Trong mọi giai đoạn cách mạng, CTDV luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là vấn đề sống còn của cách mạng và của Đảng ta. CTDVCQĐ là một bộ phận của CTDV của Đảng, quan hệ hữu cơ với CTDV của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng. CTDVCQĐ nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân; góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiến hành CTDV là thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng, chức năng cơ bản, xuyên suốt của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là nguyên tắc hoạt động của Quân đội theo quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh Thực hiện tốt CTDV, gắn bó máu thịt với nhân dân
đã trở thành truyền thống tốt đẹp, kinh nghiệm quý báu của Quân đội ta trong xây dựng và hoạt động.
Trong mọi giai đoạn cách mạng, CTDV luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là vấn đề sống còn của cách mạng và của Đảng ta CTDVCQĐ là một bộ phận của CTDV của Đảng, quan hệ hữu
cơ với CTDV của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng CTDVCQĐ nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân; góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; đồng thời góp phần vào xây dựng quân đội về mọi mặt, mà trước hết và trực tiếp là xây dựng bản chất cách
mạng cho quân đội.
Bước sang giai đoạn mới, cả nước tập trung thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN, cách mạng nước ta đứng trước những nhiệm vụ to lớn, khó khăn, phức tạp trong một hoàn cảnh có những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau Với điều kiện, hoàn cảnh đó, nhân tố tiên quyết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, động lực chủ yếu để phát triển đất nước là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Đây là chân lý đồng thời là bài học kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Việt Nam mà quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện sâu sắc và khắc hoạ rõ nét, do vậy, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDVCQĐ nói riêng, CTDV của Đảng nói chung để củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng, củng cố nền tảng chính trị của Quân đội là yêu cầu khách quan và vô cùng cần thiết.
Song nâng cao chất lượng, hiệu quả của CTDVCQĐ bằng cách nào? đó là một vấn đề lớn,
khó và phức tạp Trong những năm qua đã có không ít sự tìm tòi nghiên cứu, khảo nghiệm về vấn đề này nhưng kết quả dạt được vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Trang 2Chính thực trạng CTDVCQĐ hiện nay chứng tỏ điều đó Trong khi đó công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu; nhiều vấn đề mới cũng như những khó khăn, thách thức mới tiếp tục nảy sinh cùng với sự biến đổi liên tục, phức tạp của xã hội tác động lớn đến CTDVCQĐ Mặt khác, những biến đổi phức tạp của thế giới cũng tác động ảnh hưởng không nhỏ tới CTDVCQĐ.
Tình hình trên khẳng định phải tiếp tục nghiên cứu vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDVCQĐ Đó là một đòi hỏi bức xúc của thực tiễn Điểm tựa và cơ sở cho việc nghiên cứu, sáng tạo để đổi mới công tác trên là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và thực tiễn sinh động, phong phú hiện nay Trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng là hạt nhân của tư tưởng chỉ đạo cho quá trình nghiên cứu đó Vì vậy nghiên cứu, học tập, làm theo TTDVHCM đang trở thành vấn đề cấp bách Đây là cách tốt nhất để nâng cao chất lượng hiệu quả CTDVCQĐ, tạo ra các phong trào cách mạng sâu rộng và liên tục trong các tầng lớp nhân dân.
Với lẽ trên, đề tài: “Đổi mới CTDV Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiên mang tính vừa
cấp bách thiết thực vừa cơ bản, lâu dài.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong di sản lý luận của các nhà kinh điển cũng như trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề quần chúng nhân dân và vận động quần chúng nhân dân làm cách mạng là nội dung rất cơ bản, xuyên suốt và được đề cập một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống Trong giai đoạn hiện nay, những
quan điểm tư tưởng đó vẫn mang ý nghĩa có tính nguyên tắc đối với sự nghiệp đổi mới của đất
nước, sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội.
Đề cập tới phạm trù nhân dân; CTDV; CTDVCQĐ; TTDVHCM cho đến nay có không ít bài viết và công trình nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và các nhà khoa học Năm 1994, Cục Dân vận - Tuyên truyền đặc biệt (Tổng cục Chính trị) đã nghiên cứu
và bảo vệ thành công đề tài “Đổi mới CTDV của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới” Các tác giả đã từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đi đến khẳng định tính tất yếu phải
đổi mới CTDVCQĐ và đưa ra định hướng cho sự đổi mới đó trong tình hình mới.
Trang 3Tạp chí “Dân vận” thuộc Ban Dân vận trung ương, ra hàng tháng có chuyên mục “Tư tưởng dân vận của chủ tịch Hồ Chí Minh” Chuyên mục này đăng tải những bài viết của các nhà nghiên cứu về tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các góc độ, khía cạnh, nội dung khác nhau.
“Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh” là cuốn sách do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành 1995, gồm 34 báo cáo khoa học của các đồng chí lão thành cách mạng; những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí giữ các cương vị khác nhau của Đảng, Nhà nước, Quân đội, đoàn thể cùng nhiều nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu nhân dịp 45 năm bài báo
“Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời Các tham luận trong hội thảo khoa học đã tập trung làm rõ vai trò, tác động của bài báo, phân tích sâu nội dung và phương thức CTDV dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời liên hệ vận dụng vào thực tiễn CTDV trong sự nghiệp đổi mới.
Cuốn sách “Đổi mới CTDV của Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng” (Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1996) bao gồm các bài viết, bài nói của đồng chí Vũ Oanh về phát huy đường lối đại đoàn kết dân tộc theo tầm cao, chiều sâu mới và những giải pháp để đổi mới CTDV của các chủ thể trên.
Tiến sĩ Đàm Văn Thọ và Tiến sĩ Vũ Hùng viết cuốn sách “Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1997) Trong cuốn sách này các tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống khái niệm “dân” và những quan điểm, thái độ khác nhau về dân trong lịch sử, quá trình hình thành và nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân, về đảng cầm quyền và về mối quan hệ biện chứng giữa dân và Đảng Từ đó nêu thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dân trong thời kỳ mới.
Năm 1999 đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng – “Đẩy mạnh CTDV tham gia xây dựng nền tảng chính trị của QĐNDVN trong giai đoạn cách mạng mới” mang mã số KXB 96-07 đã được nghiệm thu Từ cơ sở lý luận, thực tiễn của mối quan hệ giữa nền tảng chính trị và CTDV; phân tích thực trạng nền tảng chính trị và CTDV, các tác giả đã dự báo tình hình, kiến nghị giải pháp nhằm đẩy mạnh CTDVCQĐ tham gia xây dựng nền tảng chính trị trong giai đoạn mới.
Tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập nghiên cứu trong một phạm vi khá rộng rãi, phong phú và sâu sắc ở các khía cạnh, nội dung khác nhau Tuy nhiên có thể nhận
Trang 4thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề “Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” một cách
có hệ thống, toàn diện và sâu sắc.
Các cụm từ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận”; “TTDVHCM”; “Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “tư tưởng Hồ Chí Minh về CTDV” hiện nay đang được sử dụng trong các bài nói, bài viết, các công trình nghiên cứu Các cụm từ đó có ý nghĩa giống nhau, do vậy trong luận án xin dùng cụm từ "TTDVHCM".
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Nghiên cứu, quán triệt TTDVHCM vào thực tiễn để đề xuất phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ, khẳng định giá trị của TTDVHCM đối với CTDVCQĐ.
- Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu tìm ra những bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn CTDVCQĐ 56 năm qua; đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra đối với CTDVCQĐ hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
CTDVCQĐ nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng còn phạm vi nghiên cứu của đề tài là đổi mới CTDVCQĐ nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh Phạm vi khảo sát thực tế là một số đơn vị, học viện, nhà trường quân đội và một
số địa phương ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam Các số liệu phục vụ cho luận án dược giới hạn chủ yếu từ năm 1990 đến nay.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Trang 5Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà trực tiếp là lý luận về quần chúng và công tác vận động quần chúng, chiến tranh và quân đội
Các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Đảng uỷ Quân sự Trung ương; các chỉ thị của
Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; điều lệnh, điều lệ của Quân đội; tổng kết công tác đảng, công tác chính trị, tổng kết CTDV là những tài liệu quan trọng định hướng cho việc nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp; lịch sử, lôgic; so sánh; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Khái quát một cách cơ bản, tương đối toàn diện, hệ thống TTDVHCM và những quan điểm chủ yếu của Người về CTDVCQĐ; đồng thời làm rõ thêm một số vấn đề về lý luận và thực tiễn CTDVCQĐ.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp cơ bản, đồng bộ, phù hợp để đổi mới CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần đổi mới nhận thức, tư duy về CTDVCQĐ; góp phần thiết thực tìm hiểu và khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kết quả nghiên cứu góp phần đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn là đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả CTDVCQĐ.
Trang 6- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các nội dung liên quan.
7 Kết cấu của luận án
Luận án có 179 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
TƯ TƯỞNG DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH - NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CỦA CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1 Tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh - nội dung cơ bản và giá trị đối với công tác dân vận của Quân đội
TTDVHCM là hệ thống những quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân dân và về
công tác vận động nhân dân đứng lên làm cách mạng, tự giải phóng mình dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
TTDVHCM là sản phẩm của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản và những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quần chúng nhân dân và sự nghiệp vận động quần chúng nhân dân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam TTDVHCM là kết quả của quá trình kế thừa có chọn lọc, phát triển những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử dân tộc và nhân loại, phù hợp với truyền thống, Việt Nam và yêu cầu của thời đại.
TTDVHCM là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng đó không chỉ là sản phẩm của sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà chính nó còn phát triển, làm phong phú thêm lý luận, tăng cường thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác - Lênin.
TTDVHCM nói chung được thể hiện qua 4 nội dung cơ bản, ngoài ra đối với
CTDVCQĐ còn cần phải quán triệt sâu sắc 3 quan điểm chủ yếu của Người.
1.1.1 Những nội dung cơ bản của tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh
Một là, nhân dân là gốc của nước, gốc của cách mạng, nhân dân là chủ.
Thực ra tư tưởng trọng dân, thân dân coi “dân là gốc của nước”, “nước lấy dân làm gốc” đã có từ lâu trong tư tưởng triết học của Khổng Mạnh và trong tư tưởng Việt Nam dưới chế độ phong kiến.
Trang 7Khi đánh giá vai trò của dân, trong Kinh thi (cuốn sách kinh điển của Nho giáo) có viết: “Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên” và “được dân chúng thời được nước, mất dân chúng thời mất nước”.
Khổng Tử, vị thánh nhân của Nho giáo cho rằng: lòng dân là một điều kiện quan trọng nhất trong ba điều kiện cơ bản, thiết yếu đối với nhà cầm quyền để trị nước (lương thực đủ, binh lực đủ và lòng dân đối với mình) Thiếu điều kiện ấy thì nhà nước phải đổ Mạnh Tử quan niệm lợi ích của dân là lý do, điều kiện tồn tại của thiên
tử và chư hầu và khẳng định: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Tuân Tử quan niệm: “Trời sinh ra dân không phải vì vua mà trời lập ra vua để vì dân” Khổng Minh thì nói: “Trước hết lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch” (Trong tác phẩm “Phép dùng binh của ông Tôn Tử” Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu này).
Trong lịch sử Việt Nam cũng có những tư tưởng rất đặc sắc, tiến bộ, về dân, coi dân
là gốc của nước, nước và dân luôn gắn chặt với nhau Từ xưa trong nhân dân đã quan niệm một cách rất phổ biến: “Quan nhất thời dân vạn đại”; “quan sang cũng tại ở làng
mà ra”; “hết quan hoàn dân”; “miệng dân sóng bể”
Lý Công Uẩn trong “Chiếu rời đô” đã viết: “ trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng
dân ” Trần Quốc Tuấn người được nhân dân suy tôn là vị thánh (Đức Thánh Trần)
đã khuyến tấu vua “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước” Tư tưởng của ông đã được chuyển hoá vào đường lối kháng chiến của nhà Trần, là nguyên nhân thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược.
Chu Văn An tấu với vua: “ chính lệnh bệ hạ có thể thay được, quan hại bệ hạ có thể thay được, nhưng dân thì không thay được Muốn hưng vận nước trước hết phải hưng sức dân Muốn hưng binh, trước hết phải hưng sức dân ” Hồ Nguyên Trừng thì khẳng định: “Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi” Nguyễn Trãi
đã ví dân như nước còn triều đại phong kiến như thuyền Trong quan hệ đó, dân giữ vai trò số một “chở thuyền là dân, mà lật thuyền cũng là dân”.
Nhìn chung trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, mỗi triều đại phong kiến đang lên, hưng thịnh đều có quan điểm về dân và mối quan hệ với dân tiến bộ: coi lòng dân
là ý trời và chú trọng lấy lòng dân, giữ lòng dân để giữ nước và trị nước Thực tiễn lịch sử cho thấy đó là điều kiện căn bản để đất nước được thái bình, hưng thịnh.
