BÀI PHÁT BIỂU KHAI MẠC TOẠ ĐÀM “DI DÂN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ” Trong khi đó, di dân tự do trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
Trang 1VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU QUỐC TẾÕ KANDA
SOUTHERN INSTITUTE OF SUSTAINABLE DEVELOPMENT (SISD) KANDA UNIVERSITY OF INTERNATIONAL STUDIES (KUIS)
CHỦ BIÊN: IWAI MISAKI - BÙI THẾ CƯỜNG
KỶ YẾU TỌA ĐÀM
WORKSHOP PROCEEDINGS
DI DÂN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
HIỆN ĐẠI HĨA, CƠNG NGHIỆP HĨA
POPULATION MOVEMENTS IN THE PERIOD OF MODERNIZATION AND INDUSTRIALIZATION IN VIETNAM
Tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/8/2008
Nhà xuất bản Khoa học xã hội 2010
Trang 2Dẫn nhập - PGS TS Iwai Misaki , Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda
PHIÊN 1: DI DÂN CÓ TỔ CHỨC Ở NÔNG THÔN VÙNG KINH TẾ
MỚI
Chính sách di dân xây dựng các vùng kinh tế mới ở Việt Nam - PGS.TS Đặng
Nguyên Anh, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Chiến lược và hỗ trợ của cộng động nông dân miền Nam trong qua trình
di dân ở vùng Đồng Tháp Mười - TS ONO Mikiko, Đại học Nghiên cứu
Quốc tế Kanda
Di dân có tổ chức Bắc-Nam sau Đổi Mới – Chuyến du lịch dài và qúa trình thích nghi vào môi trường mới của những hộ gia đình tỉnh Hải Hưng -
PGS TS IWAI Misaki, Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda
Xây dựng cụm dân cư ở xã kinh tế mới - TS OTA Shoichi, Đại học quốc gia
Tokyo
Phản biện Phiên 1 - Nguyễn Quới, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ
PHIÊN 2 : DI DÂN TỪ NÔNG THÔN ĐẾN ĐÔ THỊ VÀ NƯỚC NGOÀI
Di dân tự do, đô thị hóa và đói nghèo ở Đồng bằng sông Hồng : Nghiên
cứu trường hợp một xóm liều Hà Nội - PGS.TS Nguyễn Văn Chính, Trung
tâm Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 3Lao động nữ di cư từ đồng bằng sông Cửu Long tới TP.HCM - Nghiên cứu
tại phường 9, thị xã Trà Vinh - Nguyễn Thị Hòa, Viện Phát triển bền vững
vùng Nam Bộ
Xuất khẩu lao động và kinh tế nông hộ - Nghiên cứu tại một thôn ở tỉnh
Hải Dương - Ths OKAE Takashi, Viện chính sách nghiên cứu nông lâm thủy
nghiệp Bộ nông lâm thủy nghiệp Nhật Bản
Phản biện Phiên 2 - NCVCC Nguyễn Quang Vinh, Viện Phát triển bền vững vùng
Nam Bộ
PHIÊN 3: DI DÂN CON LẮC
Kiểu lao động sáng đi tối về - Ly nông nhưng không ly hương khu công
nghiệp và nông thôn - GS.TS SAKURAI Yumio, Đại học quốc gia Tokyo
Biến đổi cơ cấu nguồn nhân lực và khu cộng nghiệp - Ths NIIMI Tatsuya, Đại
học Chu-oh
Tình hình lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai thời kỳ hội
nhập - Th.S SHIBUYA Yuki, Đại học quốc gia Tokyo
Phản biện Phiên 3 - PGS.TS Phạm Văn Bích, Viện Xã hội học
Phát biểu bế mạc - TS Võ Công Nguyện, Viện Phát triển bền vững vùng Nam
Bộ
Danh sách khách tham dự
Trang 4Workshop Proceedings:
“POPULATION MOVEMENTS IN THE PERIOD OF MODERNIZATION AND INDUSTRIALIZATION IN VIETNAM”
CONTENTS
Preface - Bui The Cuong, Director, SISD
Opening speech - Vo Cong Nguyen, Deputy Director, SISD
Introduction - Iwai Misaki, Kanda University of Foreign Studies
SECTION 1: ORGANIZED MIGRATION FROM RURAL TO
NEW-ECONOMIC ZONES
Policy on organized-migration to new-economic zones in Vietnam - Dang Nguyen Anh,
Vietnamese Academy of Social Sciences
Strategies and supports of Southern farmers’ community for migration in Dong
Thap Muoi - ONO Mikiko, Kanda University of Foreign Studies
Organized North - South Migration after Doi Moi – A long journey and adaptation
to a new environment among households from Hai Hung Province”- Iwai Misaki ,
Kanda University of Foreign Studies
Building of Residence Areas in a new economic commune - OTA Shoichi, Tokyo
National University
Comments - Nguyen Quoi, Southern Institute of Sustainable Development
SESSION 2: MIGRATION FROM RURAL TO URBAN AND OVERSEAS
Spontaneous migration, Urbanization and Poverty in Red River Delta: Case Study
of a reckless hamlet in Hanoi - Nguyen Van Chinh, Center for Asian – Pacific Studies,
Hanoi National University
Female migrant laborers from Mekong Delta to Ho Chi Minh City: Case Study in
Ward 9, Tra Vinh Town - Nguyen Thi Hoa, Southern Institute of Sustainable
Development
Labor export and Farmer Household Economy - Case Study in a village in Hai
Duong Province – OKAE Takashi, Institute of Agriculture – Forestry – Aquaculture
Policy, Ministry of Agriculture, Forestry and Aquaculture
Trang 5Comments - Nguyen Quang Vinh, Southern Institute of Sustainable Development
SESSION 3: PENDULUM MIGRATION
Morning Leaving - Evening Coming Back: Labor Movement between industrial
zones and rural areas - SAKURAI Yumio, Tokyo National University
Changes in Human Resource Structure and Industrial Zones - NIIMI Tatsuya,
Chu-oh University
Labor situation in Dong Nai industrial zones in integration - SHIBUYA Yuki, Tokyo
National University
Comments - Pham Van Bich, Institute of Sociology, VASS
Closing Remarks - Vo Cong Nguyen, Deputy Director, SISD
List of participants
Trang 6DI DÂN Ở VIỆT NAM: VẬN MỆNH MỘT DÂN TỘC VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI DƯỚI “LĂNG KÍNH KHOA HỌC” VỀ DI DÂN
đa chiều của sự vận động di dân ở Việt Nam thời hiện đại Qua đây bạn đọc hình dung được phần nào cả ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô: cả vận mệnh và sự vận động lịch sử của một dân tộc, một quốc gia; nhưng bạn cũng thấy cả những thân phận, những nỗ lực của những con người, thấy sự đổi thay trong cuộc đời di dân của
họ
Như bạn đọc sẽ thấy, cuốn sách này bao gồm một loạt bài nghiên cứu rất xuất sắc của các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam, xét về mặt tầm nhìn và phương pháp nghiên cứu
Bạn sẽ được đọc những phân tích tổng quan súc tích về lịch sử di dân thời hiện đại ở Việt Nam (tham luận của Đặng Nguyên Anh); nắm bắt được chính sách và hiện trạng di dân qua các thời kỳ, những thành tựu và hạn chế của công tác hoạch định và thực hiện chính sách di dân Bạn cũng sẽ thưởng thức những trường đoạn phân tích đầy ấn tượng không khác gì những thiên phóng sự sắc sảo của các nhà văn hoặc nhà báo Âu-Mỹ và Việt Nam trong thời xã hội chuyển mình sang hiện đại hóa ở Âu-Mỹ thế kỷ XIX, ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (bài viết của Nguyễn Văn Chính)
(*) Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ
Trang 7
Các học giả Nhật Bản đem đến Tọa đàm một loạt bài tham luận rất độc đáo về ý tưởng và phương pháp nghiên cứu Nhiều tác giả áp dụng phương pháp phân tích kết nối giữa các cấp độ vĩ mô (chính sách của trung ương), với trung
mô (tổ chức thực hiện ở địa phương) và vi mô (ứng xử, đáp ứng của hộ gia đình
và cộng đồng); kết nối giữa các cấu trúc chính trị-hành chính chính thức (Nhà nước, chương trình, kế hoạch), với thị trường (ngân hàng, trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể) và các mạng lưới phi chính thức (họ hàng, cộng đồng); kết nối giữa tiếp cận kinh tế với văn hóa-xã hội Những cấp độ và tiếp cận này được đặt vào thế tương tác với nhau, hỗ trợ nhau, nhưng cũng tương phản và thích ứng với nhau Kết quả là ta được đặt vào trong một bức tranh đa chiều, đa góc độ về di dân, nhiều đường nét và màu sắc mới mẻ ngay cả với bạn đọc Việt Nam chúng
ta vốn là người trong cuộc
Đặt những bài viết của các đồng nghiệp Nhật Bản trong Tọa đàm vào một tổng thể, dường như ta cảm nhận có một bản sắc chung của các nhà Việt Nam học người Nhật Bản Họ nắm vững nhuần nhuyễn phương pháp nghiên cứu hiện đại, nhưng sử dụng chúng bằng một tâm hồn người châu Á, bởi vậy mà ta thấy phân tích của họ có một cái gì đó sâu sắc, vừa khách quan lại vừa của người trong cuộc
Cần nói thêm rằng các đồng nghiệp Nhật Bản đã trực tiếp viết tham luận bằng tiếng Việt Ban biên tập chỉ sửa chữa rất ít, cố gắng giữ nguyên bản thảo, cho dù một đôi chỗ từ góc độ người Việt có thể ta sẽ viết khác Chúng tôi muốn giữ nguyên phong cách tiếng Việt của các bạn Nhật Bản Bạn đọc sẽ thấy các nhà Việt Nam học người Nhật rất giỏi tiếng Việt và sử dụng theo một kiểu cách rất đáng yêu
Đây là một cuốn sách bổ ích cho các nhà nghiên cứu và làm chính sách về
di dân, cho các nhà Việt Nam học Nó cũng là một tài liệu tham khảo tốt cho giảng viên và sinh viên khi làm việc về chủ đề di dân Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Trang 8BÀI PHÁT BIỂU KHAI MẠC TOẠ ĐÀM “DI DÂN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ”
Trong khi đó, di dân tự do trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 đến nay chủ yếu là di dân nông thôn – đô thi, có quy mô lao động tập trung cao ở các khu công nghiệp, khu chế xuất… tại các vùng kinh tế trọng điểm và các đô thị lớn Riêng ở tỉnh Bình Dương hiện nay có trên 500.000 công nhân đang làm việc trong các khu công nghiệp, trong số đó đã có trên 70% là lao động nhập cư
