính phủ không có lý do gì
để trì hoãn các khoản nợ khổng lồ nữa
TS Nguyễn Minh Hòa - Ảnh: Tự Trung
Thống kê phi khoa học
Tất nhiên hệ lụy còn nhiều hơn nữa nếu muốn tiếp tục kể thêm ra đây Tôi tin chắc một điều là những người làm ra con số tỉ lệ thất nghiệp này cũng không tin là nó đúng
Trang 4Bản thân ông phó viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội VN Nguyễn Bá Ngọc thừa nhận rằng: “Chúng ta điều tra theo cách khi người lao động có một giờ làm việc trước thời điểm điều tra cũng được coi là có việc làm Chính điều này dẫn tới việc phản ánh không chính xác về thực trạng thị trường lao động hiện nay”.
Ở các nước, họ quan niệm rằng những ai trong độ tuổi lao động không tạo ra thu nhập, không có thu nhập ổn định từ sức lao động của mình, những ai phải sống dựa vào trợ cấp thất nghiệp, sống dựa vào phúc lợi xã hội thì bị coi là thất nghiệp, kể cả chuyện đang có việc làm sau đó mất việc, một người được đào tạo ở bậc cao phải làm một công việc tạm
bợ cũng coi là thất nghiệp
Trong khi đó bộ chủ quản về lao động ở nước ta cho rằng nền kinh tế VN là nền kinh tế
có độ mở lớn và mềm dẻo, cho nên bất kỳ ai kiếm được một công việc đủ trang trải cho nhu cầu tối thiểu dù bấp bênh đến đâu cũng không được xếp vào nhóm thất nghiệp.Điều đó có nghĩa là một kỹ sư bị ra khỏi nhà máy do doanh nghiệp phá sản quay ra chạy
xe ôm, một viên chức ngân hàng cao cấp phải chạy bàn độ nhật trong quán cũng không coi là thất nghiệp nếu trước thời điểm được hỏi anh ta có sở hữu được một đơn vị thời gian dù chỉ là một giờ để làm việc kiếm sống
Chính vì quan niệm như thế mà trong cơn khủng hoảng toàn cầu tàn phá các nước phát triển thì VN lại có thành tích “thất nghiệp cực thấp”, vì những người thất nghiệp ở đô thị
đã dạt về nông thôn để thực hiện sự chuyển dịch nghề nghiệp trong trạng thái cơ cấu kinh
tế mới, dù trên thực tế chẳng biết họ về nông thôn có làm việc đồng áng không hay chờ
cơ hội để lại ra đi Sự khác biệt bất thường
Việc cố gắng duy trì cách thức thống kê phi khoa học này có thể tìm thấy ở bất cứ lĩnh vực nào từ thống kê GDP cả nước và từng tỉnh, huyện, đến thống kê dân số, tỉ lệ thất nghiệp, thu nhập hộ gia đình, tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông, tỉ lệ giáo viên trên đầu sinh viên
Nếu loại trừ việc làm ăn cẩu thả hay gian dối ra thì chúng ta sẽ thấy một thực trạng hiển nhiên là VN đang tồn tại một hệ thống quản lý nhà nước cũng như quản lý xã hội không giống với bất cứ quốc gia tiên tiến nào trên thế giới
Nó có cơ cấu, quy trình, chế độ vận hành, nguyên tắc và các tiêu chí hoàn toàn khác biệt với các nước
Những người làm nghiên cứu, thực hiện các dự án có yếu tố nước ngoài mới thấy rất rõ ràng các thành phần trong hệ thống quản lý của ta đặc biệt đến mức không sao ráp nối
Trang 5được với quốc tế, mà muốn khớp được với nhau thì phải hoặc là “đẽo chân cho vừa giày”hoặc phải bôi trơn nhiều lớp may ra chân mới lọt vào giày.
Bao giờ VN mới có được một hệ tiêu chí chuẩn tương thích với quốc tế để làm cơ sở cho việc hoạch định các chiến lược quốc gia?
Thông tin tỉ lệ thất nghiệp gia tăng từng ngày đã thực sự là mối quan tâm của xã hội Từ đầu năm đến nay, tại TPHCM, Lao Động (LĐ) mất việc lên đến hàng chục ngàn người, nhưng tình hình xem ra còn xấu hơn Doanh nghiệp cắt giảm lao động
và giải thể trong thời buổi kinh doanh khó khăn được cho là nguyên nhân khiến thất nghiệp gia tăng.
