Đặc biệt có những câu đối bất hủ đã được ghi lại trong văn chương bác học, được khắc lại trên đá, trên gỗ, được trang trí trong cung vua phủ chúa, nhà thờ họ, được sao chép nhiều lần tro
Trang 1CÂU ĐỐI TRONG VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Đinh Hồng Hải
Trong kho tàng văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng của người Việt, có một thành tố văn hoá mang đậm tính “bác học” hiện diện trên nhiều di sản văn hoá truyền
thống, đó là câu đối Theo Từ điển tiếng Việt, câu đối là “thể văn cũ gồm hai câu có số
lượng từ bằng nhau và đối chọi nhau cả về lời lẫn ý.”1 Câu đối là một sản phẩm văn chương được các tầng lớp trí thức trong xã hội như vua, quan, các nhà tư tưởng, các nhà thơ, các bậc danh nho, sáng tạo nên trong quá trình sáng tác văn chương hoặc trong
những ngữ cảnh đặc biệt (ngữ cảnh đặc biệt này sẽ được đề cập trong nội dung chi tiết
của mục 5 trong bài này) Nội dung của câu đối thường cô đọng, dễ thuộc, dễ nhớ nên chúng được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ vùng này đến vùng khác Đặc biệt có những câu đối bất hủ đã được ghi lại trong văn chương bác học, được khắc lại trên
đá, trên gỗ, được trang trí trong cung vua phủ chúa, nhà thờ họ, được sao chép nhiều lần trong các bài giáo huấn của thế hệ đi trước dành cho các thế hệ tiếp nối, Vượt qua giới hạn của kinh sách trong văn chương bác học, câu đối đã đến được với mọi thành phần dân chúng thông qua biểu hiện của các dạng trang trí kiến trúc với một vai trò kép: vừa là một áng văn chương có giá trị, vừa là một thành tố trang trí đặc biệt - một tác phẩm nghệ thuật bằng chữ tượng hình
Với vai trò kép nói trên, câu đối được sử dụng một cách hết sức phổ biến cả trong văn hoá dân gian cũng như trong dòng văn chính thống Điều này không chỉ góp phần làm tăng thêm giá trị văn chương của chúng mà còn giúp truyền bá các tư tưởng của tầng lớp trí thức trong xã hội đến với các tầng lớp bình dân vì chúng có thể dễ dàng thâm nhập vào đời sống của mọi tầng lớp người dân Để đưa được những thông điệp của tầng lớp trí thức trong xã hội đến với mọi người dân, ngoài những đóng góp quan trọng của tầng lớp nho sĩ còn có sự đóng góp vô cùng quý báu của các nghệ nhân dân gian thông qua nghệ thuật trang trí và kiến trúc Nhờ các tác phẩm nghệ thuật bằng chữ tượng hình này mà các câu danh ngôn, các lời giáo huấn, đã được phổ biến sâu rộng trong xã hội Việt Nam xưa Có thể nói, câu đối chính là một trong những thành tố quan trọng nhất của các di sản văn hoá Việt Nam hiện đang được bảo lưu trên các thiết chế văn hoá truyền thống như thư tịch, sắc phong, hay trên kiến trúc đình, chùa, đền, miếu, cung điện, góp phần kiến tạo nên những giá trị đặc sắc của văn hoá truyền thống Việt Nam Tuy nhiên, những giá trị đặc sắc của câu đối xưa dường như đang gặp thách thức trong xã hội hiện đại, đó là sự huỷ hoại các thiết chế văn hoá truyền thống, dung tục hoá nội dung, giản tiện hoá hình thức, thậm chí là làm sai, làm ẩu các câu đối ngay ở những vị trí quan trọng, linh thiêng Vậy nguyên nhân nào đã khiến cho một loại hình di sản văn hoá đặc sắc với những áng văn chương bất hủ như câu đối bị bóp méo, bị xuyên tạc, thậm chí bị lạm dụng như vậy? Câu trả lời sẽ nằm trong nội dung viết này
1 Vai trò của câu đối trong văn chương
Trong nghiên cứu văn học, câu đối được định nghĩa như sau: Câu đối thuộc thể
loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm
của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội Nên lưu ý là
từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi Câu đối là một trong
những thể loại của văn học Trung Quốc và Việt Nam.2 Đây là một thể loại văn học đặc biệt chỉ thấy xuất hiện ở Trung Quốc và Việt Nam - những quốc gia sử dụng ngôn ngữ
đơn âm tiết (monosyllabic) Chính vì lý do này mà câu đối khó phát triển thành một thể
loại văn học được quốc tế hoá cho dù giá trị văn chương và tính học thuật của chúng rất lớn Tuy nhiên, đặc tính này cũng mang lại những lợi ích trong vai trò bảo tồn một loại
1 Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê cb., tr 121 Tuy nhiên, chữ “đối chọi” ở đây nên sửa lại là đối ứng hay đối
xứng thì hợp lý hơn vì nội dung các câu đối thường có tính đối ngẫu/đối xứng chứ không hẳn là đối chọi.