(*)
Tiến sĩ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ
Trang 9Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hướng di dân xuyên biên giới thông qua xuất khẩu lao động, thông qua quan hệ hôn nhân với người nước ngoài…
Có thể nói, di dân ở Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động tích cực đối với việc phân bố lại dân cư và lao động ở cả
đô thị, nông thôn, miền núi, ven biển và hải đảo trên phạm vi cả nước, trong từng vùng và tại mỗi địa phương Nhìn chung, di dân đã góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo theo các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia, địa phương
Tuy nhiên, di dân, nhất là di dân tự do ở Việt Nam đã làm thay đổi cấu trúc không gian vật thể và không gian xã hội ở cả nơi xuất cư và nơi nhập cư, gây nên áp lực lớn về dân số, những hệ quả xã hội và những vấn đề nẩy sinh trong quản lý hành chính – lãnh thổ, quản lý đô thị, quản lý lao động…cần được quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô nhằm làm sáng tỏ hơn nữa quy luật di dân chung nhất và các mô thức di dân đặc thù
Toạ đàm “Di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá”
do Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ (SISD) hợp tác với Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda (KUIS) đồng tổ chức hôm nay là dịp để các nhà nghiên cứu Việt Nam và Nhật Bản cùng nhau tham gia thảo luận, trao đổi học thuật và chia
sẻ thông tin những nghiên cứu về di dân ở Việt Nam trong thời gian trước và sau năm 1975, đặc biệt là di dân trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 đến nay
Các tham luận, những ý kiến thảo luận, trao đổi học thuật và chia sẻ thông tin của Quý vị về di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá
sẽ góp phần quyết định đến sự thành công của toạ đàm này
Hy vọng từ toạ đàm này sẽ mở ra triển vọng hợp tác cho những nghiên cứu tiếp theo về di dân ở Việt Nam, đặc biệt là di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá
Trang 10Thay mặt Lãnh đạo Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ, tôi xin chân thành cảm ơn TS SAKURAI Yumio, Giáo sư danh dự của Đại học Quốc gia Tokyo và TS IWAI Misaki, Phó giáo sư của Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda đã có ý tưởng cùng hợp tác với Viện chúng tôi đồng tổ chức toạ đàm “Di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá”; xin chân thành cảm ơn và chúc sức khoẻ tất cả các nhà nghiên cứu Nhật bản và Việt Nam tham
dự toạ đàm
Tôi xin tuyên bố khai mạc toạ đàm “Di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá”
Kinh chúc toạ đàm thành công tốt đẹp
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 11DI DÂN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI HÓA, CÔNG NGHIỆP HÓA
IWAI Misaki (*)
Chúng tôi rất cảm ơn Viện phát triển bền vững vùng Nam bộ hợp tác cùng tổ
chức tọa đàm về chủ đề “Di dân ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa, công
nghiệp hóa” vào ngày 22 tháng 8 năm 2008
Tọa đàm này hướng tới hai mục tiêu chính Mục tiêu thứ nhất là nhằm công bố
kết quả nghiên cứu của chương trình “Di dân ở nông thôn đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long” được tiến hành từ năm 2003 đến năm 2006 với
sự tài trợ của Bộ Giáo dục Nhật Bản Nhân dịp này chúng tôi kết hợp với đoàn của GS Sakurai đang triển khai nghiên cứu các khu công nghiệp để tỉm hiểu thêm thực trạng đa dạng của “di dân” ở Việt Nam Mục tiêu thứ hai là nhằm đóng góp phần nào đó vào công trình nghiên cứu khoa học bằng việc cung cấp những thông tin và kiến thức mới đã được đưa ra qua cuộc điểu tra này để tìm ra một biện pháp đáp ứng nhu cầu của xã hội Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa,công nghiệp hóa Vì vậy, chúng tôi mời các nhà khoa học Việt Nam chuyên nghiên cứu vấn đề di dân cùng tham dự Tọa đàm này để các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam có thể trao đổi ý kiến một cách sôi nổi
Nội dung của các bài tham luận về vấn đề di dân tập trung vào 3 chủ đề nhỏ: 1)
Di dân có tổ chức ở nông thôn, 2) Di dân từ nông thôn đến đô thị và nước ngoài,
3) Di dân con lắc Để lý giải rõ ràng về thực trạng “di dân (population
movement)”, ở đây chúng ta phân biệt “di cư hẳn (permanent migration)” và
“di cư tuần hoàn (circular migration)” Nói chung, “Di cư” có hai nghĩa rằng
1) di cư tạm thời và 2) di cư hẳn (permanent migration) và ở đây chúng ta coi
“di cư (migration)” là “di cư hẳn” mà di chuyển đến nơi khác, mất nhiều thời gian và công sức để cố gắng thích nghi vào nơi đến và không có ý định quay về nơi đi “Di cư tuần hoàn” gồm những hình thức tùy theo thời gian và nơi đến
(*)
Phó giáo sư, Tiến sĩ, Đại học Ngoại ngữ Kanda, Nhật Bản
Trang 12Điểm quan trọng là di cư tuần hoàn gồm hành động quay về nơi đi như, “di cư theo thời vụ, theo mùa (seasonal migration)”, “di chuyển thường xuyên (commuting)” và “di chuyển con lắc (oscilation)” tức là đi đi lại lại giữa nơi đi (quê cũ) và nơi đến (đô thị, nhà máy và đất khai hoang v.v ) Nói chung, hình thức “di cư tuần hoàn” là loại hình phổ biến nhất ở các nước đang phát triển Xu hướng di dân là một trong những biến động đáng chú ý của xã hội nông thôn ở Việt Nam Tôi cho rằng việc tìm hiểu một trong những đặc trưng tiêu biểu của biến động xã hội nông thôn ở Việt Nam là không thể thiếu nhằm thực hiện chính sách xã hội – kinh tế có hiệu quả
Tất cả khoảng 25 quý khách đã được mời tham dự, trong đó có cả cán bộ địa phương các cấp: tỉnh Long An, huyện Vĩnh Hưng và xã Khánh Hưng Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các quý vị đại biểu địa phương cùng chia sẻ thời gian hôm nay và đóng góp ý kiến để tọa đàm của chúng ta thành công tốt đẹp
Trang 13CHÍNH SÁCH DI DÂN ĐI XÂY DỰNG VÙNG KINH TẾ MỚI Ở VIỆT NAM
Đặng Nguyên Anh (*)
Di dân là một quy luật khách quan phản ánh đòi hỏi phát triển của mọi quốc gia Di dân góp phần phân bố lại dân cư, đồng thời thúc đẩy thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội giữa các vùng miền trong cả nước (Đặng Nguyên Anh, 1999) Di dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở Việt Nam góp phần phân bố
và sử dụng hợp lý các nguồn lực sức lao động và tài nguyên nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo Di dân kinh tế mới còn là một trong nhiều chủ trương lớn nhằm phát triển kinh tế-xã hội gắn với mục tiêu bảo vệ an ninh và quốc phòng
Di dân ở Việt Nam diễn ra từ lâu trong lịch sử, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước Ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp và miền Bắc được giải phóng (1954), nghị quyết Trung ương V (tháng 7/1961) về phát triển nông nghiệp nhằm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965 đã chủ trương đưa đồng bào miền xuôi lên khai hoang miền núi Cũng trong năm
1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào miền xuôi đi xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá miền núi Đây được coi là sự mở đầu lịch sử cho công cuộc di dân khai hoang và xây dựng các vùng kinh tế mới ở Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Kể từ đó đến nay, phân bố dân cư và lao động luôn được khẳng định trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam cũng như trong quyết sách lớn của Chính phủ
I Di dân kinh tế mới ở Việt Nam
Trải qua các thời kỳ khác nhau, công tác di dân tuy có những thay đổi về
tổ chức, cơ chế chính sách, địa bàn và đối tượng thực hiện song kết quả thu được
(*)
Phó giáo sư, Tiến sĩ, Ban Hợp tác Quốc tế, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 14đã đóng góp rất lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Nhìn lại
sự phát triển của chương trình, có thể chia quá trình di dân kinh tế mới thành bốn giai đoạn sau đây:
ở miền núi trong giai đoạn này nhằm mục đích mở rộng diện tích canh tác, tăng sản lượng lương thực để giải quyết đời sống nhân dân và phục vụ tiền tuyến Trong thời kỳ này, hướng di dân chủ yếu từ khu vực đồng bằng sông Hồng lên các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, ) Chính sách di dân trong thời kỳ này chủ yếu là vận động quần chúng kết hợp với hình thức tổ chức hợp tác xã để vận động đồng bào miền xuôi lên khai hoang miền núi
Kết quả trong 15 năm thực hiện, đã đưa được 1.050.000 người và thành lập được hàng trăm hợp tác xã, nhiều nông-lâm trường quốc doanh mới Diện tích khai hoang đưa vào sản xuất đạt khoảng 500.000 ha trong thời kỳ này Tuy nhiên, do công tác tổ chức chuẩn bị cho đời sống chưa tốt, số người đi kinh tế mới bỏ về quê cũ khoảng 12% (Đỗ Văn Hoà, 1999), cho thấy những hạn chế nhất định của chính sách di dân trong thời kỳ này
Giai đoạn 1976 - 1985
Đây là thời kỳ đất nước thống nhất, song Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn
do cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc trong điều kiện các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm cách chống phá chính quyền cách mạng sau giải phóng miền Nam Sản xuất nông nghiệp chậm phát triển, lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, một số tỉnh miền Bắc đứng
Trang 15trước nguy cơ đói kém mỗi khi mất mùa Trong khi đó ở miền Nam, diện tích đất hoang hoá chưa sử dụng còn nhiều, tiềm năng sản xuất lúa khá lớn nên đòi hỏi việc điều động lao động, phân bổ lại dân cư nhằm đẩy nhanh tốc độ khai hoang tăng cường diện tích nông nghiệp và sản lượng lương thực Công tác di dân ở thời kỳ này được hết sức chú trọng và tiến hành với quy mô lớn trên phạm
vi cả nước Các luồng di dân kinh tế mới tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ Trong thời kỳ này, một số thành phố trực thuộc Trung ương như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chính sách hạn chế đô thị hoá, hạn chế tập trung dân số đô thị đã điều chuyển một bộ phận dân cư vào các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ định cư, lập nghiệp theo chương trình di dân kinh tế mới
Nhà nước đã thành lập Tổng cục Khai hoang để giúp Hội đồng Chính phủ trong công tác tổ chức quản lý và chỉ đạo thực hiện di dân kinh tế mới Đến giữa năm 1981, Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo phân bổ lao động và dân cư Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ (theo Quyết định số 226-CP ngày 01/06/1981) Đồng thời Chính phủ cũng giao nhiệm vụ tổ chức điều động lao động dân cư trên địa bàn cả nước cho Bộ Lao động (Quyết định số 217/CP ngày 29/5/1981) Kể từ đó hệ thống cơ quan tổ chức điều động lao động dân cư đã được hình thành từ trung ương xuống địa phương Nhằm thúc đẩy di dân xây dựng các vùng kinh tế mới, trong thời kỳ này đã có ba quyết sách lớn được ban hành là: Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 95-CP ngày 27/3/1980 về chính sách xây dựng vùng kinh tế mới; Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 254-
CP, ngày 16/6/1981 về khuyến khích khai hoang phục hoá; Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ số 82-CP, ngày 12/3/1980 về điều động và tuyển dụng lao động vào làm việc tại nông trường, lâm trường quốc doanh tại các vùng kinh tế mới
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp và quyết liệt của Đảng và Chính phủ, công tác di dân trong giai đoạn này đã đạt được những kết quả to lớn, đã thực hiện điều chuyển được trên 1.365.000 lao động và 2.760.000 khẩu, trong đó di chuyển ngoại tỉnh là 768.770 lao động và 1.387.820 khẩu Trong thời kỳ này, chính sách đưa lao động đến các vùng còn nhiều đất hoang để xây dựng các nông, lâm
Trang 16trường quốc doanh mới hoặc bổ sung lực lượng lao động cho các nông, lâm trường đã có được khuyến khích đẩy mạnh Kết quả cho thấy đã khai hoang đưa vào sản xuất 796.590 ha, trong đó chỉ riêng các khu kinh tế mới phía Nam đạt 606.792 ha (trên 70%) Bên cạnh những hợp tác xã, tập đoàn sản xuất mới còn
có nhiều nông - lâm trường được hình thành thông qua công tác di dân có tổ chức trong thời kỳ này Có thể nói, đây là những năm diễn ra mạnh mẽ các hoạt động di dân xây dựng kinh tế mới trên phạm vi toàn quốc Vùng Kinh tế mới huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) là một ví dụ cho sự khởi đầu của di dân kinh tế mới trong giai đoạn này, từ đó đến nay Lâm Hà đã phát triển thành vùng dân cư trù phú ở Tây Nguyên
Giai đoạn 1986 - 1995
Vào giữa thập niên 80 tình hình đất nước và thế giới có nhiều biến động,
có ảnh hưởng mạnh mẻ đối với nền kinh tế và xã hội Việt Nam Giống như nhiều lĩnh vực công tác khác, công cuộc di dân có kế hoạch nói chung và di dân kinh tế mới nói riêng gặp nhiều khó khăn Các chính sách di dân trong thời kỳ trước đó tỏ ra không phù hợp Hình thức di dân đi xây dựng các nông trường quốc doanh theo Nghị định 82-CP gặp nhiều khó khăn do các nông lâm trường không có khả năng thu hút lao động do cách quản lý cũ, làm ăn không hiệu quả Việc đưa dân đi cũng gặp nhiều hạn chế do thiếu vốn đầu tư, đất sản xuất Trong những năm đầu Đổi mới, đất nước vẫn còn gặp khó khăn về lương thực Thực tế
đó đã đặt ra nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác di dân kinh tế mới là tiếp tục tập trung mở rộng sản xuất lương thực, đổi mới phương thức di dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Trong giai đoạn này công tác di dân được tiến hàng theo kế hoạch và dự
án trong đó chi phí cho công tác tổ chức thực hiện được cấp thẩm quyền phê duyệt Các quyết định, quy định đầu tư tập trung cho các vùng dự án tiếp nhận dân và tập trung trợ cấp cho các hộ gia đình đi kinh tế mới cũng như di dân ra hải đảo Tuy nhiên, một vấn đề mới đặt ra là đất hoang còn lại chủ yếu ở những nơi khó khăn, chất lượng đất xấu, khó tiếp cận do ở vùng sâu, vùng xa nơi còn chưa có các công trình phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh Việc khai thác
Trang 17được những khu vực này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn và đồng bộ Trong điều kiện nền kinh tế những năm đầu Đổi mới còn khó khăn thì đòi hỏi này khó được đáp ứng Mặt khác do chính sách đổi mới trong cơ chế quản lý nông nghiệp, yêu cầu có đất mở rộng sản xuất và giao khoán cho các hộ gia đình ngày càng nhiều hơn trong khi khả năng đầu tư kinh phí có hạn nên di dân kinh tế mới gặp nhiều khó khăn
Kết quả là trong giai đoạn này chỉ di dân được 1.123.000 lao động, 2.254.000 khẩu Trong đó di chuyển ngoại tỉnh là 181.000 lao động, 361.200 khẩu Công tác khai hoang đất sản xuất chỉ đạt được kết quả hạn chế (235.876 ha) Đáng chú ý là cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều dòng di cư tự do với quy mô ngày càng lớn Theo thống kê, từ năm 1991 đến tháng 6/2003 di cư
tự do đã diễn ra với sự tham gia của 294.651 hộ (1.351.445 khẩu), trong đó địa bàn nhập cư chủ yếu là khu vực Tây nguyên chiếm 41% tổng số hộ di cư tự do thời kỳ này (Bộ NN&PTNT, 2003) Trên thực tế công tác di dân theo kế hoạch không đáp ứng được sức ép di dân và nhu cầu đất đai của các hộ gia đình nông thôn nên đã dẫn đến tình trạng di dân tự do gia tăng về quy mô và số lượng
Trước tình trạng di cư tự do diễn ra quá lớn ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
và một số tỉnh khác, phá vỡ quy hoạch và an ninh trật tự, Thủ tướng Chính phủ
đã có chỉ thị 660/TTg ngày 17/10/1995 để giải quyết vấn đề di dân tự do Theo
đó, nhiệm vụ của công tác di dân là phải tổ chức, xắp xếp và di chuyển số dân tự
do đã đến vào những vùng quy định, thậm chí áp dụng một số biện pháp cưỡng chế buộc người di dân tự do quay về quê hương Mặc dù Chính phủ yêu cầu các tỉnh tăng cường quản lý chặt chẽ đối với dân cư và kiên quyết xử lý đối với người di cư đến phá rừng, lấn chiếm đất và buôn bán đất bất hợp pháp, song kết quả thực hiện của chính sách hạn chế di dân tự do này không như mong muốn (Bộ NN&PTN, 2003) Hầu hết người dân tìm cách quay lại nơi định cư hoặc chuyển đến địa bàn sâu hơn, các khu vực ở rừng đầu nguồn để tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng
Giai đoạn 1996 – đến nay
Trang 18Khác với các giai đoạn trước, từ sau năm 1995, công tác di dân xây dựng vùng kinh tế mới được tổ chức thực hiện lồng ghép với các chương trình có mục tiêu của Nhà nước trong đó nhấn mạnh việc sử dụng triệt để đất hoang hoá (ví
dụ như Chương trình 327 nhằm sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước; Chương trình 773 về khai thác sử dụng các vùng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng) Đặc biệt kể
từ năm 1998 đến nay, chương trình di dân có tổ chức gắn với việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn (Hà Quế Lâm, 2002)
Nhận thấy đối tượng di dân chủ yếu là người nghèo với mong muốn có đất sản xuất và việc làm nên trong giai đoạn này việc tạo điều kiện cho người nghèo có đất sản xuất là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo quốc gia Di dân để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp ở vùng đất hoang được đưa vào các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, với sự ưu tiên cho các đối tượng nghèo thiếu đất, đồng bào dân tộc thiểu số Một loại quyết định của Chính phủ nhằm phê duyệt và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo được ban hành qua nhiều năm (như Quyết định 133, 135, 138, 143…) Đáng lưu ý là, các quyết định này đều xác định di dân, khai khẩn các vùng miền hoang hoá là một trong những hợp phần dự án quan trọng của chương trình Song song với chủ trương gắn di dân kinh tế mới với xoá đói giảm nghèo, Chính phủ còn gắn di dân với mục tiêu bảo vệ an ninh quốc phòng ở khu vực đặc biệt khó khăn, vùng biên giới và hải đảo Nội dung chính của chính sách di dân kinh tế mới trong thời kỳ này nhấn mạnh vào việc quy hoạch dân cư ở nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý đời sống sinh hoạt của người dân ở những nơi có điều kiện, tạo điều kiện