Theo Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực và thông tin thị trường lao động TP, nhu cầu tuyển dụng LĐ trong tháng 7 giảm 40%, có những ngành giảm 60% Chưa hết, trong tháng 8, dự báo sẽ giảm 20% so với tháng 7
Thị trường LĐ âm u như vậy nên nhiều người học nghề ở các trường, cơ sở đào tạo ra trường trong lúc này rất khó xin được việc làm Nhiều DN đã hứa hẹn trước, thậm chí cam kết với trường nghề về việc tuyển dụng LĐ, nhưng do gặp khó khăn trong sản xuất nên tạm ngừng tuyển người
Sáu điểm tiếp nhận đăng ký thất nghiệp tại TPHCM gần như ngày nào cũng có hàng trămlao động ghé qua Tại phòng bảo hiểm thất nghiệp của Trung tâm giới thiệu việc làm TPHCM chỉ trong buổi sáng đã có hơn 300 người đến làm hồ sơ đăng ký thất nghiệp Họ đến với nhiều lý do để nghỉ việc, chủ yếu do mức lương cơ bản quá thấp, không đủ trang trải cuộc sống
“So với năm trước, những tháng gần đây số người đến đăng ký thất nghiệp tăng lên Mỗi ngày nơi đây giải quyết không dưới 500 trường hợp đăng ký thất nghiệp”- một cán bộ tiếp nhận đăng ký thất nghiệp ở Trung tâm giới thiệu việc làm TPHCM cho biết
Trang 6Cả năm 2010 toàn TPHCM chỉ có hơn 67 nghìn người đăng ký thất nghiệp, trong khi chỉ
7 tháng đầu năm nay các điểm đăng ký thất nghiệp đã tiếp nhận hơn 70 nghìn người Điều đó cho thấy tình trạng thất nghiệp hiện nay đang ở mức báo động
Trục lợi từ… Thất nghiệp
Tuy nhiên vẫn có những trường hợp trục lợi từ bảo hiểm thất nghiệp Có hiện tượng người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động đến đăng ký thất nghiệp để được hưởng trợ cấp sau đó xin việc làm ở nơi khác hoặc đã có việc làm mới nhưng không thông báo, để tiếp tục được hưởng bảo hiểm thất nghiệp Hiện tượng trục lợi bảo hiểm thất nghiệp hiện nay một phần do các quy định còn lỏng lẻo Theo quy định sau khi mất việc người lao động phải đăng ký thất nghiệp và sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký mà vẫn chưa tìm được việc thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Không ít trường hợp vừa nghỉ việc được vài ngày là tìm được việc làm mới nhưng vẫn đăng ký để nhận trợ cấp thất nghiệp, trong khi việc giám sát xem họ tìm được việc làm hay chưa trong vòng 15 ngày sau khi đăng ký gần như là việc không thể
Đó là chưa kể không ít trường hợp công ty giải quyết cho người lao động rút sổ bảo hiểm
xã hội để làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp rồi sau đó được công ty ký hợp đồng trở lại
Các loại hình thất nghiệp: nguyên nhân và giải pháp
Bài phân tích các loại hình thất nghiệp và giải pháp khắc phục để giải quyết và hạn chế tình trạng thất nghiệp.
1 Các loại hình thất nghiệp
Trong các sách báo kinh tế chúng ta thường gặp rất nhiều những tên gọi khác nhau về các lọai hình thất nghiệp Thực tế đó bắt nguồn từ những quan niệm không thống nhất
về thất nghiệp hoặc dựa trên những tiêu chuẩn phân loại khác nhau Chúng ta hay gặp
các thuật ngữ : Thất nghiệp tạm thời, Thất nghiệp tự nhiên, Thất nghiệp tự nguyện, Thất nghiệp không tự nguyện, Thất nghiệp cơ cấu, Thất nghiệp công nghệ, Thất
Trang 7nghiệp mùa vụ, Thất nghiệp hữu hình, Thất nghiệp trá hình, Thất nghiệp ngắn hạn, Thất nghiệp trung hạn, Thất nghiệp dài hạn, Thất nghiệp từng phần (bán thất nghiệp), Thất nghiệp toàn phần, Thất nghiệp chu kỳ, Thất nghiệp nhu cầu, Thất nghiệp kinh niên, Thiếu việc làm hữu hình, Thiếu việc làm vô hình, Thừa lao động, Lao động dôi dư
Tuy nhiên nội hàm của những thuật ngữ đã nêu không được phân biệt một cách rõ ràng Chẳng hạn, thất nghiệp tự nhiên chủ yếu là do thiếu thông tin thị trường lao động và do
sự di chuyển của người lao động trên thị trường, như vậy lọai hình này gồm một phần là thất nghiệp tạm thời và một phần là thất nghiệp cơ cấu Đến lượt mình, một bộ phận của thất nghiệp cơ cấu lại là kết quả của việc không đáp ứng yêu cầu về tay nghề và nghiệp
vụ do tiến bộ kỹ thuật đòi hỏi Ở đây không nói đến khía cạnh thay đổi công nghệ làm giảm nhu cầu lao động mà đề cập đến yêu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng hoặc phải thay đổi một số nghề và nghiệp vụ Hay là, do không có thông tin đầy đủ về thị trường lao động nhiều người tự nguyện thất nghiệp không đi tìm việc làm, họ mong đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế ("ảo") trong tương lai, và sự kém hiểu biết đã lấy di những cơ hội việc làm của họ