2 http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_%C4%91%E1%BB%91i
Trang 2hình di sản văn hoá có tính bác học Trên bình diện xã hội, câu đối là những câu văn cô đọng được các nhà nho đúc kết qua sách vở hoặc qua cuộc sống bằng hai vế có số lượng chữ như nhau nhưng đối nhau về ngữ nghĩa, âm tiết và thanh điệu Mỗi vế đối có thể gồm một hoặc nhiều chữ Do tính chất đối xứng nên mỗi vế đối có thể là một từ, một cụm từ hoặc một nội dung trọn vẹn Bằng thủ pháp đối xứng, câu đối là một thể loại văn học cổ có giá trị cao, tiêu biểu về nghệ thuật sử dụng ngôn từ Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra một vài ví dụ để chứng minh những giá trị đặc sắc của câu đối và những nét đặc trưng của nó trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu
Trần Nhân Tông 3
(Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Trần Trọng Kim dịch
Có thể nói đây là một vế đối hoàn hảo cả về đối âm, đối ý và đối nghĩa Trong câu đối này các âm đơn, âm đôi và cả cụm âm đều đối xứng với nhau rất rõ nét về mặt âm tiết:
- Xã tắc (trắc trắc) đối với Sơn hà (bằng bằng)
Xét về ngữ nghĩa:
- Xã tắc (đất nước) – Sơn hà (núi sông)
- Lưỡng hồi (đôi phen) - đối với – thiên cổ (muôn thuở).
Về ý nghĩa của đôi câu đối này, nhà thơ Vũ Quần Phương đã phân tích như sau:
“Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên
Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá
cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi Nguyên văn:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu.” Tương truyền hai câu thơ
này viết vào năm 1288, sau chiến thắng Bạch Đằng, khi làm lễ dâng chiến thắng ở lăng vua Thái tông: Chiêu lăng (Thái Bình)- lăng này từng bị giặc Nguyên Mông tàn phá Thấy chân ngựa đá lấm bùn, ông vua thi sỹ đã bật ra bài thơ hai câu này Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến Không biết giai thoại này đúng là xuất xứ của thơ hay thơ làm nẩy sinh giai thoại Khẩu khí thiên tử nhưng là một thiên tử anh hùng.”4 Qua đó có thể thấy giá trị nổi bật của câu đối so với các loại hình thơ, văn khác ở chỗ: Ngôn từ được chắt lọc đến mức tối thiểu (chỉ có 02 câu thơ, mỗi câu 07 chữ, không thể thêm và cũng không thể bớt) nhưng ý nghĩa thì đã được phát huy đến mức tối đa: Nó được coi như lời tổng kết cho một trong những cuộc chiến
vĩ đại nhất của dân tộc - cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam
Một đôi câu đối khác cũng hết sức nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhờ đọc thuộc lòng từ những câu đối Tết:
Tam tinh tại hộ tài nguyên vượng Ngũ phúc lâm môn gia đạo hưng
(Ba sao trong nhà tài nguyên vượng Ngũ phúc đến nhà đạo nhà hưng) 5
3 Ngày 17-3 năm Mậu Tý (18-4-1288), sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông) Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó quân Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa
đi mà chưa kịp), tức cảnh ngâm hai câu thơ này.
4 Vũ Quần Phương, theo http://trannhantong.net/ (website của Viện Trần Nhân Tông - Tran Nhan Tong Academy, Đại học Harvard).