Trang 19(như quy định mức hỗ trợ cho việc di chuyển, khai hoang, làm nhà của các hộ dân trở lại vùng biên giới cao hơn so với các vùng khác) Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Quyết định 190/2003/QĐ-TTg về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003-2010 trong đó xác định rõ mục tiêu: “…
Đến năm 2010 bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết nhằm khai thác tiềm năng lao động, đất đai phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp giải quyết việc làm tăng thêm thu nhập, thực hiện xoá đói giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng di cư tự do; đồng thời hình thành các điểm dân cư mới, có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội một cách bền vững cho người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội.” (Đặng Nguyên
Anh, 2006)
Hình thái di dân theo kế hoạch trong giai đoạn này được xác định chủ yếu là di chuyển trong tỉnh, và nội vùng Trong trường hợp thật cần thiết và có tính khả thi cao mới thực hiện di dân ngoại tỉnh theo khoảng cách xa Di dân đến các địa bàn trọng điểm được ưu tiên thực hiện bao gồm:
- Di dân đến các hải đảo, các xã dọc tuyến biên giới,
- Di dân đến các cụm tuyến dân cư vượt lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long,
- Di dân đến các khu kinh tế – quốc phòng,
- Di dân đến các vùng đất hoang, mặt nước vùng tập trung và có quy mô lớn để phát triển sản xuất nông, lâm , thuỷ sản
Với quan điểm di dân không phải chỉ là dãn dân mà nhằm nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác di dân đang tiếp tục đổi mới hoạt động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện mục tiêu nói trên, các dự án di dân kinh tế mới được lồng ghép trong chương trình Xoá đói giảm nghèo do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện Kể từ năm 2004, Cục Định canh định cư và kinh tế mới đã chính thức đổi tên thành
Trang 20Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNN), cùng với sự thay đổi tương ứng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các chi cục ở cấp tỉnh, nhằm hướng công tác di dân cho việc thực hiện xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn
II Thành tựu và hạn chế của di dân kinh tế mới
Mặt được
Nhìn tổng thể và trong một quá trình lâu dài, chính sách di dân kinh tế mới đã đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Chương trình di dân kinh tế mới đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tạo điều kiện cho hộ nghèo có đất sản xuất, việc làm, cải thiện cơ sở hạ tầng miền núi Đặc biệt, mục tiêu giãn dân, giảm sức ép về việc làm, đất đai ở những vùng đất chật, người đông, thực hiện khai hoang, phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng nhập cư, đặc biệt là ở những vùng chuyên canh công nghiệp, góp phần ổn định chính trị, tăng cường củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia Thông qua chương trình
di dân có tổ chức, nguồn lao động được phân bổ hợp lý hơn, các vùng đất có tiềm năng kinh tế được khai thác và phát huy tác dụng
Chính sách di dân kinh tế mới đã quán triệt, cụ thể hoá và từng bước đưa vào cuộc sống chủ trương đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chính sách di dân nói riêng, phù hợp với mục tiêu phát triển của từng thời kỳ, nên đã mang lại những kết quả đáng khích lệ Tính đến cuối những năm
90, đã phân bổ lại dân cư trên 6,5 triệu người từ các vùng đồng bằng đất chật người đông lên các vùng đất đai chưa được khai thác, đưa vào sản xuất nông nghiệp gần 1 triệu ha, góp phần giải quyết việc làm Di dân kinh tế mới đã tạo việc làm cho một số lượng đông đảo các dân tộc thiểu số Đã định canh định cư hơn 1 triệu đồng bào dân tộc sống du canh, du cư và ổn định nơi cư trú cho hàng chục vạn dân ở các vùng biên giới, kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, bảo vệ và khoanh nuôi hành triệu ha rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, giảm xói
Trang 21mòn đất đai và góp phần quan trọng bảo vệ môi trường (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Có thể nói thành tích nổi bật của sự nghiệp di dân kinh tế mới là sự nghiệp khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông, lâm, ngư Theo số liệu thống kê của Cục Định canh định cư và Vùng kinh tế mới (Bộ NN&PTNT), kết quả mở rộng diện tích sản xuất trong những năm có tốc độ khai hoang nhanh nhất (1976-1990) là 1.036.000 ha, bình quân mỗi năm đạt 69.000 ha đất được khai hoang Kết quả này thực sự đã góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị sản lượng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là giải quyết vấn đề lương thực và xuất khẩu nông sản hàng hoá của đất nước Tại nhiều vùng khó khăn trước đây như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên v.v… nhờ có tác động của di dân
và đầu tư của Nhà nước đã hình thành những vùng chuyên canh sản xuất lương thực có sản lượng hàng hoá cao Việc mở rộng diện tích ở những vùng còn nhiều đất hoang đã tạo đà cho sự hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá tập trung với quy mô lớn Ví dụ như tại vùng lúa ở Đồng Tháp Mười (thuộc 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang) thì chỉ riêng tỉnh Long An đã có trên 102.000 ha trong chương trình kinh tế mới được khai thác đưa vào trồng lúa Vùng nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực ven biển được hình thành, tập trung nhiều nhất tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực (như cà phê, cao su, hạ điều, hồ tiêu, dâu tằm,…) ở Đông Nam bộ là kết quả của những
mô hình làm ăn có hiệu quả ở các vùng dự án kinh tế mới, nhất là mô hình trang trại gia đình trên cơ sở thâm canh nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển ngành nghề
Có thể nói chính sách di dân kinh tế mới đã mang lại những lợi ích không những đối với người di dân, mà còn cả với đồng bào sở tại thông qua việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, chợ, nước sạch,… Nhiều
dự án đầu tư xây dựng các vùng kinh tế mới được qui hoạch và xây dựng tương đối đồng bộ đã trở thành hạt nhân của các khu dân cư tập trung và đơn vị hành chính mới được hình thành trên những địa bàn mà trước đó hầu như không có dân hoặc dân cư thưa thớt Như vậy, quá trình di dân kinh tế mới đã góp phần
Trang 22hình thành nên nhiều đơn vị hành chính mới Ngay cả các xã thuộc đồng bằng sông Hồng cũng được hình thành do khai hoang lấn biển và đến nay đã có nhiều đơn vị hành chính mới (như xã Nam Cường của Tiền Hải - Thái Bình; các xã Giao Hưng, Bạch Long của Giao Thuỷ - Nam Định; xã Kim Hải tại Kim Sơn - Ninh Bình v.v… Ở các đảo cũng có đơn vị hành chính mới như huyện đảo Cô
Tô của Quảng Ninh; huyện đảo Bạch Long Vĩ của Hải Phòng; xã đảo Thổ Chu của Kiên Giang; xã đảo Lý Sơn ở Quảng Ngãi) Việc hình thành các đơn vị hành chính mới lại có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế của điạ phương và thu hút dân đến để hình thành nên các thị tứ, thị trấn, thị xã Việc phát triển các trung tâm dân cư và đơn vị hành chính mới đã cho thấy ý nghĩa, vai trò của công tác di dân kinh tế mới trong sự nghiệp phát triển của nhiều địa phương cũng như toàn quốc
Mặt chưa được
Bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ, chính sách di dân kinh tế mới cũng bộc lộ một số hạn chế, thể hiện qua các kế hoạch thiếu tính thực tế, duy ý chí, chưa tôn trọng quy luật khách quan và tính tự nguyện trong quyết định di chuyển Quyền tự do đi lại và cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được thừa nhận trong Hiến pháp Tuy nhiên trong quá trình thực hiện người
di dân không ít gặp khó khăn trong việc định cư ở nơi mới như đăng ký nhập hộ khẩu, tiếp cận với các dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục, quyền sử dụng đất, tín dụng, vay vốn, ) Người di dân chịu nhiều chi phí phải trả thêm cho các dịch vụ trên khi định cư ở nơi mới Kết quả nghiên cứu ở nhiều địa phương cho thấy vẫn
có sự phân biệt nhất định giữa người di cư và không di cư trong các chương trình kinh tế mới khi thực hiện các chính sách xã hội, ổn định đời sống (Uỷ ban
về Các vấn đề xã hội Quốc hội, 1998; Population Council, 1999; Đặng Nguyên Anh, 2006)
Chính sách di dân hiện nay chưa có sự thống nhất về nhận thức giữa trung ương và địa phương Quy hoạch vùng lãnh thổ bị tách rời với quy hoạch ngành với sự tham gia trùng chéo giữa các bộ ngành ở Trung ương cũng như giữa các
sở ban ngành địa phương Nhìn chung đến nay chưa có được một chương trình