Trang 8Nhưng dù sao những tư tưởng tiến bộ trên cũng bị chi phối , ràng buộc bởi quan điểm và quyền lợi giai cấp phong kiến nên còn nhiều hạn chế mang tính lịch sử Khổng Tử quan niệm “dân” không bao gồm những người cùng khổ trong xã hội; Mạnh Tử quan niệm về dân không gồm nông nô mà chủ yếu là chỉ hạng địa chủ, thương nhân và trí thức Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy: qua các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh dân tộc, nông dân cũng có giành được những quyền lợi dân sinh và dân chủ nhất định Nhưng những quyền lợi đó vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, trong chính sách “khoan thư sức dân” của giai cấp phong kiến đang có vai trò tích cực lúc bấy giờ Đó là những quan điểm hạn hẹp về dân Mặt khác, khi thấy được vai trò to lớn của nhân dân trong lịch sử thì cũng xem đó là công cụ, phương tiện để giai cấp thống trị, nhà cầm quyền thực hiện mục đích của mình, chứ hoàn toàn không cho dân là mục đích, đối tượng phục vụ Sức mạnh của nhân dân là vô cùng to lớn nhưng sức mạnh đó chỉ “đáng sợ” chứ không
“đáng tôn”; chỉ là sức mạnh mù quáng do bản năng sai khiến, ngẫu động, cuồng bạo,
dễ bị lôi cuốn, kích động lợi dụng và dễ bị đánh lừa Những hạn chế ấy là tất yếu của
Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời thì quan niệm về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân mới trở nên đúng đắn, đầy đủ, khoa học và cách mạng Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm quần chúng nhân dân bao gồm rộng rãi các tầng lớp nhân dân chẳng những là đa số công nhân mà còn tất cả những người bị bóc lột Khái niệm quần chúng nhân dân trong chủ nghĩa Mác - Lênin có bao hàm tính giai cấp rõ nét, Lênin đã lưu ý đến vấn đề đó: “Khi dùng danh từ “nhân dân”, Mác không thông qua danh từ ấy xoá mờ mất sự khác biệt về giai cấp: Mác đã gộp vào danh từ ấy những thành phần nhất định, có khả năng làm cách mạng đến cùng” [63, 159].
Về vai trò của quần chúng, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nhất quán quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Trang 9Các nhà kinh điển còn cho rằng xã hội loài người càng phát triển thì vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân càng to lớn, đặc biệt là trong cách mạng XHCN vai trò, sức mạnh đó mang tính tự giác cao Lênin đã viết: “Không có sự đồng tình và ủng
hộ của đại da số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được” [65, 251] và “chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được khi quần chúng đông đảo gấp 10, gấp 100 trước tự bắt tay vào việc xây dựng nhà nước và một đời sống kinh tế mới” [64, 523] Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn xem xét vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong lịch sử không tách rời vai trò cá nhân lãnh tụ Mặt khác, trong cách mạng vô sản quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng, chủ thể mà còn là mục đích phục vụ, đối tượng cần được giải phóng.
Sự ra đời của quan niệm về nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin là một cuộc cách mạng thực sự về thế giới quan và nhân sinh quan trong lĩnh vực đời sống xã hội Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử là chân
lý khách quan, song trải qua mấy ngàn năm nó mới được phát hiện và nêu lên trong
chủ nghĩa Mác một cách chính xác Tư tưởng về dân của Hồ Chí Minh là kết quả của
sự kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tốt đẹp, tiến bộ trong lịch sử dân tộc và nhân loại; đồng thời là kết quả của sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh Việt Nam trong thời đại mới Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được thể hiện trên những nội dung chính yếu sau đây:
* Nhân dân là gốc của nước, gốc của cách mạng
Không chỉ trân trọng, nhận thức sâu sắc mà Hồ Chí Minh còn phát triển làm phong phú thêm tư tưởng “dân là gốc của nước”, “nước lấy dân làm gốc” của Nho giáo và dân tộc ta bằng thế giới quan khoa học Mác - Lênin, trên lập trường vô sản.
Đối với Hồ Chí Minh, dân là quý nhất, là mạnh nhất và là nền tảng của nước Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [93, 276] Chính nhân dân là người làm ra mọi giá trị vật chất và tinh thần làm cho xã hội tồn tại và phát triển; chính nhân dân là nguồn gốc, lực lượng cho mọi biến đổi của xã hội kể cả những biến đổi có tính cách mạng và có ý nghĩa lịch sử Hồ Chí Minh quan niệm một cách nhất quán rằng lẽ trường tồn của quốc gia dân tộc nằm ngay ở trong lòng nhân dân mà
Trang 10không tìm thấy ở bất cứ nơi đâu cả Người đã viết: “Nước lấy dân làm gốc”; “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [86, 409 - 410] Do đó không
có gì vẻ vang bằng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Hơn nữa, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là “gốc” của nước mà còn là “gốc” của cách mạng Điều này Người đã khẳng định ngay từ khi mới đến với chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc ” [77 280] Công nông là gốc của cách mạng theo Hồ Chí Minh vì họ là những người bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, “Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh” Họ là đại đa số trong dân cư, từ địa vị của mình, họ không có gì để mất trong đấu tranh cách mạng ngoài “cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới” [77, 266].
Vai trò gốc của cách mạng thể hiện ở chỗ chính nhân dân chứ không phải là ai khác
là lực lượng vô địch, là động lực, là lực lượng không thể thay thế của cách mạng Do
đó Người coi “sức dân chúng làm nền” cho cách mạng Nhân dân còn là mục đích cao nhất, duy nhất của cách mạng vô sản Quan niệm trên khác hẳn về chất, về nguyên tắc
so với các quan niệm trước kia được coi là tiến bộ Từ đó dẫn đến sự khác nhau về nguyên tắc trong khi đề ra các chính sách đối với quốc gia và theo đuổi đường lối đối nội, đối ngoại.
Nhân dân là gốc của cách mạng còn có ý nghĩa: Chính nhân dân là nền tảng, là lực lượng của Đảng Người viết: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” [83, 286] và “Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được gì hết Rời xa dân chúng là cô độc Cô độc thì nhất định thất bại” [83, 238] Nhân dân không chỉ là lực lượng quan trọng hàng đầu trong thực hiện đường lối, nhiệm vụ cách mạng mà còn có vai trò rất quan trọng đóng góp xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như xây dựng Đảng, Nhà nước, Quân đội, các đoàn thể cách mạng.
Như vậy, không có mối liên hệ mật thiết với nhân dân thì Đảng sẽ không còn tồn tại
và phát triển Nhưng không có Đảng cách mạng chân chính thì nhân dân không thể làm cách mạng thành công để tự giải phóng mình, làm chủ vận mệnh của mình Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh” và Đảng là người
“cầm lái” con thuyền cách mạng còn cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
Trang 11dân Người xác định rõ vấn đề trên: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin” [96, 197].