Nhiều tranh luận cũng xảy ra với trường hợp thất nghiệp mùa vụ Do thất nghiệp mùa vụ liên quan đến tính chất thời vụ và thời gian kéo dài của nó nên cũng được coi là một phầncủa thất nghiệp cơ cấu Ngoài ra, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp chỉ ra rằng thất nghiệp mùa vụ thường thấy dưới hình thức trá hình Thất nghiệp trá hình xảy ra khi giảm nhu cầu về lao động không tương ứng với giảm số nơi làm việc Thất nghiệp trá hình cũng có thể xảy ra khi tuyển quá số lao động nhưng không đạt yêu cầu về tay nghề và khituyển những người không phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ
Để đỡ phức tạp và có cách hiểu đồng nhất, thuận lợi cho việc xác định nguyên nhân và đềxuất những công cụ, giải pháp thích hợp, chúng tôi đề xuất chia các loại hình thất nghiệp
đã nêu thành 3 nhóm : thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu
Thất nghiệp tạm thời là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không có đầy đủ thông
tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập khôngthực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế
Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do không phù
hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc) Sự không phù hợp có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng lao động
Trang 8Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà GDP tăng trưởngcao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm tổng
cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm
Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế ở nước ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước và dôi dư lao động
2 Những nguyên nhân gắn với các loại hình thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để đảm bảo an sinh
xã hội hoặc tạo điều kiện tăng độ linh hoạt mềm dẻo của thị trường lao động-nhằm mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm bề vững và có hiệu quả - phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng những nguyên nhân gây ra từng loại hình thất nghiệp và lựa chọn những công cụ, giải pháp phù hợp
Trên cơ sở những nghiên cứu về thất nghiệp và tổng hợp ý kiến của nhiều nhà kinh tế trênthế giới (1), (2), (3), (4) có thể phân loại những nguyên nhân thất nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến từng loại hình thất nghiệp theo bảng 1
Trang 9Bảng 1 Nguyên nhân gắn với các loại hình thất nghiệp
Nguyên nhân thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời
Thất nghiệp
cơ cấu
Thất nghiệp nhu cầu
* Không có thông tin về tình hình trên thị trường
lao động
+++
* Do sự di chuyển của người lao động +++
* Tham gia thị trường lao động lần đầu +++ ++
* Tham gia lại thị trường lao động của những
người trước đây tự nguyện thất nghiệp
* Mất đất nông nghiệp do làm KCN, KCX ++ ++
* Trình độ đào tạo không phù hợp với yêu cầu
* Chính sách tiền lương tối thiểu của Chính phủ +++ +++
* Cơ chế sử dụng lao động trong khu vực nhà
nước
Trang 10(+ : ảnh hưởng ít ; ++ : ảnh hưởng vừa; +++ : ảnh hưởng nhiều)
Trong bảng 1 ta thấy một nguyên nhân có thể gây ra nhiều hơn một loại hình thất nghiệp
Ví dụ, suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế gây ra thất nghiệp nhu cầu
nhưng cũng tác động đến một số ngành và lĩnh vực kinh tế gây ra thất nghiệp cơ cấu
Chính sách tiền lương tối thiểu theo hướng cao có thể ảnh hưởng đến việc làm gây ra thất
nghiệp cơ cấu, đặc biệt với những người tham gia thị trường lao động lần đầu và những
người chưa có tay nghề hoặc tay nghề thấp; đồng thời làm giảm nhu cầu lao động của
một số doanh nghiệp Cơ chế cứng trong sử dụng lao động tại DNNN gây ra cả thất
nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu vì chi phí lao động quá cao, năng lực cạnh tranh
của DNNN thấp
3 Những công cụ và giải pháp lựa chọn
Bảng 2 giới thiệu những công cụ, giải pháp được lựa chọn để hạn chế thất nghiệp Đó là
những công cụ cụ thể cho từng loại hình thất nghiệp, chúng góp phần làm giảm và thậm
chí ngăn ngừa từng loại hình thất nghiệp xẩy ra
Bảng 2 Những công cụ, giải pháp được sử dụng để hạn chế thất nghiệp
Nguyên nhân thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời
Thất nghiệp
cơ cấu
Thất nghiệp nhu cầu
1 Những công cụ thuộc chính sách việc làm và
* Phát triển thông tin thị trường lao động ++ +++
* Kéo dài thời gian học nghề và nâng cao trình độ
đào tạo trung bình
Trang 11* Đào tạo và đào tạo lại +++
* Đào tạo và nâng cao năng lực hệ thống quản lý
lao động - việc làm
* Hỗ trợ DN trong việc tạo điều kiện cho người
lao động học tập suốt đời
* Sử dụng Quỹ Giải quyết việc làm hỗ trợ các
DN tuyển dụng lao động là người yếu thế
+++
* Cho vay đối với những lao động phải nghỉ việc
do những nguyên nhân từ phía DN
* Cho những người thất nghiệp, người thiếu việc
làm vay vốn để tự tạo việc làm
* Lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc
* Chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng nông thôn
nghèo