Trang 23toàn diện từ quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách đến phối hợp các cấp các ngành trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình di dân Các địa phương nhận dân do cho rằng người di cư đến như một gánh nặng đối với địa phương do những vấn đề tạo lên sứ ép hạ tầng cơ sở, vấn đề đất đai, trật tự xã hội vì vậy không muốn nhận thêm dân Chính sách trung ương chưa quan tâm đến lợi ích của địa phương nhận dân, chưa có sự hỗ trợ kinh phí cho địa bàn có đông người
di cư nên chưa khuyến khích được địa phương còn đất hoang nhận dân từ nơi khác đến Đây là những yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận đất hoang hoá và
có đất sản xuất đối với người di cư, đặc biệt là các hộ di cư nghèo, tại các vùng đất mới
Nhiều địa phương chỉ trông mong có đầu tư của Nhà nước nên đã lập nhiều dự án có nội dung đón dân để đưa vào kế hoạch hàng năm, nhưng đến khi
có đầu tư và đủ điều kiện thì lại xin dãn dân tại chỗ chứ không đón dân của tỉnh khác như dự án được duyệt Một số địa phương có đủ điều kiện nhận dân nhưng không muốn tiếp nhận nên đã đưa ra các điều kiện đối với địa phương nơi đưa dân về đóng góp xây dựng các công trình xây dựng cơ bản nhằm cố tình trì hoãn việc đón nhận dân theo kế hoạch Thậm chí có tỉnh "đóng cửa" không chịu nhận dân trong một số năm với lý do chưa có đất cho tái định cư (trên thực tế là muốn giữ đất để mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài) Nhiều nơi chỉ sử dụng vốn của
dự án di dân vào việc xây dựng hạ tầng giao thông, thuỷ lợi mà chưa chú ý đến các công trình phúc lợi dân sinh để tiếp nhận dân như trường học, trạm y tế, nước sạch, nhà văn hoá, Các công trình đã xây dựng không phát huy hiệu quả, kém chất lượng, thậm chí có nơi khi đón nhận dân vào thì các công trình đó đã xuống cấp hoặc hư hỏng nặng, gây lãng phí lớn cho xã hội
Trải qua nhiều giai đoạn, chính sách di dân kinh tế mới chưa phù hợp với yêu cầu của tình hình phát triển mới, vẫn còn mang nặng tính bao cấp trong triển khai thực hiện Hậu quả của nó một mặt làm cho người dân ỷ lại, trông chờ vào nhà nước, thiếu chủ động, sáng tạo để vươn lên; mặt khác không khuyến khích, thu hút được các nguồn vốn đầu tư cho chương trình này (cả trong nước và quốc tế) Chính sách hiện nay chưa tạo ra sức hút của các vùng kinh tế mới đối với
Trang 24người dân và các nhà đầu tư trong và ngoài nước Việc cung ứng dịch vụ sản xuất như cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư của nhà nước và cả tư nhân cũng còn ở mức rất thấp Nhiều nơi dịch vụ này thả nổi, người dân bị tư thương ép giá để kiếm lời Do không được định hướng thị trường, sản phẩm làm ra có lúc giá quá thấp không bù đắp nổi chi phí sản xuất của người dân đã bỏ ra Nhiều trường hợp người dân bị mất mùa do không có thuốc bảo vệ thực vật kịp thời, gia súc bị bệnh dịch không được hướng dẫn và cứu chữa kịp thời hoặc có nhưng giá quá cao người dân không đủ khả năng thanh toán Vì vậy thu nhập của người nông dân trở nên bấp bênh, đời sống vẫn khó khăn, thôi thúc động lực xuất cư của người dân (Nguyễn
Bá Thuỷ, 2001)
Chính sách giải quyết dân di cư tự do chưa xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn, thậm chí nhìn nhận di dân tự do là hiện tượng tiêu cực Thực tế, di dân
tự do luôn luôn tồn tại và song hành với di dân kinh tế mới Trong những năm
90 thực hiện chỉ thị 660/TTg của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết tình trạng
di cư tự do có biện pháp ngăn chặn di cư tự do bằng biện pháp đưa trở lại nơi xuất cư không thành công và không có tính khả thi Biện pháp này đã gây tốn kém của các tỉnh xuất cư mà không mang lại kết quả mong muốn Chính sách và các giải pháp cho vấn đề di dân tự do vẫn mang tính tình thế, nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế bằng các quyết định hành chính, vì vậy hiệu quả không cao và thiếu tính bền vững Các chính sách này chưa dựa trên việc xem xét động lực di
cư của người dân vốn nhằm thay đổi vị thế kinh tế - xã hội trước những cơ hội cuộc sống
Động lực của di cư tự do tuân theo quy luật chung của di cư, đó là do nơi xuất cư đời sống đồng bào còn khó khăn, thiếu đất canh tác, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất, cơ sở hạ tầng yếu kém Chính sách di dân kinh tế mới cần góp phần làm giảm “lực đẩy” nơi xuất cư của người dân, thông qua việc hỗ trợ nguồn lực tự nhiên (đất, nước) và dịch vụ cơ bản (y tế, giáo dục, việc làm), chuyển đổi cơ cấu sản xuất Đồng thời, quan tâm giải quyết những vấn đề nơi nhập cư theo hướng thu xếp cho đồng bào sớm ổn định đời sống, nhập hộ khẩu,
Trang 25giao đất để sản xuất để cho người dân nhanh chóng ổn định đời sống; được chữa bệnh và con cái được đến trường Đồng thời chính quyền địa phương cần tăng cường quản lý tốt đất rừng và rừng phòng hộ, nắm chắc số lượng hộ di dân tự do theo các thành phần dân tộc và mức sống làm cơ sở cho việc lập kế hoạch để ổn định đời sống dân cư Tuỳ theo tập quán sinh hoạt, canh tác của từng dân tộc mà
tổ chức xen ghép người di cư tự do theo từng thôn bản đã có hoặc các dự án kinh tế mới và dự án tái định cư khác, thực hiện tốt chính sách xã hội nhằm ổn định đời sống dân cư
III Một số kết luận đề xuất
Di dân nói chung và di dân kinh tế mới nói riêng có nội dung kinh tế-chính trị và xã hội phức tạp Để giải quyết tốt công tác này, cần xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, đồng bộ bao gồm hệ thống chính sách trực tiếp và gián tiếp Cần cụ thể hoá đường lối và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ghi trong văn
kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam: “… phân bố dân cư hợp lý giữa
các vùng, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư, hạn chế việc mở rộng chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư và các nhóm xã hội khác nhau…” Trên cơ sở đó, cần chú trọng thực hiện những ưu tiên
chính sách sau đây:
1 Nâng cao năng lực xây dựng hệ thống chính sách di dân
Quá trình thực hiện chính sách di dân kinh tế mới đã bộc lộ những hạn chế nhất định do Nhà nước vẫn chưa có một chiến lược quy hoạch tổng thể và hệ thống chính sách đồng bộ ở tầm vĩ mô về di dân, và lồng ghép di dân với chiến lược phát triển Đây là đòi hỏi cấp bách, vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị và xã hội sâu sắc Hiện nay các văn bản pháp quy phục vụ cho di dân xây dựng vùng kinh tế mới đã được Chính phủ ban hành nhưng các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành thực hiện các chính sách của Chính phủ và các quy hoạch tổng thể các của các địa phương thực hiện các các quyết định chưa được xây dựng hoặc chậm phê duyệt Chất lượng các văn bản thiếu đồng bộ dẫn đến việc
Trang 26thực hiện của các địa phương chưa thống nhất khi thực hiện chính sách hỗ trợ giãn dân, di dân sạt lở, di dân ra biên giới và hải đảo, di dân tái định cư hiện đang có những diện ưu tiên khác nhau, thực hiện khác nhau gây thắc mắc trong dân chúng Để có căn cứ thực hiện nhiệm vụ di dân và xây dựng các dự án kinh
tế mới, ổn định dân cư cần nghiên cứu xây dựng hệ thống văn bản pháp quy, bao gồm:
- Chính phủ phê duyệt về quy hoạch tổng thể về bố trí dân cư từ nay đến năm 2020 làm căn cứ xây dựng kế hoạch trung hạn và dài hạn thực hiện nhiệm
vụ quy hoạch bố trí dân cư Quy hoạch này cần gắn với quy hoạch vùng
- Xây dựng kế hoạch cụ thể hàng năm để thực hiện các dự án di dân trên
cơ sở tổng hợp tình hình sử dụng đất đai và phương hưóng sản xuất của các địa phương Để thực hiện nhiệm vụ này các địa phương phải rà soát lại lao động, đất đai và phương hướng bố trí sản xuất của từng vùng
- Về lâu dài, cần ổn định đời sống nhằm giảm bớt động lực di dân bằng việc ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn, tạo sự phát triển đồng đều hơn giữa các vùng và có chính sách phát triển đối với đồng bào các dân tộc thiểu số để họ yên tâm ở lại xây dựng quê hương mới
2 Đổi mới công tác quy hoạch dân cư, và chính sách quản lý sử dụng đất
Để phát triển kinh tế - xã hội, cần thực hiện phân bố hàng triệu lao động
và dân cư giữa các vùng để khai thác tiềm năng phát triển sản xuất hàng hoá, cây công nghiepẹ tập trung cho xuất khẩu, chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng… cùng hàng triệu đồng bào dân tộc cần tiếp tục phải định canh, định cư Nhiều địa bàn biên giới cần phải đưa dân đến để bám trụ lâu dài, giữ vững biên cương, chủ quyền lãnh thổ đất nước Rõ ràng, di dân phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chính phủ cần chỉ đạo các địa phương thực hiện rà soát, điều chỉnh mục tiêu phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ xây dựng quy hoạch sắp xếp dân cư trên địa bàn Cần tránh các quy hoạch treo, dự án treo, tách nhập địa bàn gây nên
Trang 27những xáo trộn và lãng phí không cần thiết trong xã hội Trước mắt cần tập trung điều tra xác định lại quỹ đất, căn cứ vào quỹ đất hiện có và nhu cầu sắp xếp lao động và dân cư của địa phương, xác định các vùng trọng điểm cần đầu