Từ đó Người có lòng tin mãnh liệt vào nhân dân và khẳng định nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, không ỷ lại, không chờ đợi ở cách mạng chính quốc.
Vận dụng những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu trình độ phát triển dân trí còn rất thấp, nhưng Hồ Chí Minh vẫn thấy được và đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân, của các
tầng lớp nhân dân Đó là một sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo vô cùng đặc sắc, có ý
nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò của nhân dân trong cách mạng vô sản được tự
ý thức và sức mạnh vô tận của nhân dân là sức mạnh tự giác Theo Hồ Chí Minh, vai trò và sức mạnh của nhân dân trong mọi giai đoạn lịch sử chỉ là hiện thực khi có sự đoàn kết và có lãnh đạo Chính vì vậy Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn
kết Đoàn kết đã là một tư tưởng chiến lược của Người, là “hòn đá tảng” đối với
CTDV, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
* Không chỉ là gốc của nước, gốc của cách mạng mà nhân dân còn là chủ.
Khi cách mạng thành công, chế độ xã hội mới được thành lập nhân dân là chủ của Nhà nước, đất nước, xã hội, làm chủ vận mệnh của chính mình Đó là địa vị mà lần đầu tiên trong lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, lâu dài nhân dân mới có được.
“Dân là chủ” theo Hồ Chí Minh do cơ sở chính trị, xã hội quy định, chứ không phải là lời hô hào, mỵ dân chung chung Về vấn đề này, Người khẳng định một cách rất mạch lạc: “Nước ta là nước dân chủ nghĩa là nhân dân là chủ” Người cũng xác định: “dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân”, vì có dân chủ mà:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân ” [87, 698].
Trang 12Như vậy, dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: tất cả quyền hành, quyền hạn đều thuộc về nhân dân Chính phủ, chính quyền các cấp là do dân cử ra, sử dụng quyền để quản lý đất nước, điều hành hoạt động xã hội cũng chính đó là quyền của nhân dân giao cho Nhân dân là chủ còn Chính phủ và chính quyền các cấp là đầy tớ, công bộc của nhân dân Hồ Chí Minh cho rằng:
“Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì làm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” [80, 22] thậm chí “nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”.
Từ quan niệm bản chất chế độ và địa vị “là chủ” của nhân dân trong chế độ ta mà Hồ Chí
Minh xác định nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân Đây là một tư tưởng độc đáo trong quan niệm về vai trò của dân và về nhà nước cách mạng, kiểu mới ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh quan niệm dân là chủ, dân có quyền cao nhất nhưng nhân dân cũng có trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước, đối với cách mạng và đối với bản thân mình Đó cũng chính
là nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của người chủ Người viết : “Công việc đổi mới, xây dựng
là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân” [87, 698].
Phải nói rằng dân chủ là tư tưởng mới mẻ so với tư tưởng Nho giáo và tư tưởng truyền thống của dân tộc; một nội dung cất lõi trong tư tưởng về dân của Hồ Chí Minh Quan niệm “bao nhiêu quyền hạn đều của dân quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; Đảng “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân cho dân” chỉ mới có ở Hồ Chí Minh.
* Phạm trù “nhân dân” có nội hàm rộng rãi song vẫn giữ tính giai cấp.
Không thể không nói đến quan niệm của Hồ Chí Minh về nội hàm của phạm trù “nhân dân”
khi nói đến tư tưởng về dân của Người Trên lập trường của giai cấp công nhân, kế thừa những
tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin về phạm trù “nhân dân”, đồng thời nhận thức sâu sắc đặc điểm, truyền thống yêu nước, sự gắn bó cộng đồng và tinh thần cách mạng của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã mở rộng, phát triển, làm phong phú hơn nội hàm của phạm trù nhân dân phù hợp với đặc điểm của dân tộc, điều kiện của thời đại.
Theo Hồ Chí Minh, nội hàm phạm trù nhân dân bao gồm tất cả những người có tinh thần yêu nước thương nòi trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc,
Trang 13tôn giáo, giai cấp, tầng lớp trừ bọn đại địa chủ, tư sản mại bản, việt gian bán nước, bọn phản cách mạng đi ngược lại lợi ích dân tộc.
Mặt khác, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: Công nông là lực lượng nòng cốt cho khối đoàn kết toàn dân và giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng là công nhân.
Khi mở rộng nội hàm phạm trù nhân dân, Hồ Chí Minh vẫn trung thành với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững tính giai cấp, tính cách mạng nhưng cũng rất khoa học trên quan điểm thực tiễn Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân mang đậm dấu ấn đại đoàn kết dân tộc nhưng không rơi vào thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Đây là cơ sở tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trong mọi thời kỳ cách mạng Nhờ đó mà Hồ Chí Minh và Đảng ta
đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ dân tộc và giai cấp; độc lập dân tộc, dân chủ và
CNXH trong quá trình cách mạng Việt Nam Đây là một điểm sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nó ngày càng sáng rõ.
Hai là, dân vận là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và cách mạng
Thấm nhuần các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức sâu sắc vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, từ rất sớm Hồ Chí Minh đã xác định vận động quần chúng là một trong những việc quan trọng đầu tiên của Đảng Năm 1923, trong thư gửi các bạn Pháp, Nguyễn
Ái Quốc viết: “Muốn thực hiện được lý tưởng giải phóng đồng bào, giành độc lập cho Tổ quốc, phải đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập” [130, 49] Sau đó, năm 1927 trong tác phẩm “Đường cách mệnh” nổi tiếng Người lại khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì ? trước hết phải có dùng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi” [77, 267-268] Ngay sau khi Đảng mới ra đời, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác vận động quần chúng, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng và công tác vận động quần chúng để tích cực vận động các tầng lớp nhân dân đứng lên làm cách mạng Vì Người cho rằng: “cách mạng nước phải làm cho dân giác ngộ” [77, 267].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc dân vận được xác định là tất yếu khách quan và vô cùng quan trọng trong mọi thời kỳ cách mạng khi chưa có chính quyền cũng như khi đã giành được
Trang 14chính quyền, trong điều kiện chiến tranh cũng như hoà bình Vì Người quan niệm sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, vì độc lập tự do, vì CNXH đặt ra yêu cầu khách quan và tạo ra khả năng to lớn cho CTDV Đã có lần Người viết: “lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận Những lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi Đồng thời Đảng phải đi sát quần chúng, khéo tổ chức và lãnh dạo quần chúng, thì cách mạng mới thành công” [94, 290].