5 Đây là một câu đối cổ, khuyết danh, chúng tôi dẫn lại theo: Trương Thìn, Mẫu hoành phi, câu đối thường
dùng, Nxb Thời đại 2010, tr.128
Trang 3Đây là một câu đối hay nhưng phần dịch ở vế thứ nhất thiếu chuẩn xác, nên được
chỉnh lại như sau: Có (3 ông) Tam đa trong gia đình (thì) của cải dồi dào Tam tinh là ba
vì tinh tú, trong văn hoá Trung Hoa là Phúc tinh, Lộc tinh và Thọ tinh Ba vì tinh tú này chủ về Phúc-Lộc-Thọ nên dân gian thường cầu ước các vị này để cầu phúc, cầu tài cầu lộc
và cầu thọ (sống lâu) Ở Việt Nam không gọi là Tam tinh, càng không gọi là Ba sao (!) mà
gọi là Tam đa (xin tham khảo Tam đa trong cuốn sách Những biểu tượng đặc trưng trong
văn hoá truyền thống Việt Nam của tác giả bài này trong thư mục)
Các âm tiết ở đây đối chỉnh như sau:
- Tam tinh đối với Ngũ phúc (bằng bằng - trắc trắc)
- tại hộ đối với lâm môn (trắc trắc - bằng bằng)
- tài nguyên đối với gia đạo (bằng bằng - bằng trắc)
- vượng đối với hưng (trắc - bằng)
Về ý, Tam tinh và Ngũ phúc đều là biểu tượng cho những ước muốn của trăm họ, đặc biệt là trong dịp đón năm mới Một thứ ước có sẵn (tại hộ) và một thứ cầu cho đến
(lâm môn) để của cải dồi dào và đạo nhà hưng thịnh Về nghĩa, đây là một câu đối hoàn chỉnh về ngữ nghĩa đề cập đến việc cầu chúc cho tiền bạc và của cải được dồi dào, phúc đức và gia đạo được an lành và hưng thịnh
Thông qua những bức câu đối cổ, bên cạnh các giá trị về nghệ thuật ngôn từ cũng như nghệ thuật tạo hình bằng chữ tượng hình, chúng ta có thể tìm thấy ở đây hệ tư tưởng của xã hội đương thời qua những nội dung đã được chắt lọc một cách hết sức cô đọng bằng ngôn ngữ của câu đối Chẳng hạn:
Danh lợi thị trường thanh tịnh tồn tâm siêu xuất tục
Chiến tranh thời đại từ bi bất sát độ quần sinh.
Câu đối này được chúng tôi sưu tầm ở chùa Lạc Lâm, năm 2003 tại Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội), nội dung trên do GS Kiều Thu Hoạch ghi lại Ở đây ta có thể hiểu được tâm trạng của tác giả câu đối với chốn quang trường và nỗi đau trước cảnh thời chiến Đáng chú ý là quần thể di tích từ chùa Lạc Lâm, đình So tại huyện Quốc Oai đến chùa Trăm Gian, ở Chương Mỹ là một khu vực có mật độ di tích rất dày nhưng chưa được khảo cứu nhiều Chúng tồn tại qua bao thế kỷ với bao cuộc chiến tranh khốc liệt Ấy vậy mà giờ đây chúng đang bị tàn phá một cách không thương tiếc.6
2 Lịch sử hình thành của câu đối Việt Nam
Cho tới nay, chưa có một chuyên khảo nào đề cập đến lịch sử hình thành của câu đối ở Việt Nam, tuy nhiên, xét trên thực tế thì thể loại văn chương này đã tồn tại trong văn hoá Việt Nam từ hàng nghìn năm qua kể từ khi đất nước giành lại độc lập từ tay người Hán Ngay sau khi giành lại được nền độc lập, thơ văn Lý - Trần đã phát triển một cách hết sức mạnh mẽ với nhiều nhà văn, nhà thơ với những áng văn chương bất hủ Trong văn học giai đoạn Lý - Trần, chúng ta có thể tìm thấy nhiều đôi câu thơ tạo thành những cặp câu đối hoàn thiện, hoàn mỹ, đặc biệt là những cặp câu đối trong các bài thơ được làm theo thể
thơ Đường luật “Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường, Trung Quốc Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ
cổ thể, không theo cách luật ấy Vì giáo dục, thi cử đều bằng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán, trong đó có thơ theo luật Đường Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp
thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt Điều căn bản của luật thơ Đường là đối, đó
là hai nguyên tắc đối âm và đối ý Nghĩa là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3,
của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, của câu dưới cả về âm và ý
6 Khi tôi đang viết bài này thì cũng là thời điểm các cơ quan chức năng phát hiện chùa Trăm Gian đã bị phá tan hoang để “xây mới.” Đây quả thực là một cú sốc quá lớn đối với chúng tôi, càng sốc hơn nữa khi mà hầu như không ai phải chịu trách nhiệm về việc này mà nó được quy gán bằng một cách gọi quá quen thuộc: trách nhiệm tập thể(!)