tư để có thể tiếp nhận thêm dân cư Trên cơ sở quy hoạch sẽ xác định được tổng nhu cầu di dân, nhất là di dân ngoại tỉnh và ưu tiên đầu tư cho những vùng trọng điểm còn nhiều đất hoang, có khả năng tiếp nhận nhiều dân cư Các vùng nhỏ, phân tán sẽ giải quyết di dân nội vùng dựa trên cân đối từ ngân sách địa phương
để thực hiện Trong điều kiện hiện nay, thực hiện chủ trương phân cấp mạnh cho địa phương, tổ chức di dân càng đòi hỏi có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân, cộng đồng và các tổ chức đoàn thể
Để phát triển các vùng đưa dân đến, cần thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai đối với nhà đầu tư như miễn, giảm tiền thuê đất, tăng thời gian được giao đất hoặc thuê đất, gắn trách nhiệm của doanh nghiệp giữa hiệu quả đầu tư và bảo
vệ môi trường Trên thực tế, việc triển khai thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá nông thôn ở hầu hết các địa phương không mang tính khả thi cao, hiệu quả thu được thấp Nhiều địa phương làm theo phong trào, mục tiêu tăng trưởng ảo, cấp đất thu hút đầu tư nước ngoài bằng mọi giá để kiếm lời Chính sách quản lý sử dụng đất đai có tác động đến người dân di cư và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư khai thác sử dụng đất trong tình hình đất đai đang trở thành hàng hoá và
là hàng hoá có giá trị cao Cần đổi mới phương thức cấp đất, giao đất và quản lý
sử dụng đất Có chính sách phù hợp các đối tượng sử dụng, tiến tới thực hiện giao quyền sử dụng đất đai trên cơ sở có thu tiền đối với người sử dụng đất để sinh lợi mà tại đó Chính phủ đã đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi
3 Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện các dự án di dân
Hiện nay việc chọn lựa địa bàn đang gặp phải các thách thức do phần lớn các vùng đất tốt và thuận lợi đã đưa vào sử dụng và có chủ bao chiếm Đất hoang còn lại phân tán, diện tích nhỏ lẻ hoặc ở vùng sâu, vùng xa đòi hỏi sự đầu
tư lớn vào cơ sở hạ tầng mới đưa vào khai thác sử dụng được Việc xác định phương hướng sản xuất phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng và khả năng tiêu
Trang 28thụ, chế biến sản phẩm lại gặp nhiều khó khăn do giá nông sản luôn biến động, thấp kém trong khi người dân thiếu vốn đầu tư cho chế biến nông sản
Địa phương nơi có dân đi cần thoả thuận với nơi đến, hợp đồng với nơi đến về thời gian giao và nhận dân để tổ chức cử cán bộ đưa dân đi đến nơi an toàn, thuận tiện Địa phương nơi dân đến chịu trách nhiệm khảo sát, lập dự án xây dựng các vùng kinh tế mới theo quy hoạch chung của tỉnh Khi dân đến, chính quyền chịu trách nhiệm giải quyết các thủ tục cần thiết cho dân như cấp đất, nhập khẩu, chi trả chế độ, tổ chức và hướng dẫn cho dân về những vấn đề liên quan đến sản xuất và đời sống trong những năm đầu Chính sách di dân cần tránh đầu tư manh mún hay dàn trải, chạy theo thành tích hoặc mục tiêu tăng trưởng, để lại hậu quả lâu dài, khó khắc phục
Một vấn đề cần chú trọng là kinh nghiệm và tập quán canh tác giữa địa phương nơi dân đi và địa phương nơi dân đến Nơi đến phần nhiều là vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng và bảo vệ rừng và chăn nuôi đại gia súc
là chủ yếu như ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Trừ vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau là đồng bằng nhưng đất đai bị nhiễm phèn nặng, thường xuyên có lũ, điều kiện thời tiết khí hậu khác nơi xuất cư Do đó nhiều cộng đồng di dân kinh tế mới gặp không ít khó khăn khi phải thay đổi môi trường sống, thay đổi tập quán canh tác của mình Để khắc phục vấn đề này ngoài sự hỗ trợ ban đầu của Nhà nước giúp họ tiến hành sản xuất và ổn định đời sống thì công tác tuyên truyền, vận động người dân đi xây dựng các vùng kinh
tế mới phải làm cho dân hiểu rõ đặc điểm nơi họ sẽ đến Đặc biệt là sự hỗ trợ dịch vụ khuyến nông-lâm-ngư tại vùng định cư để giúp người dân vượt qua được những khó khăn ban đầu, sớm ổn định sản xuất và đời sống ở vùng đất mới Các địa phương nơi đi và đến cần phối hợp với nhau trong việc khắc phục hậu quả, hỗ trợ cho dân khi ở vùng kinh tế mới gặp nhiều khó khăn do thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, mất giá, v.v…
Việc bố trí dân cư ở địa bàn nơi dân đến nên tổ chức theo cụm, theo tuyến gắn với địa bàn nơi dân đi Điều này sẽ tạo điều kiện ban đầu cho họ sinh hoạt cộng đồng Trong các dự án nên khuyến khích thực hiện di dân xen ghép (người
Trang 29dân sở tại sống xen kẽ với dân mới đến) Qua đó tạo điều kiện hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, học tập kinh nghiệm và hỗ trợ nhau để phát triển kinh tế, xây dựng quê hương mới Phương thức di chuyển ồ ạt, di dân với quy mô lớn cần được chuyển sang hình thái di dân xen ghép, di dân quy mô nhỏ không đòi hỏi đầu tư cơ sở hạ tầng lớn Khuyến khích hình thái di dân tự nguyện, người dân và cộng đồng tự đầu tư cho nơi tái định cư theo hướng xã hội hoá công tác
di dân
Đương nhiên, những mâu thuẫn, thậm chí xung đột giữa người dân sử tại
và dân di cư vẫn có thể tiềm ẩn và kéo dài nhiều năm Đây là vấn đề cần quan tâm trong quá trình tổ chức thực hiện công tác di dân kinh tế mới Nếu không làm tốt công tác tư tưởng và giải thích cho đồng bào sở tại thì khi dân đến nhận đất sẽ gây sự bất bình của người dân địa phương, đặc biệt cho rằng người di dân lên chiếm đất của họ Những năm gần đây đã có tình trạng đồng bào dân tộc đòi lại đất đã cấp cho dân kinh tế mới của Thái Bình lên Bắc Cạn, Thái Nguyên, từ
Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình vào Cà Mau và Bạc liêu từ mấy chục năm qua gây không ít khó khăn cho chính quyền và đời sống của người dân ở các vùng kinh tế mới Giải quyết vấn đề này không đơn giản bằng biện pháp hành chính hay những quyết định khô cứng mà phải kết hợp với tuyên truyền, giải thích, vận động, bằng sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương nơi đi và đến, các cấp các ban ngành
Tóm lại di dân xây dựng các vùng kinh tế mới là một trong những nội
dung quan trọng vì mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh" Nâng cao hiệu quả của công tác di dân góp phần quan trọng đối với
việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và giữ vững an ninh quốc phòng
Di dân kinh tế mới là một vấn đề tổng hợp về kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng,… đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành có liên quan trong quá trình tổ chức chỉ đạo và thực hiện Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy di dân có ảnh hưởng lâu dài tới đời sống của
Trang 30người dân ở nơi xuất cư và nơi nhập cư Để thực hiện thành công, mỗi quốc gia cần phải xây dựng một chiến lược riêng và xác định bước đi thích hợp với khả năng của đất nước; đánh giá được các vùng cần tập trung đầu tư; xây dựng hệ thống chính sách phù hợp theo từng thời kỳ và cho từng nhóm đối tượng mà đề
ra giải pháp và phương thức thực hiện hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện chỉ thị
660 của Chính phủ về việc giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác Cục HTX và Phát triển nông thôn, Hà Nội 2003
2 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam NXB Sự thật, Hà Nội 2006
3 Đặng Nguyên Anh, "Di dân trong giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội mới của đất nước" Tạp chí Xã hội học, Viện Xã hội học, Hà Nội 1999
4 Đặng Nguyên Anh Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi NXB Thế giới, Hà Nội 2006
5 Đỗ văn Hoà Chính sách di dân ở châu Á NXB Nông nghiệp, Hà Nội 1999
6 Hà Quế Lâm Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002
7 Nguyễn Bá Thuỷ Di cư tự do của một số dân tộc miền núi vào Đắc Lắc Uỷ ban Dân
số - Kế hoạch hoá gia đình, Hà Nội 2001
8 Population Council Proceedings of the International Seminar on Internal Migration Policies Ministry of Agriculture and Rural Development and UNDP, Hanoi 1998
9 Uỷ ban về Các vấn đề Xã hội của Quốc hội khoá X Kỷ yếu hội nghị Chính sách di
dân tự phát, Hà Nội 1998
Trang 31CHIẾN LƯỢC VÀ HỖ TRỢ CỦA CỘNG ĐỒNG NÔNG DÂN NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH DI DÂN Ở VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
ONO Mikiko (*)
GIỚI THIỆU
Chính sách điều động dân cư nội địa có bốn mục tiêu: (1) Phân bố lại dân cư; (2) Khai thác tài nguyên chưa được sử dụng ở vùng thưa dân cư; (3) Xóa đói giảm nghèo; và (4) Bảo vệ an ninh quốc phòng Mục tiêu thứ ba trong bốn mục tiêu đó là chính sách khuyến khích người dân nghèo di dân, cấp hỗ trợ để nhẹ bớt những khó khăn trong quá trình di cư và cấp đất cho người nghèo an cư lập nghiệp Chính sách này nhằm xóa bỏ sự bấp bênh của người nghèo và giải quyết bất bình đẳng tài sản trong xã hội Và mục tiêu thứ tư là di dân vào các vùng đất hoang hóa, các vùng còn thưa dân cư để góp phần bảo vệ an ninh, củng cố quốc phòng