Theo nghĩa chung nhất thì dân vận là tuyên truyền, vận động nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu nhất định Nhìn chung các giai cấp khi làm cách mạng hay khi đã cầm quyền đều muốn lấy lòng, được lòng dân chúng Vì vậy, các tổ chức chính trị, các nhà nước dưới các chế độ khác nhau đến quan tâm đến dân vận Tuy nhiên vấn đề là việc lấy lòng dân chúng vì lợi ích của ai, trên cơ sở nào và bằng cách nào Nói cách khác việc dân vận ở các chế độ xã hội khác nhau thì khác nhau về bản chất Trong chế độ dân chủ dân vận trở thành một thuộc tính và dân vận là vì dân Nó khác hẳn việc dân vận ở chế độ có bóc lột, áp bức và ngày càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành “ráo riết”, rộng khắp.
Hồ Chí Minh quan niệm: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không
để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc mà Chính phủ và Đoàn thể giao cho” [87, 698] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh dân vận là một bộ phận của hoạt động vận động cách mạng của Đảng mà đối tượng tuyên truyền, vận động là: từ mỗi người dân đến mọi người dân nhằm xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng Nói cách khác, CTDV là một khâu trong chu trình lãnh đạo của Đảng, là một hoạt động rất quan trọng để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Điều đó nói lên vị trí, tầm quan trọng của CTDV CTDV có tầm
quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược vì nó giải quyết ba vấn đề cơ bản Thứ nhất, xây dựng
lực lượng cách mạng: bằng CTDV làm cho quần chúng nhân dân hiểu, giác ngộ sức mạnh to lớn, lợi ích chân chính, địa vị chủ thể của mình trong cách mạng; giác ngộ con đường cách mạng, đoàn kết đứng lên tranh đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Nghĩa là CTDV góp phần quan trọng làm cho lực lượng vô tận, sức mạnh vô địch của nhân dân từ dạng tiềm năng trở thành hiện thực
để “không súng ống nào, quân lính nào thắng nổi” Thứ hai, dân vận là để thực hiện mục tiêu
Trang 15cách mạng (cả trước mắt và lâu dài) thông qua thực hiện “những việc mà chính phủ và đoàn thể
giao cho”.Thứ ba, dân vận là để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và đoàn thể cách
mạng Thật vậy, trong điều kiện nước ta CTDV là một bộ phận của công tác quần chúng của các
tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị Riêng đối với Đảng ta, CTDV là một mặt rất quan trọng để tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; quan hệ biện chứng với công tác xây dựng Đảng Dân vận tốt sẽ thiết thực góp phần xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân - nền tảng, nguồn gốc sức mạnh của Đảng; xây dựng, củng cố các đoàn thể cách mạng.
Trong suốt quá trình cùng với Đảng lãnh đạo cách mạng, trên cương vị cao nhất của Đảng và Chính phủ, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến CTDV Người xem đây không phải là việc làm, biện pháp nhất thời mà là nhiệm vụ chiến lược của Đảng, của cách mạng Người đã khẳng định: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [87, 700].
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, tầm quan trọng của CTDV đã được Đảng ta thấu triệt và thực hiện trong suốt 7 thập kỷ qua Tư tưởng đó đã trở thành đường lối, quan điểm, tư tưởng, tác phong lãnh đạo của Đảng, trở thành nhiệm vụ của mỗi tổ chức Đảng, đảng viên Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V đã viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy ở thời kỳ nào công tác vận động quần chúng làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiến lược” Hơn thế nữa, “Trong cách mạng XHCN tầm quan trọng của công tác quần chúng chẳng những không giảm bớt mà còn tăng thêm” [25, 118] Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ dân vận trong điều kiện Đảng cầm quyền, trong công cuộc đổi mới đất nước mang
ý nghĩa cách mạng.
Ba là, dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Khi nói về trách nhiệm đối với việc dân vận, Hồ Chí Minh viết : “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh,
v.v ) đều phải phụ trách dân vận” [87, 699] Vấn đề này được Người khẳng định vào tháng
10-1949, khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra hoạt động công khai do đó Người không dùng từ
“Đảng” mà thay bằng “Đoàn thể” Như thế trách nhiệm đối với CTDV đã rõ ràng, nó không phải
Trang 16của riêng ai, hơn nữa càng không phải chỉ thuộc về Đảng, tổ chức quần chúng Nói cách khác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong hệ thống chính trị.
Khi có chính quyền Hồ Chí Minh còn đặt trách nhiệm của tổ chức chính quyền (từ Trung ương xuống cơ sở) lên trước hết và trên hết Điều đó nói lên cả vai trò và trách nhiệm của chính quyền đối với CTDV là rất lớn và rất quan trọng Thật vậy, Chính phủ vào năm 1949 đại diện cho sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Mọi hoạt động của xã hội đều do Chính phủ điều hành
do đó vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ đối với đất nước là rất lớn Mặt khác, chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng Khi giành được chính quyền tất phải xây dựng nên một chế độ dân chủ nhân dân Chế độ dân chủ nhân dân vừa là tiền đề, vừa là mục tiêu của CTDV Hơn nữa để xây dựng, củng cố, giữ vững chính quyền; xây dựng Nhà nước kiểu mới thì biện pháp cơ bản là dựa hẳn vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thường xuyên giữ vững
mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước các cấp với nhân dân Có thể khẳng định dân vận theo Hồ
Chí Minh là thuộc tính của chế độ, của Nhà nước dân chủ của chúng ta.
Dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng Hồ Chí Minh không quan niệm trách nhiệm đó một cách chung chung mà trái lại rất rõ ràng, cụ thể Người nhắc nhở: “Phải cùng nhau
bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động
dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức phân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn” [88, 699].
CTDV của mỗi tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị có đối tượng yêu cầu, phương thức, nội dung cụ thể không giống nhau nhưng đều là một bộ phận của CTDV của Đảng, hướng vào thực hiện mục đích CTDV của Đảng Do đó trách nhiệm của các chủ thể trong hệ thống chính trị đối với CTDV là cơ bản, lâu dài chứ không phải chỉ nhất thời trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh nhất định.
Bốn là, dân vận là công tác có tính khoa học, nghệ thuật.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vận là một bộ phận, một nội dung rất quan trọng của công tác vận động cách mạng của Đảng, Do đó dân vận là một công tác mang tính khoa học nghệ thuật cao.