Trang 4Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước Nhất tam ngũ bất luật (chữ
thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật).”7 Như vậy, có thể tạm lấy mốc hình thành câu đối trong văn chương ở Việt Nam dựa trên khoảng thời gian Nguyễn Thuyên đưa thơ Đường luật vào văn chương Việt là thế kỷ 13 (không ai rõ năm sinh và mất của Nguyễn Thuyên, chỉ biết ông sống trong thế kỷ 13, theo ĐVSKTT)
Trên đây là những chứng cứ dựa trên các nguồn sử liệu và văn chương chính
thống, vậy các câu đối trong dân gian có cùng thời, trước hay sau thời điểm đó? Đây quả
là một câu hỏi không dễ trả lời vì các thành tố văn hoá dân gian nói chung cũng như các câu đối được hình thành trong dân gian thường rất mơ hồ về mặt niên đại Lục tìm trong các kho tư liệu, cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy một ví dụ có giá trị cao về văn chương
và có thể tạm xác định được “niên đại”, đó là bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà Bài thơ
“thần” này đã giúp Lý Thường Kiệt (1019–1105) tập hợp quân sĩđánh bại quân Tống Nó
đã được ai đó làm ra khoảng đầu thế kỷ 11 hoặc sớm hơn, trước khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống bắt đầu Hai câu kết của bài thơ này chính là một cặp câu đối hoàn thiện, hoàn mỹ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Bản dịch:
(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.)8
Khuyết danh
Như vậy, không phải chờ đến thế kỷ 13 khi Nguyễn Thuyên đưa thơ Đường luật vào văn học chính thống, câu đối đã xuất hiện trong dân gian và đã có những kiệt tác như
bài Nam Quốc Sơn Hà đã dẫn ở trên Xét về niên đại của bài thơ, nó chắc chắn được sáng
tác cùng thời với danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105) gói gọn trong khoảng giữa thế
kỷ 11 Thậm chí, trước khi giành được độc lập (1010) thì câu đối hoặc thể thơ có chứa các cặp câu đối đã tồn tại trong văn hoá của người Việt Tuy nhiên, trước 1010 thì Việt Nam có gần 1000 năm Bắc thuộc dưới các triều đại Hán, Đường, Tống (nhà Lý ở Việt Nam ra đời tương đương với giai đoạn nhà Tống ở Trung Quốc) Do đó, sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa đối với câu đối, và sự ảnh hưởng từ thơ Đường luật dường như là điều không phải bàn cãi
Xin được lấy ví dụ về một bài thơ Đường luật Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế để so sánh với bài Nam Quốc Sơn Hà được coi như bản “tuyên ngôn độc
lập” đầu tiên của Việt Nam Ở hai bài thơ này các cặp câu đối (câu 3 và 4) đã cho thấy rõ
sự ảnh hưởng của thể thơ Đường luật trong việc hình thành câu đối ở Việt Nam nói chung
và trong văn thơ Lý - Trần nói riêng
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):
Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
7 Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_%C4%91%E1%BB%91i
8 Hiện nay các nhà khoa học đang có nhiều tranh luận về độ chính xác cũng như tác giả của bài thơ này Vì vậy, ở bài này chúng tôi xin được để trống phần tên tác giả.
Trang 5Trăng tà chiếc quạ kêu sương Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Như vậy, chúng ta có thể đi đến một lời tạm kết rằng câu đối là một sản phẩm văn hoá đặc trưng của Việt Nam có nguồn gốc Trung Hoa Sự hình thành của
câu đối có ảnh hưởng rất nhiều từ các nguyên tắc đối âm và đối ý trong thơ Đường
luật.
3 Phân loại câu đối
Mặc dù có nhiều ảnh hưởng từ văn hoá Trung Hoa, mà cơ bản là từ các nguyên tắc đối trong thể thơ Đường luật nhưng câu đối ở Việt Nam có khá nhiều
điểm khác biệt so với câu đối Trung Quốc Với ngữ cảnh đặc biệt của nó (vấn đề này
chúng tôi sẽ đề cập trong mục cuối ở bài này), câu đối Việt Nam đã xác lập được một chỗ đứng riêng, độc lập với các câu đối của Trung Quốc Bảng phân loại này tạm thời dựa trên thống kê của từ điển mở Wikipedia, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện thêm trong các nghiên cứu tiếp theo 9
Câu đối Trung Quốc
(theo cách dùng và đặc điểm
nghệ thuật)
Câu đối Việt Nam
(Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa)
Xuân liên (對對): Câu đối xuân,
chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở
cửa.
Doanh liên (對對): Câu đối treo ở
cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan,
cung điện của vua và những nơi cổ
kính.