Chính sách điều dân tiến hành ở các nước Đông Nam Á, như Malaysia, Indonesia, Phillippine ở vùng đảo và Việt Nam ở vùng lục địa, đều nhằm giải quyết vấn đề cấp bách về sức ép dân số từ giữa thế kỷ XX Chính sách điều dân
ở Việt Nam là chính sách lớn nhất về mặt quy mô, ảnh hưởng kinh tế-xã hội trong nước so với các nước kể trên Chính sách điều dân ở Việt Nam tiếp tục từ thời chiến tranh cho đến nay chia ra nhiều đợt mà sự kiện lớn nhất là sau Đổi mới Sau sự giải thể của nông nghiệp tập thể diễn ra vào cuối những năm 80, chính phủ Việt Nam đã tiến hành chính sách điều dân từ đồng bằng đến các vùng dân cư thưa để giải quyết biến động đất đai trong cả nước
Chính sách điều dân ở Việt Nam có hình thức di dân tập thể, khác hình thức cá thể ở các nước Đông Nam Á, vì có phản chiếu chế độ sở hữu và sản xuất tập thể trước Đổi mới Chính sách điều dân sau Đổi mới hủy bỏ chế độ sở hữu
và sản xuất tập thể dẫn đến hình thức kinh doanh cá thể, nhưng còn giữ lại những đặc điểm tập thể trong quá trình tiến hành chính sách di dân ở thời điểm đầu tiên Ví dụ di dân triệu tập từ nhiều nơi và tổ chức lại thành tập thể di cư chung vào vùng khai hoang
Bài viết đề cập đến những vấn đề sau:
- Thứ nhất là, hình thức tập thể trong chính sách điều dân sau Đổi mới có
ảnh hưởng đến quá trình di dân của người dân và cộng đồng mới của di dân ở vùng khai thác
(*)
Tiến sĩ, Đại học Ngoại ngữ Kanda
Trang 32Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mà dân tộc Kinh di cư từ miền Trung, miền Bắc vào khai hoang lập nghiệp Tính chất của làng xã và cộng động nông dân miền Nam so với miền Bắc cho thấy cơ cấu kết nạp dân vào làng xã một cách lỏng lẻo như làng xã ở các nước Đông Nam Á Nói chung, sự thành lập xã hội làng xã có những yếu tố như tổ chức xã hội trong nội bộ nông dân, ranh giới phạm vi làng xã, v.v… Làng xã (truyền thống) ở đồng bằng sông Hồng thường có vài tổ chức xã hội trong nội bộ như tổ chức thủy lời, công điền công thổ, hương ước, tổ chức lễ hội, cổng chính của làng, v.v… cho thấy sự tồn tại cộng đồng dân làng một cách rõ ràng Ngược lại làng xã miền Nam khó thấy những yếu tổ kể trên do môi trường sinh thái và lịch sử ở vùng đồng bằng sông Cửu Long không giống như đồng bằng sông Hồng Đơn vị xã hội chính là gia đình để bảo trợ cá nhân; cộng đồng trong làng có chức năng tương đối hạn chế trong việc giúp đỡ cá nhân; hình thức cộng đồng và các cơ chế trong làng tồn tại
mà ít thu hút các ý thức, tính cố kết của cộng đồng (Shibuya-Owada, 2002; Hickey, 1964)
Thứ hai là, phân tích thành phần chủ yếu trong xã hội ở xã mới thành lập
do người di dân dựa vào những trường hợp thực tế, tức là xem ai rời ra di cư từ quê hương trở thành dân xã mới Mặt khác quan hệ giữa quê cũ và quê mới là như thế nào về mặt hành vi của người di dân Theo học thuyết dân số học lịch
sử, nói chung ở Đông Nam Á, khi dân số trong một làng gây sức ép lên khả năng tự túc lương thực thì một số dân chuyển đi ra tìm kiếm địa điểm thuận lợi sinh sống, tách ra thành một làng mới, tạo ra quan hệ giữa hai làng - làng mẹ và làng phái sinh (Tsubouchi, 1998, tr 78) Bài viết đưa ra trường hợp cụ thể góp phần khảo sát quá trình lịch sử khai hoang ở Đông Nam Á
Nông dân miền Nam là nông dân tự do, đồng thời còn có tính chất dân vô định cư khai hoang mang tính chất cá thể Cái đặc điểm vừa nói có thể bắt đầu
từ trước thời kỳ Pháp thuộc vẫn giữ lại cho đến hiện nay (xem Nguyễn Hiến Lê, 1954; Brocheux P., 1995; Mạc Đường, 1995) Nhưng trong trường hợp cụ thể được đề cập ở đây hành vi di dân cá thể chỉ đóng vai trò nhỏ, mà chủ yếu là hình thức tập thể Bài viết nói về quá trình thành lập làng khai hoang - được gọi là xã kinh tế mới - ở Đồng Tháp Mười, một vùng hoang hóa của đồng bằng sông Cửu Long Qua nghiên cứu trường hợp này có thể phục hiện hình thức di dân truyền thống và đóng góp vào việc khảo sát lại cơ cấu làng xã và vài nét cộng đồng nông dân Nam Bộ
1 XÃ KHÁNH HƯNG - TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH CỦA XÃ KINH TẾ MỚI
Trang 33Hiện nay, vùng Đồng Tháp Mười trở thành một vùng trọng điểm sản xuất lương thực ở đồng bằng sông Cửu Long do chính sách phát triển và điều động dân cư sau năm 1975 Quá trình phát triển và điều động dân cư chia thành ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất (từ năm 1975 đến năm 1981) do chính sách khu kinh tế mới; giai đoạn thứ hai (từ năm 1982 đến năm 1986) do chính sách tập thể hóa nông nghiệp; giai đoạn thứ ba (từ năm 1987 cho đến nay), tức là sau Đổi mới Vùng Đồng Tháp Mười được chọn là một trong những vùng định cư mới theo chính sách điều dân này Vùng này đã thay đổi rất nhiều, với các xã mới và dân số tăng lên vào đầu những năm 90 Các xã mới thành lập ở vùng này được gọi là xã kinh tế mới, nơi dân di cư đến khai hoang định cư lập nghiệp (Nguyễn Quới & Phan Văn Dốp, 1999) Chính phủ Việt Nam coi trọng đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng để ổn định cuộc sống dân cư ở vùng này, vì thiệt hại nghiêm trọng
do lũ lụt năm 2000 Nói thêm là, sự thành lập và ổn định ở vùng này là yếu tổ cần thiết để bảo vệ biên giới, củng cố an ninh quốc phòng
Xã Khánh Hưng là một điển hình trong các xã kinh tế mới, được thành lập
ở vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An vào năm 1989 Tên xã Khánh Hưng được ghép đặt từ tên của hai xã - xã Hưng Điền A thuộc huyện Vĩnh Hưng và xã Khánh Hậu thuộc thị xã Tân An Tên xã Khánh Hưng cho thấy rằng khi mới thành lập dân cư xã này chủ yếu là dân từ xã Hưng Điền A và dân từ xã Khánh Hậu Xã Khánh Hậu là một xã rất nổi tiếng được biết đến trong tác phẩm
“Village in Vietnam” do G Hickey xuất bản vào năm 1964 (Hickey, 1964) Cuối những năm 80, địa bàn xã Khánh Hưng đã tiếp nhận di dân xây dựng kinh tế mới từ các huyện phía Nam trong tỉnh do chính phủ tổ chức, mà ban đầu đa số là dân từ xã Khánh Hậu lên đây Sau đó nhiều người khác tiếp tục di cư lên đây lập nghiệp từ các huyện phía Nam trong tỉnh, ngoại tỉnh và miền Bắc đầu những năm 90 Mặc dù chương trình di dân do chính phủ tổ chức đã ngừng sau năm
1992, nhưng dân di cư không tổ chức (còn gọi là di cư tự do) vẫn tiếp tục đến định cư tại xã Khánh Hưng, với lượng dân số tăng lên gấp hơn hai lần (2.090 người năm 1991, 5.274 người năm 2005)†
Nguồn: Dữ liệu năm 1991 của Nguyễn Quang An, tr 556
Dữ liệu năm 2005 do UBND xã Khánh Hưng cung cấp
Trang 34Sơ đồ 1 Xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An
Cum Tuyen Dan cu
Dan cu tren dat go thien nhien
2 QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA DÂN XÃ KHÁNH HẬU
Theo Ủy ban nhân dân xã Khánh Hậu, 303 hộ (gồm 17 hộ di cư đến xã khác) chia ra ba đợt di cư lên xã Khánh Hưng từ năm 1988 đến năm 1989 Khi những hình thức di dân có tổ chức kết thúc, thì chuyển hướng sang hình thức di dân không tổ chức, vì một số người trước lên đây bỏ làm ruộng do những điều kiện khó khăn cuối năm 1989 Đến năm 2005 tổng số hộ di dân do chính phủ tổ chức là 1.674 hộ, 4.790 người; trong đó 1.442 hộ, 3.731 người từ các tỉnh miền Nam, và 232 hộ, 1.068 người từ các tỉnh miền Bắc Vào thời điểm đầu tiên khi
Trang 35mới thành lập xã Khánh Hưng, nhóm dân từ xã Khánh Hậu đã là nhóm chủ yếu nhất trong số dân di vào đây‡
3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG TRONG QUÁ TRÌNH DI DÂN
Số người di dân từ cuối những năm 80 tăng lên nhiều so với giai đoạn trước vì chính sách điều dân sau Đổi mới chấp nhận hình thức sản xuất và kinh doanh cá thể, khuyến khích di cư khai hoang lập nghiệp Nhưng chính sách hỗ trợ cho người di dân vẫn còn giữ lại một số đặc điểm của chế độ nông nghiệp tập thể Chính sách này, đặc biệt là ở thời điểm đầu tiên có xu hướng tổ chức lại người di dân làm tập thể trong quá trình di cư Ví dụ trường hợp di dân từ xã Khánh Hậu lên xã Khánh Hưng ở tỉnh Long An Xã triển khai phong trào xây dựng cơ sở 2, và các tập đoàn sản xuất động viên những người không có đất hoặc thiếu đất canh tác làm đơn xin di dân Theo chính sách của tỉnh Long An khuyến khích 2 người lao động chính đi lên trước lập nghiệp an cư rồi mới đưa gia đình còn lại ở quê lên Hầu hết những hộ di dân từ xã Khánh Hậu đưa 1-2 lao động của gia đình lên, và họ thường gọi thêm anh chị em trong họ hàng hoặc người quen trong vài hộ khác đi cùng vì họ sợ thiếu nhân lực trong công việc khai hoang Đồng thời, xã chỉ định một số cán bộ của các tập đoàn sản xuất thành lập một Ban Điều hành để tổ chức điều hành công tác di dân, khai hoang, phối hợp dịch vụ sản xuất ở cơ sở 2 Mọi người di dân từ xã Khánh Hậu cũng chia ra và tổ chức lại vài đội sản xuất ở cơ sở 2 để nhận được dịch vụ sản xuất
dễ dàng Ban Điều hành cũng có chức năng như ủy ban nhân dân xã lâm thời ở