Trang 17Trước kia Lênin đã từng khẳng định: “Đảng cộng sản nếu muốn thật sự trở thành đội tiên
phong, đơn vị tiên tiến của giai cấp cách mạng, tức giai cấp vô sản, và ngoài ra nếu còn muốn học cách lãnh đạo những quảng đại quần chúng vô sản và cả quần chúng không vô sản, tức quần
chúng lao động và bị bóc lột nữa thì phải biết cách làm công tác tuyên truyền, tổ chức, cổ động sao cho dễ tiếp thụ nhất, dễ hiểu nhất; rõ ràng nhất và sinh động nhất cả đối với các “phố” thợ thuyền, nhà máy lẫn đối với các vùng nông thôn” [66, 117] Trên thực tế Lênin là một người tuyên truyền cổ động vĩ đại nhất của giai cấp vô sản Người đã thu phục được hàng triệu, hàng triệu trái tim khối óc đi theo cách mạng vô sản; hướng về CNXH Khâm phục, học tập Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Với phương pháp khéo léo của mình, Lênin đã lay chuyển được quần chúng
nhân dân chưa giác ngộ và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa” [76, 137].
Hồ Chí Minh dùng các cụm từ gắn với CTDV như: “dân vận khéo”; “biết cách”; “khéo léo”;
“có sáng kiến” Có nghĩa là CTDV, về kết quả thì tốt, về cách làm thì đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, tinh tế, có khả năng thu phục lòng người thuộc các giai cấp, tầng lớp, trong các hoàn cảnh khác nhau Nói cách khác, dân vận khéo là dân vận phải có tính khoa học và nghệ thuật.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vận chẳng những là công tác cách mạng, mang tính khoa học mà còn là một nghệ thuật ứng xử với con người Tính khoa học của CTDV là biểu hiện sự phù hợp giữa CTDV với tính tất yếu khách quan của sự phát triển của xã hội, với lợi ích căn bản
và tâm tư nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; thể hiện trước hết ở chỗ nó luôn tiến hành phù hợp với quy luật và yêu cầu khách quan, với cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, với phương pháp, tác phong đúng đắn, phù hợp Điều đó đòi hỏi khi thực hiện CTDV phải trên cơ sở khoa học, trên nền tảng của cuộc sống mà xác định nội dung, lựa chọn hình thức, biện pháp phù hợp không được tiến hành CTDV một cách tuỳ tiện, chủ quan, thiếu căn cứ, thiếu cơ sở.
Tính nghệ thuật của CTDV là biểu hiện khả năng, mức độ khéo léo, chuẩn xác trong vận dụng kiến thức, kinh nghiệm vào thực tiễn CTDV Nó đòi hỏi phải hiểu sâu sắc đối tượng, phải có tri thức và kinh nghiệm cũng như kỹ năng, kỹ xảo trong tiếp cận, tuyên truyền vận động nhân dân
và xử lý các mối quan hệ trong cuộc sống.
Tính khoa học, nghệ thuật của CTDV trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện ở mọi nội dung, mọi khâu của công tác này, nhất là trong hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân.
Trang 18Hồ Chí Minh dạy: “Dân vận phải thế nào? Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ phải thật thà nhúng
tay vào việc” [87, 699] Như vậy, tính khoa học nghệ thuật của CTDV trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là thứ gì cao siêu, trừu tượng mà nó được thể hiện qua hành động cụ thể và tác phong công tác hàng ngày Nó hoàn toàn đối lập với tác phong quan liêu, bàn giấy, thói ích kỷ hẹp hòi Vì rằng dân vận của Đảng ta là vì dân Qua lời dạy trên ta thấy rằng để dân vận phải có thái độ đúng mực, biết nghe dân để tuyên truyền vận động họ; phải sâu sát thực tiễn, đi xuống cơ
sở, đi vào quần chúng; phải gương mẫu trước nhân dân để vận động nhân dân.
Dân vận theo Hồ Chí Minh phải có quy trình đúng đắn Đó là: làm cho dân hiểu để dân làm; phải bàn tính việc thiết thực kỹ càng; phải tổ chức phân công theo dõi; phải kiểm tra, rút kinh nghiệm, học hỏi; phải phê bình, khen thưởng, động viên Như vậy, người làm dân vận phải có trình độ, năng lực, uy tín thực sự mới thuyết phục, vận động được nhân dân.
Dân vận là công tác đối với mỗi con người, đối với từng cộng đồng người, đối với mọi người dân với muôn hình muôn vẻ về hoàn cảnh, nhu cầu lợi ích khác nhau cho nên rất khó khăn, phức
tạp Do vậy: “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, xiêng làm” [82, 163].
“Phải biết chịu kham khổ Phải biết nhẫn nại Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần về đức tính này phải học những người đi truyền giáo” [79, 64] Tính khoa học, nghệ thuật của CTDV còn được thể hiện ở cả trong lời nói và thái độ như Hồ
Chí Minh đã dạy: “ phải biết cách nói Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực Phải có đầu,
có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được Chớ dùng những danh từ lạ, ít người hiểu ” [82, 162] Phải “khiêm tốn, mềm mỏng” trong tiếp xúc với nhân dân và làm CTDV.
Tính khoa học, nghệ thuật của CTDV không thoát ly mà thấm đượm lòng yêu thương con người, thái độ kính trọng nhân dân sâu sắc, Người đã căn dặn chúng ta phải có lòng khoan dung,
độ lượng vĩ đại để cảm hoá con người, cũng như bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, ở đời cũng có người thế này thế khác Nhưng dù thế này thế khác cũng đều là dòng dõi tổ tiên ta Đó là sự kết
hợp giữa lý trí - nghệ thuật và tình cảm cách mạng Cơ sở của sự thống nhất đó là sự thống nhất
về lợi ích giữa chủ thể và đối tượng của CTDV; là bản chất vì dân của CTDV của Đảng Nếu không có được điều đó thì cái “khéo” của CTDV sẽ là mỵ dân, lừa phỉnh Dân vận “khéo” là
Trang 19phải đạt đến trình độ sao cho nhân dân không có ý thức mặc cảm rằng mình là đối tượng “bị” tuyên truyền, vận động Đó là nghệ thuật, là khoa học “được lòng dân” để “được dân”.
TTDVHCM là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người Tư tưởng ấy chứa đựng tính khoa học sâu sắc, tính cách mạng triệt để, tình nhân văn cao cả Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, qua thực tiễn cách mạng vô cùng phong phú Đảng ta đã trở thành một Đảng giỏi về dân vận và có kinh nghiệm dân vận trong các điều kiện khác nhau Bên cạnh việc xác định những quan điểm đúng đắn, chính xác, Đảng ta còn sáng tạo ra những phương thức, cách làm rất
“khéo”, để góp phần đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
1.1.2 Một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về công tác dân vận của Quân đội
Đối với Quân đội ta, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm rất cơ bản và sâu sắc có ý nghĩa rất quan trọng trong định hướng CTDVCQĐ Dưới đây là những quan điểm đó.
Một là, Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ.
Đây là quan điểm rất cơ bản, đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và Quân đội nhân dân Nó quán xuyến suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, Quân đội ta sinh ra từ phong trào cách mạng của quần chúng đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc Ngay từ khi thành lập, Quân đội ta đã được Đảng và Hồ Chí Minh xác định là quân đội nhân dân Đó là một quyết định hết sức đúng đắn, hệ trọng đối với Quân đội ta và đối với cách mạng Việt Nam.