Hạ liên (對對): Câu đối chúc mừng,
thường được dùng để chúc thọ,
chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan
tiến chức, có con, khai nghiệp v.v.
Vãn liên (對對): Câu đối than vãn,
dùng trong lúc ai điệu tử vong.
Tặng liên (對對): Dùng để tán thán,
đề cao hoặc khuyến khích người
khác.
Trung đường liên (對對對): Câu đối
dùng để treo ở những khách đường
lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và
được phối hợp với bút hoạch (thư
pháp).
[sửa]Phân loại theo đặc điểm
nghệ thuật
Điệp tự liên (對對對): Một chữ xuất
hiện liên tục.
Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng
như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới
Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm
(Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)
Câu đối phúng: làm để viếng người chết.
Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,
gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.
(Nguyễn Khuyến: câu đối khóc vợ)
Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa về dịp Tết Nguyên
Đán.
Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)
Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần
thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.
Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.
(Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)
Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và
thường dán ở những chỗ ngồi chơi.
Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
9 Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt: http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_%C4%91%E1%BB%91i
Trang 6Phức tự liên (對對對): Hai vế có chữ
giống nhau nhưng không xuất hiện
một cách trùng phức liên tục.
Đỉnh châm liên (對對對): Chữ nằm
phần đuôi của câu đầu lại là chữ
đầu của câu sau.
Khảm tự liên (對對對): Bao gồm số,
phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ
người, nhân danh, địa danh, vật
danh (ví như tên thuốc) v.v.
Xích (sách) tự liên (對對對): Mỗi
hợp thể tự bên trong câu đối tách
thành bao nhiêu chữ đơn thể, có
người phân ra tinh tế hơn nữa là
mở chữ ra (xích tự 對對), hợp chữ lại
(hợp tự 對對), tách chữ ra (tích tự 對
對) v.v.
Âm vận liên (對對對): Bao gồm đồng
âm dị tự, đồng tự dị âm cùng
với điệp vận.
Hài thú liên (對對對): Hàm dung ý
nghĩa khôi hài, ẩn kín.
Vô tình đối (對對對): Ý nghĩa trên
dưới không tương quan một mảy
may nào, chỉ chỉnh những chữ, từ
Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý
vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào
Hài thú liên bên trên.
Hồi văn liên (對對對): Đọc xuôi
(thuận độc 對對) hay đọc ngược (đảo
độc 對對) ý tứ hoàn toàn như nhau.
Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh
(Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)
Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó
hoặc tặng cho người khác.
Nếp giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng
(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giầu (trầu) nước)
Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.
Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài
(Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)
Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu
do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.
Tự ( 對) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (對) là con, con ai con
nấy?
Vu ( 對) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (對) là đứa, đứa
nào đứa này?
Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích
một người nào đó.
Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
(Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)
Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục
ngữ, ca dao.
Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.
Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối
oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc,
nó cạch đến già
Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại
Qua đó có thể thấy, các nhà nho, các nhà thơ, các danh sĩ Việt Nam xưa đã hết sức thành công khi vận dụng nền tảng văn hoá cung đình của các triều đại phong kiến phương Bắc (cụ thể ở đây là thể thơ Đường luật) để tạo nên một giai đoạn cực thịnh trong văn chương Việt Nam mà đỉnh cao là thơ văn Lý - Trần Xa hơn, họ còn sáng tạo nên những đặc trưng riêng của các thành tố văn hoá được sản sinh trong văn hoá Việt Nam mà câu đối là một trong những sản phẩm tiêu biểu
4 Câu đối trong nghệ thuật trang trí 10
Nghệ thuật trang trí phương Đông nói chung và của người Việt nói riêng thường mang đặc tính ẩn dụ, điều này khác hẳn với xu hướng hiện thực của phương Tây Có thể
10 Đinh Hồng Hải, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hoá truyền thống Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà
Nội 2012, tr.14-19.