cơ sở 2 (xem sơ đồ 2)
Sơ đồ 2 Cơ cấu quản lý cơ sở 2 vào thời điểm đầu tiên
‡
Nguồn: Kết quả phỏng vấn Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Hưng vào tháng 12/1997
Trang 36cư lên vùng mới trong thời điểm đầu tiên hầu như mô phỏng lại cơ cấu xã hội ở quê gốc, họ dễ dàng giữ lại các đặc điểm của cộng đồng Vả lại dân từ phía Nam trong tỉnh Long An, bao gồm dân từ xã Khánh Hậu, có điều kiện thuận lợi gần quê Khoảng cách giữa xã Khánh Hậu và xã Khánh Hưng chỉ có 90km, đi lại giữa hai xã chỉ mất một ngày Dân di cư từ xã Khánh Hậu được hưởng những điều kiện thuận lợi trong việc phát huy chiến lược và hỗ trợ nhau trong nội bộ dân đồng hương Những công cụ cho thấy dấu vết sự tồn tại tính chất cộng đồng, tình cảm cùng quê
Trang 374 NHỮNG BIỂU HIỆN CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH DI DÂN
Hình thức di dân tập thể trong trường hợp kể trên khác với hình thức di dân cá thể ở chỗ có thể lập lại cộng đồng dựa vào quan hệ họ hàng và cùng thôn xóm Những người di dân vốn có quan hệ thân thiết bên quê vẫn giữ lại quan hệ
đó ở cơ sở 2 Người di dân từ xã Khánh Hậu lên cơ sở 2 có xu hướng giữ lại quan hệ gắn bó với quê hương, tức là cơ sở 1, không tách rời với quê gốc
Những biểu hiện dưới đây có thể là dựa vào tính chất cộng đồng kể trên
a) Bình đẳng hóa về việc chia đất
Những người dân mới nhập cư lên vùng khai hoang được cấp đất canh tác theo dự án do Chi cục điều động dân cư và xây dựng vùng kinh tế mới Dân di
cư từ xã Khánh Hậu được cấp đất canh tác 1,5 ha/hộ Cách bố trí lô đất trên dự
án là cấp một lô dọc theo kênh cho mỗi hộ để thuận tiện cho việc quản lý đất đai, mà không để ý đến điều kiện sản xuất Dân từ xã Khánh Hậu không đồng ý cách bố trí này, họ phối hợp chia lại đất canh tác trong dân cùng quê Họ bỏ phiếu chia đất lại thành hai lô – một lô 0,5 ha gần kênh và một lô 1 ha xa kênh
để cho bình đẳng trong nội bộ dân cùng quê Lúc đó họ biết rõ sự khác nhau giữa quy hoạch của Chi cục Điều dân với ý của họ, nhưng họ cương quyết theo
ý của mình làm lại quy hoạch và cấp đất lại trong nội bộ Chi cục Điều dân chấp nhận theo ý của người di dân trên thức tế Sự kiện này cho thấy rõ ràng ý của dân đã được ưu tiên hơn ý của nhà nước, điều đó tựa như là quan hệ giữa làng xã
và nhà nước ngày xưa
b) Đổi công và thuê lao động trong công tác khai hoang
Lao động là yếu tổ cần thiết để bảo đảm sản xuất và sinh sống ở vùng khai hoang Vì vậy có nhiều lao động trong một hộ, hoặc có sự hợp tác lao động với vài hộ sẽ thuận lợi trong quá trình khai hoang Việc đầu tiên của người di dân khi mới lên vùng đất hoang là bắt tay vào dựng căn nhà tạm Người di dân thường vần đổi công với nhau làm một nhà lá đơn sơ để sống chung với anh chị
em trong họ hàng
Để tiến hành công cuộc khẩn hoang, người di dân phải thực hiện nhiều công đoạn Chẳng hạn, công đoạn đào kênh mương nội đồng theo quy định trên phần đất đã nhận, v.v Ở các công việc này thì không có quan hệ vần đổi công Hầu hết đều theo quan hệ thuê và làm thuê lao động, giữa bên thiếu lao động mà
có vốn và bên thừa lao động mà thiếu vốn
c) Nhượng đất
Quá trình thành lập và phát triển xã Khánh Hưng chia ra ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất (đầu những năm 90), thời gian nhận người di dân; giai đoạn thứ
Trang 38hai (khoảng từ năm 1996 đến năm 2000), thời gian ổn định tình trạng di dân và bắt đầu thu thuế, tức là kết thúc thời điểm di dân; giai đoạn thứ ba (từ năm 2000 cho đến nay), thời gian khắc phục trận lũ lụt và phát triển xã hội (xem bảng 1) Trong giai đoạn thứ nhất xảy ra trường hợp nhiều người bỏ ruộng về quê hoặc đi nơi khác do việc khai phá khó khăn Hầu như những người di dân từ xã Khánh Hậu mà bỏ ruộng quay về quê thì thường nhượng đất cho họ hàng hoặc người quen biết ở quê vì đất đai chưa có giấy tờ chính thức Như vậy việc nhượng đất
ở đây thường dựa vào quan hệ tin tưởng lẫn nhau
Bảng 1 Niên biểu
Nien bieu
Nam Vung Dong Thap M uoi X.Khanh Hau-X.Khanh Hung
1975 G iai phong M ien Nam
1978.10 Tran lu lut
X.Khanh Hau: Vao Nong nghiep tap the
1979 Chien dich Tay Nam
Hau len X.Khanh Hung 1988.4 QD.so 10 ra lenh
1988-1989 Dot 2-3 Doan di dan Khanh
Hau len X.Khanh Hung
1991-1992 Dich chuot
1996 Tran lu lut Bat dau thu thue
2000 Tran lu lut
d) Sự phát sinh điều chuyển lao động trong mùa vụ
Việc thu hoạch lúa là cơ hội điều chuyển lao động nhiều nhất mang tính thời vụ ở vùng Đồng Tháp Mười Vì quy mô diện tích canh tác của các hộ thường khá lớn so với các nơi khác của đồng bằng và phải tranh thủ làm cho kịp trước mùa lũ lụt hàng năm, nên nhu cầu lao động rất lớn Mặt khác việc sản xuất dần dần ổn định và năng suất tăng lên từ khoảng năm 1996 trở đi khiến cho như cầu lao động cũng tăng lên theo đà phát triển sản xuất
Trang 39Khi dân di cư từ xã Khánh Hậu lên xã Khánh Hưng làm ruộng, vùng này mới khai hoang, còn thưa dân cư, dĩ nhiên thiếu lao động vào mùa thu hoạch Một số người dân xã Khánh Hậu thấy tình trạng thiếu lao động mùa vụ đã đứng
ra tự làm trùm cấy Trùm cấy là người trung gian giữa chủ ruộng cần thuê lao động và người đi làm thuê dựa vào tập quán từ lâu ở xã Khánh Hậu Họ kêu người lao động phối hợp tùy theo yêu cầu của các chủ ruộng để kịp mùa vụ Việc điều lao động cần phải có sự tín nhiêm trong dân chứng, khả năng kế toán
và một số vốn (Iwai, 2001, tr 120-136), diễn ra dựa vào quan hệ cộng đồng trong làng Ví dụ, một người phụ nữ làm trùm cấy ở xã Khánh Hưng nói rằng công việc đó chỉ giới hạn trong những người đồng hương, cả hai bên thuê người
và chủ ruộng cũng là người cùng quê, không mở ra đến người ngoài quê§
Mấy năm sau có lao động thời vụ từ tỉnh Bến Tre lên vùng này thay cho việc điều lao động do trùm cấy
e) Lợi dụng hình thức hai quê
Khi dân từ xã Khánh Hậu di cư lên xã Khánh Hưng ở thời điểm đầu tiên, môi trường trong vùng này rất khó sống, cơ sở hạ tầng trên cụm dân cư chưa phát triển Vào mùa nước lụt từ tháng 7 đến tháng 10 toàn bộ vùng này trừ bờ kênh đều chìm trong nước, hầu hết dân cư không đi làm được, gần như bị cô lập Mặc dù chính phủ đã đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng sâu vùng xa, với nhiều cải tiến đáng kể nhằm khuyến khích dân định cư ở lại vùng này, nhưng sau đợt lũ lụt năm 1996, năm 2000, hầu như những người dân gốc xã Khánh Hậu đều quay
về làng quê của họ trong mùa nước lụt Dân di cư từ xã Khánh Hậu thường bán hết sản phẩm ngay sau khi thu hoạch để lấy tiền mặt và quay về quê trong mùa nước Họ ở lại tại quê khoảng 3 - 4 tháng cho đến khi nước rút Trong thời gian
đó họ đi làm thuê hoặc làm ruộng cho gia đình, họ hàng ở quê và dành thời gian vào các hoạt động xã hội như dự các đám cưới, đám tang trong làng Vào khoảng tháng 11 khi nước đã rút, dân di cư lại bắt đầu đi lên xã Khánh Hưng Thậm chí ngay cả trong mùa vụ, họ chuẩn bị thời vụ xong thường quay về quê,
vả lại họ có xu hướng thuê lao động làm ruộng thay Họ đăng ký hộ khẩu ở xã Khánh Hưng và bị cắt hộ khẩu ở quê, nhưng thực tế cuộc sống của họ vẫn tập trung ở xã Khánh Hậu, chứ không phải ở bên xã Khánh Hưng Họ không đầu tư vào sinh hoạt ở xã Khánh Hưng, bởi vì họ không coi Khánh Hưng là nơi định cư suốt đời của họ Cái hình thức hình như định canh không định cư là một chiến lược của nông dân ở đồng bằng khi mới bước vào khai hoang cũng có thấy ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Chao Phraya của Thái Lan, để giảm nhẹ những khó khăn (Takaya, 1987, tr 256-257; Gourou, 1936, tr 222-223)
Trang 40
Theo kết quả nghiên cứu năm 2000-2001, cái hình thức định canh không định cư đã có thay đổi, chuyển sang xu hướng cho thuê đất hoặc thuê người ủy thác đất quản lý Dân di cư từ xã Khánh Hậu ít khi đi lên để tự làm ruộng, bởi vì dân số tại xã Khánh Hưng ngày càng tăng lên, dễ tìm lao động làm thuê cho họ
Họ vẫn giữ lại ruộng ở xã Khánh Hưng, đồng thời cũng có nhà, đất ở xã Khánh Hậu do vợ hoặc chồng của chủ hộ đứng tên, để lợi dụng tín dụng ngân hàng ở hai quê Tuy nhiên theo kết quả điều tra năm 2005 cho thấy, từ mấy năm gần đây nhiều người dân di cư từ xã Khánh Hậu nay đã có thế hệ con cháu kế thừa,
và lớp người thay thế này thường định cư ở lại xã Khánh Hưng
5 TÌNH TRẠNG HIỆN TẠI CỦA DÂN DI CƯ TỪ XÃ KHÁNH HẬU
Dưới đây trình bày khái quát tình hình hiện tại của dân di cư từ xã Khánh Hậu, dựa theo số liệu dân số năm 2005**
Dân từ xã Khánh Hậu di cư được cấp đất tại hai ấp Gò Châu Mai và Cả Trốt Do vậy họ cũng tập trung định cư tại hai ấp này, chỉ có 2 hộ ở tại ấp Sậy Giăng, bên cạnh ấp Gò Châu Mai Số hộ từ xã Khánh Hậu là 115 hộ, 452 người, chưa tới 10% so với tổng số hộ và tổng số nhân khẩu của xã Khánh Hưng hiện nay (xem bảng 2)
Bảng 2 Tình trạng dân số tại xã Khánh Hưng (tháng 12/2005)
Tren: Tong so X.Khanh Hung
Duoi: Dan tu X.Khanh Hau