“Quân đội nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không giống như quan niệm ở những nước
tư bản Quân đội nhân dân theo Hồ Chí Minh là một đội quân ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân, do nhu cầu khách quan của phong trào đó; phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhằm bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng; làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc giải phóng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; tham gia quân đội là những người ưu tú từ các tầng
lớp nhân dân, có mục tiêu chiến đấu vì nhân dân.
Vì nhân dân phục vụ, vì nhân dân quên mình là tiêu chuẩn cơ bản, là hòn đá thử vàng của quân đội nhân dân, là biểu hiện xuất phát từ bản chất của Quân đội ta Hồ Chí Minh dạy: “Quân
Trang 20đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân cho nên hy sinh kham khổ” [88, 722] Và “Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu bộ đội Trong 8, 9 năm kháng chiến; quân đội ta ăn gió nằm sương, xông pha bom đạn, hy sinh xương máu vì nước, vì dân.
Hoà bình trở lại, quân đội ta giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ tài sản công cộng và tính mệnh tài sản của nhân dân, làm cột trụ giữ gìn hoà bình, bảo vệ Tổ quốc” [92, 383].
Quân đội nhân dân theo Hồ Chí Minh là quân đội chỉ vì lợi ích của nhân dân, Tổ quốc Người
khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân Đánh
giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân Ngoài lợi ích của nhân dân Quân đội ta không có lợi ích nào khác” [90, 426].
“Vì nhân dân”, theo Hồ Chí Minh được hiểu tựu chung, sâu sắc ở chữ “hiếu” với dân Chữ
“hiếu” mà người dòng cho Quân đội có nguồn gốc từ Nho học nhưng đã được nâng lên một tầm cao mới với tính cách mạng và nhân văn cao cả Hiếu với dân không chỉ là một lòng một dạ phục
vụ nhân dân, không sợ gian lao khổ hạnh, hiểm nguy mà còn cao hơn thế nữa là phải kính trọng dân Do vậy Người dạy “Phải kính trọng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, đoàn kết với nhân dân”.
Đối với Quân đội ta, theo Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là nền tảng sức mạnh của Quân đội Nhân dân cung cấp mọi thứ cho quân đội: từ nhân - tài - vật lực đến hun đúc sức mạnh tinh thần cho Quân đội Nhân dân không chỉ là người mẹ hiền mà còn
là người thầy vĩ đại của Quân đội - nhân dân nuôi dưỡng, chở che, bảo vệ, dạy dỗ Quân đội với một tình cảm bao la Quân đội là con em của nhân dân, là bộ phận không thể tách rời của nhân dân Vì một lẽ giản đơn: chính nhân dân là chủ thể của các cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng
và bảo vệ Tổ quốc, còn Quân đội là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
“Quân đội nhân dân”, theo Hồ Chí Minh không chỉ là phục vụ nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh mà còn bao hàm cả nghĩa: phải biết dựa vào dân; biết làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; biết phát huy sức mạnh của toàn dân; phải căn cứ vào “sức dân” (cả về vật chất và tinh thần) mà phát triển và xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trang 21Bản chất giai cấp là vấn đề cơ bản của mỗi quân đội Song với Hồ Chí Minh, cùng với việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta, Người luôn rất quan tâm xây dựng tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc cho Quân đội ta Trong tư tưởng của Người bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau tạo nên bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta Điều kiện căn bản cho sự thống nhất đó là: Quân
đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội đã kiểm nghiệm và làm sáng tỏ, sâu sắc thêm quan điểm trên của Hồ Chí Minh Quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân Lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc Việt Nam có được Quân đội của chính mình - một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ.
Hai là, dân vận là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là chức năng cơ bản của Quân đội nhân
dân Việt Nam.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn, chính xác chức năng, nhiệm vụ cho Quân đội ta Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức và lãnh đạo nó Bản chất giai cấp của quân đội quyết định hệ tư tưởng, mục tiêu chiến đấu, chức năng của nó.
Từ cuối năm 1941, khi trực tiếp xây dựng đội du kích thoát ly Hồ Chí Minh đã đưa ra 6 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc xác định chức năng, “đội quân công tác” cho lực lượng vũ trang cách mạng Nguyên tắc 4 - vừa là đội quân chiến đấu, vừa là một quân đội công tác; nguyên tắc 6 - chiến đấu để tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta nhưng không thay thế công tác quần chúng được.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944 Quân đội ta được tuyên bố thành lập, Hồ Chí Minh xác định rõ:
“Tên đội VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự Nó là đội tuyên truyền vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân ” [78, 507] Như vậy, mới thành lập, Quân đội ta
đã có chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân Điều đó nói lên đặc thù của Quân
Trang 22đội nhân dân Việt Nam: Quân đội là một đội quân chính trị, lực lượng chính trị của Đảng chứ không chỉ là công cụ bạo lực của Nhà nước.
Trong bài báo “Dân vận” (15-10-1949) Người đã xác định dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng và Nhà nước, Quân đội ta tất yếu phải “phụ trách dân vận”, như vậy dân vận là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của quân đội và CTDVCQĐ là một bộ phận của CTDV của Đảng.
Đảng ta và Hồ Chí Minh xác định một cách nhất quán Quân đội ta có ba chức năng: đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất Người thường xuyên quan tâm đến chức năng đội quân công tác của Quân đội và xác định dân vận là nhiệm vụ chính trị thường xuyên không chỉ của Quân đội mà còn của cả lực lượng vũ
trang nói chung Người căn dặn: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích
không nên chỉ biết đánh Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính
trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không tách rời được với chính trị và kinh tế” [91, 523].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng chính trị tin cậy, đắc lực của Đảng và Nhà nước Dân vận là nhiệm vụ chính trị, chức năng
cơ bản của Quân đội ta; cùng với việc thực hiện hai chức năng khác, thể hiện bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Quân đội ta.
Ba là, Mỗi quân nhân là một cán bộ dân vận giỏi.
Tiến hành CTDV là chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, do vậy đó cũng là trách nhiệm chính trị của mọi tổ chức, quân nhân trong Quân đội Để hoàn thành trách nhiệm đó, theo Hồ Chí Minh, mỗi quân nhân phải là một cán bộ dân vận giỏi.