Trang 7hiểu được điều đó trên cơ sở sự tồn tại và phát triển hai trung tâm văn hoá này: người phương tây đa số theo chủ thuyết duy lý, cho nên họ đến với nghệ thuật trên cơ sở sự khúc chiết, cụ thể, rõ ràng Người phương đông nói chung và người Việt nói riêng ưa sự cân bằng, lấy sự cân bằng làm nguyên lý tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng (đỉnh cao của hệ
thống lý thuyết này đã được đúc kết qua Kinh Dịch) Do đó, nghệ thuật của họ được tạo ra
từ sự cân bằng và cũng là nghệ thuật tạo ra sự cân bằng Điều này đã thể hiện rất rõ qua việc sử dụng câu đối và nghệ thuật trang trí đôí xứng làm một dạng trang trí chính trong rất nhiều công trình từ tư gia, đình chùa, nhà thờ của nhân dân cho đến đền, đài, lăng, tẩm, cung điện của vua chúa, quý tộc Hiếm có một loại hình nghệ thuật trang trí thông dụng nào tồn tại một cách lâu bền và ít biến đổi như câu đối Có lẽ sự gắn bó sâu sắc về nội dung và tính chất chặt chẽ về hình thức trang trí đã tạo nên sức sống lâu bền của chúng qua bao biến thiên của lịch sử
Trong các kiến trúc xưa, câu đối được đặt ở hai bên hương án, khám thờ, các đôi cột đối xứng, cửa, trụ cổng v.v… Những vị trí “cặp đôi” này đều đối xứng nhau qua trục
thần đạo (đường thẳng quy ước chạy chính giữa và vuông góc) Trang trí đối xứng trong
nghệ thuật của người Việt từ trước tới nay đã được sử dụng ở nhiều loại hình trang trí khác nhau với một số mô típ tiêu biểu như: Rồng chầu mặt trời; Hạc ngậm cành sen; Chim loan, phượng,v.v… Tuy nhiên, tuỳ từng nơi, từng lúc các mô típ trang trí này có sự thay đổi nên tính đăng đối cũng mang tính tương đối Ví dụ: có thể dùng một bên là chim loan; một bên là chim phượng (một cái - một đực; một to - một nhỏ) hoặc một bên là đào,
trúc; một bên là cúc, tùng (như bộ tứ bình) v.v…Thủ pháp đối xứng chỉ được thực hiện
một cách nghiêm ngặt khi có sự góp mặt của những câu đối ở những vị trí quan trọng như: hương án, ban thờ, cửa chính… Với các câu đối, tính đối xứng phải tuân thủ một cách tuyệt đối về độ lớn, số chữ màu sắc, chất liệu, hình thức trang trí…Có lẽ sự nghiêm cẩn này đã tạo nên nét cân đối, của bố cục tạo hình và sự tôn nghiêm, vững chãi của công trình kiến trúc
chúng trở thành một công việc hết sức quan trọng Sự trang trọng với những lời giáo huấn của “bề trên” được các nghệ nhân xưa khắc trên đá, trên gỗ quý, được dát vàng-bạc, khảm trai, gò đồng, chạm nổi thành những tác phẩm nghệ thuật hết sức quý giá bao hàm nhiều mặt giá trị: Danh ngôn của người xưa, lời nói của cổ nhân, bút tích của các danh nho, nghệ thuật chế tác, Ngoài những giá trị đó, câu đối - tác phẩm nghệ thuật tạo hình bằng chữ
tượng hình - còn có một giá trị lớn hơn tất cả các tác phẩm nghệ thuật tạo hình khác, đó là
tính trường tồn của nội dung khi chúng là những câu danh ngôn, những lời giáo huấn mẫu mực được nhập tâm của người đời sau Vì vậy, có không ít những câu đối đã được làm đi làm lại nhiều lần ở nhiều giai đoạn khác nhau và nhiều nơi khác nhau với cùng một nội dung
Với vai trò vừa là tác phẩm nghệ thuật vừa là một “bản cổ văn rút gọn,” câu đối là một sản phẩm văn hoá có giá trị to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần Giá trị văn hoá của các tác phẩm nghệ thuật này không chỉ là một loại hình di sản văn hoá có giá trị cao mà còn là một đại diện tiêu biểu của nền văn hoá Việt Nam trong dòng chảy của văn hóa phương đông vốn sinh động nhưng chứa đầy sự huyền bí Chính sự huyền bí này một phần đã được tạo ra từ những sản phẩm văn hoá mang nhiều tính ẩn dụ mà câu đối là một trong nhưng sản phẩm văn hoá tiêu biểu
5 “Ngữ cảnh đặc biệt” của câu đối
Ngữ cảnh đặc biệt qua vế đối “thế kỷ” của Đoàn Thị Điểm
Có một thuật ngữ mới, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài viết này nhưng chưa được giải nghĩa vì chúng tôi cố tình đặt ở cuối bài do tầm quan trọng của nó, đó là
ngữ cảnh đặc biệt đối với câu đối Thực tế cho thấy, trong hầu hết các loại hình văn học
nghệ thuật đã và đang tồn tại từ trước đến nay đều cần đến ngữ cảnh để sáng tác Nhưng
Trang 8riêng với câu đối, ngữ cảnh đóng vai trò quyết định đến toàn bộ nội dung và ý nghĩa của
nó nên chúng tôi gọi đó là ngữ cảnh đặc biệt Xin được lấy một câu đối cực ngắn, cực
thâm và cực khó của Hồng Hà nữ sĩ - Đoàn Thị Điểm, vốn đã khiến cho biết bao “văn nhân, tài tử” từ Trạng Quỳnh thời xưa đến nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn thời nay đã phải lao tâm khổ tứ để tìm vế đối lại mà vẫn chưa có vế đối chuẩn Vế đối đưa
ra của Hồng Hà nữ sĩ là: Da trắng vỗ bì bạch Theo các giai phẩm văn học, trong hai thế
kỷ qua, đã có nhiều vế đối được đưa ra để đối lại với vế câu đối của Đoàn Thị Điểm nhưng
có hai vế được đánh giá cao nhất là Trời xanh màu thiên thanh của Trạng Quỳnh và Rừng
sâu mưa lâm thâm của Nguyễn Tài Cẩn được cho là “chuẩn” nhất Mặc dù vậy, cả hai vế
đối này vẫn chưa đạt đến cái “cực thâm và cực khó” trong vế đối của Đoàn Thị Điểm Tại
sao lại như vậy? Câu trả lời là: Vì ngữ cảnh đặc biệt của nó
Ở đây ngữ cảnh đặt ra là “cảnh” một người đang tắm (có lẽ là phụ nữ, và có lẽ là Hồng Hà nữ sĩ chăng!) Một ngữ cảnh có vẻ hơi “dung tục” với ngôn ngữ bao gồm cả từ tượng hình và từ tượng thanh, một cụm từ láy, một vế đối có cả Hán lẫn Việt, cân đối
nhau, tất cả gói gọn trong 5 chữ(!) Toàn bộ ngữ cảnh đặc biệt và ngôn từ được dùng ở
đây đã tạo nên độ thâm và độ khó của vế đối khiến cho bao danh nho, bao “đấng nam tử”
phải bó tay “Câu đối thế kỷ” này dường như chỉ có thể được giải quyết nếu ngữ cảnh đặc
biệt của nó được lưu tâm Nhà nghiên cứu Đặng Tiến đã phân tích một cách hết sức hợp lý
yếu tố này như sau: “hơn cả Thi Ca, câu đối minh hoạ rõ nét chức năng thi pháp của ngôn
từ, theo lý thuyết Jakobson Câu đối xuất sắc vì tính cách hóc hiểm, kết hợp ngôn từ với
tình huống, chứ không phải xuất sắc vì tư tưởng cao siêu: Da trắng vỗ bì bạch là một điển hình Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu cũng vậy thôi, nó nói lên thân phận nhỏ nhoi của
con người trong lịch sử đa đoan, không nhất thiết phải quan hệ với chuyện Ngô Thời Nhậm - Đặng Trần Thường mà tình huống, thật sự, cũng chưa chắc đã có thực Những câu đối được truyền tụng, xuất sắc vì văn bản; còn tình huống, đôi khi người đời sau bịa đặt, nguỵ tạo một hoạt cảnh, trở thành “ giai thoại.” Các giai thoại văn học về câu đối, thường tái lập ưu thế cho kẻ yếu, tạo cho họ nét thông minh, nhạy bén, dũng cảm, nhưng đây là chuyện xã hội hơn là ngôn ngữ.”11 Thuật ngữ tình huống mà Đặng Tiến đã sử dụng ở trên
chính là ngữ cảnh đặc biệt của câu đối Có thể nói rằng, ngữ cảnh đặc biệt của câu đối
cũng như thi pháp của ngôn từ chính là những công cụ, những vũ khí mà người sử dụng nó cần biết cách dùng và cũng cần phải đạt đến một độ thành thạo nhất định Và Đoàn Thị Điểm chính là người đã sử dụng một cách thành công nhất đối với cả hai loại công cụ/vũ khí này
Ngữ cảnh đặc biệt trong văn chương bình dân
Trên đây là việc sử dụng câu đối của tầng lớp “danh sĩ” trong xã hội, vậy đối với tầng lớp bình dân thì sao? Xin thưa rằng, việc sử dụng câu đối của tầng lớp bình dân trong
xã hội cũng không kém phần sâu sắc và thú vị Thậm chí, nếu xét dưới ngữ cảnh đặc biệt
của câu đối thì nhiều câu đối của tầng lớp bình dân trong xã hội Việt Nam còn có phần thi
vị hơn Xin được dẫn ra đây một vài ví dụ.12
- Một hôm, có hai thầy trò nhà nho đi bách bộ vãn cảnh Họ chợt thấy một cô gái
và một con trâu cái đang cày Họ ứng khẩu làm đôi câu thơ:
Nhất ngưu, nhất nữ cộng canh điền Nhất môn hướng hậu, nhất môn tiền
(Tạm dịch: Một trâu, một nữ trên ruộng cày Một cửa hướng sau, một hướng trước Cửa ở đây là “cửa mình.”)
Chẳng dè cô gái chẳng phải tay vừa, ứng lại luôn:
11 Đặng Tiến, Nguyễn Tài Cẩn trên nền Thi Học Việt Nam, T/c Diễn Đàn, số 115 -02/2002
12 Những giai thoại này do ông Nguyễn Quang Quyền, trú tại nhà C3, tập thể Cơ khí Hà Nội, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội cung cấp
Trang 9Nhất sư, nhất đệ vãn canh điền Lưỡng đầu chỉ địa, lưỡng đầu thiên
(Tạm dịch: Một thầy, một trò đi vãn cảnh Hai đầu hướng xuống đất, hai đầu chĩa lên trời Đầu ở đây ám chỉ bộ phận sinh dục nam hướng xuống dưới và hai cái đầu của thầy trò nhà nho hướng lên trời)
- Một cô gái có học ra một vế đối với người yêu và nói rằng nếu chàng đối được thì mới thành vợ chồng, nếu không thì phải chia tay:
Bạch thử xuyên tường hiền địa hiệp
(Tạm dịch: Con chuột trắng muốn đào tường chỉ e đất hẹp quá)
Chàng nho sĩ không đối được xấu hổ quá ngửa mặt lên trời than vãn Chợt thấy chim Hoàng anh bay qua nghĩ ra được vế đối lại:
Hoàng anh hấn dực hận thiên đê
(Tạm dịch: Chim Hoàng anh muốn bay cao nhưng hận trời thấp quá)
Quả là trai tài mà gái cũng tài Về sau họ lấy nhau thành đôi vợ chồng tri kỷ
Qua đó có thể thấy rằng, ngữ cảnh đặc biệt của câu đối chính là điều kiện cần và
câu đối là điều kiện đủ để câu đối hoàn thiện các giá trị văn chương đặc sắc của nó Các
nhà nho, các bậc trí giả trong xã hội Việt Nam xưa đã biết cách sử dụng ngữ cảnh đặc biệt
như một chất liệu ‘bản địa’ để hình thành nên những câu đối mang đặc trưng Việt Nam, tránh sự lệ thuộc vào những niêm luật ngặt nghèo của thơ Đường luật Chính vì vậy mà câu đối trong văn hoá Việt Nam vừa là một thành tố quan trọng trong văn chương của tầng lớp nho sĩ, quan lại và là một thành tố không thể thiếu trong văn hoá của tầng lớp bình dân Đó cũng chính là những giá trị đặc sắc mà câu đối trong văn hoá truyền thống Việt Nam đã tích hợp được để tạo nên những di sản văn hoá vô giá trong kho tàng văn hoá của nhân loại mà chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy
Đ H H Tài liệu trích dẫn:
Đinh Hồng Hải, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hoá truyền thống Việt Nam, Nxb
Tri Thức, Hà Nội 2012
Nguyễn Khôi trong: http://newvietart.com/index4.135.html
Nguyễn Xuân Lý, Nguyễn Tấn Đắc, Đề tài NCKH Di sản Hán Nôm trong các di tích lịch
sử – văn hóa tỉnh Bình Thuận.
Hoàng Phê cb., Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, Hà Nội-Đà
Nẵng 1998
Vũ Quần Phương, theo http://trannhantong.net/ (website của Viện Trần Nhân Tông - Tran Nhan Tong Academy, Đại học Harvard)
Trần Lê Sáng, 3000 hoành phi câu đối Hán Nôm, Nxb văn hóa Thông tin Hà Nội, 2002 Trương Thìn, Mẫu hoành phi, câu đối thường dùng, Nxb Thời đại 2010
Đặng Tiến, Nguyễn Tài Cẩn trên nền Thi Học Việt Nam, T/c Diễn Đàn, số 115 -02/2002,
trong http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nguyen-tai-can-thi-hoc
Wikipedia: http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_%C4%91%E1%BB%91i