Trong thư gửi CB, CS Khu 2 và Khu 3 ngày 24 tháng 2 năm 1948, Người căn dặn
bộ đội: “anh em phải nhớ rằng: mỗi người trong bộ đội phải là một người tuyên truyền Vì vậy, bộ đội cần phải ra sức giúp đồng bào trong công việc bình dân học vụ cũng như trong những công việc khác” [84, 379-380] Vì theo Người, là chiến sĩ cách mạng, các quân nhân không những phải có giác ngộ cách mạng mà còn phải có trách nhiệm và khả năng tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng cho nhân dân Hồ Chí Minh viết: “Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước” [81, 103].
Trang 23Muốn là một cán bộ dân vận giỏi phải qua học hỏi, phải được huấn luyện, giáo dục.
Bộ đội phải học ở nhân dân, học hỏi lẫn nhau, học ngay trong thực tiễn CTDV và các công tác khác Cấp trên phải dạy cho cấp dưới; cán bộ phải dạy cho chiến sĩ làm CTDV Đối với cán bộ không những phải biết vận động quần chúng trong Quân đội
mà còn phải biết dân vận tốt; hơn thế nữa phải biết dậy cho cấp dưới biết cách dân vận Hồ Chí Minh dạy: “cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên phải dạy cho đội viên biết cách dân vận Cái gì cũng phải nhờ dân Không có dân thì không có bộ đội Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế Tuyên truyền phải miệng nói tay làm không chỉ dân vận bằng diễn thuyết Muốn vậy cán bộ phải làm gương mẫu” [89, 320] Như vậy, đối với chiến sĩ, dân vận chủ yếu bằng “công việc thực tế”.
Riêng cán bộ chính trị, theo Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm cụ thể, trực tiếp hơn đối với CTDV của đơn vị: “Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu Muốn như thế, thì phải
đốc thúc bộ đội, siêng giúp dân, hăng hái đánh giặc” [85, 393].
Trong hai cuộc kháng chiến, CB, CS Quân đội ta đã xứng đáng là những cán bộ dân vận giỏi, đã có ý thức thường xuyên về CTDV; đã tỏ ra có kinh nghiệm trong hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân không những đối với dân tộc kinh mà cả đối với dân tộc ít người; không chỉ ở những điều kiện thuận lợi mà cả ở những điều kiện khó khăn như vùng địch hậu, vùng giáp ranh; nơi có nhiều phức tạp về mặt xã hội
Có thể khẳng định, TTDVHCM là một tư tưởng có giá trị rất lớn và sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam Đó là một tư tưởng đầy đủ và toàn diện về sự nghiệp vận
động quần chúng nhân dân của Đảng Cộng sản từ trong điều kiện Đảng chưa lãnh đạo chính quyền đến điều kiện Đảng cầm quyền; là khoa học, nghệ thuật vận động cách mạng TTDVHCM là một hệ thống tri thức từ quan điểm tư tưởng đến phương thức,
kỹ năng nghiệp vụ của CTDV mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị Thực tiễn CTDV của Đảng, CTDVCQĐ đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo, sức sống trường tồn cũng như tính phổ quát của tư tưởng đó TTDVHCM không chỉ có giá trị đối với cách mạng Việt Nam, không chỉ giá trị đối với CTDV và càng không phải chỉ đúng trong thực tiễn quá khứ.
Trang 24Nhiều năm tháng trôi qua nhưng TTDVHCM, một tư tưởng nhân văn vĩ đại, hiện đại và sâu sắc vẫn là ngọn đèn pha soi sáng, dẫn dắt Đảng và hệ thống chính trị cũng như Quân đội ta trong
sự nghiệp dân vận nói riêng trong thực tiễn cách mạng nói chung Đối với CMVCQĐ, TTDVHCM đã trở thành phương châm, nguyên tắc trong suốt thời kỳ chiến tranh Quân đội ta
đã quán triệt thực hiện tư tưởng của Người do vậy đã thành công trong xây dựng và củng cố mối quan hệ với nhân dân, với hậu phương một cách vững chắc - nền tảng sức mạnh của Quân đội trong chiến tranh Qua một chặng đường dài mấy chục năm chiến tranh ác liệt nhưng Quân đội ta vẫn lớn lên rất nhanh chóng bởi nó được nuôi dưỡng từ một nguồn sức mạnh vô tận, vô địch của nhân dân TTDVHCM đối với CTDVCQĐ luôn là nền tảng tư tưởng, bài chỉ nam trong mọi giai đoạn cách mạng Tư tưởng đó đã là một trong những cơ sở cho việc xác định chức năng, nhiệm
vụ cho Quân đội ta Những nội dung, quan điểm cơ bản trong TTDVHCM có giá trị chỉ đạo xuyên suốt CTDVCQĐ qua các thời kỳ cách mạng và trong mọi hoàn cảnh: từ xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung đến tìm ra phương thức, giải pháp tiến hành Tư tưởng đó còn giúp chúng ta tìm hiểu, nhận thức và có được cách tốt nhất để khắc phục hoặc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Hơn nữa TTDVHCM còn giúp ta đấu tranh chống lại các biểu hiện sai trái như: “Xem khinh việc dân vận”; “chưa hiểu thấu” tình hình (do quan liêu trong CTDV) hay “làm chưa đúng”
Thực hiện chức năng “đội quân công tác”, hơn nửa thế kỷ qua Quân đội ta đã thường xuyên quán triệt, làm theo tư tưởng của Người Đó là một nguyên nhân vừa cơ bản, vừa sâu xa dẫn đến sức sống và hiệu quả của CTDVCQĐ.
Thực tiễn cho thấy rõ TTDVHCM không chỉ là một đóng góp quý báu vào lý luận vận động cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê nin mà còn đã, đang, sẽ soi sáng cho sự nghiệp dân vận của Đảng, của Quân đội ta.
1.2 Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn công tác dân vận của Quân đội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc đổi mới, nâng cao chất lượng CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay không thể không kế thừa truyền thống, kinh nghiệm quý báu 56 năm qua Nhưng việc tiếp cận thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho CTDVCQĐ hiện nay phải được dựa trên quan điểm lịch sử, cụ thể Mặt khác phải thấy được CTDVCQĐ là một nhiệm vụ, hoạt động thường xuyên không tách rời các công tác khác, nhiệm vụ khác của Quân đội.
Trang 25Những bài học kinh nghiệm đó là kết tinh của một quá trình tiến hành CTDVCQĐ trong các hoàn cảnh, các giai đoạn cách mạng khác nhau dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Quá trình CTDVCQĐ và kinh nghiệm thu được là vô cùng phong phú Do vậy chỉ xin trình bày những nét khái lược, những bài học kinh nghiệm chủ yếu nhất, tiêu biểu nhất qua các thời kỳ cách mạng.
1.2.1 Công tác dân vận của quân đội hơn nửa thế kỷ qua dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời kỳ trước cách mạng tháng 8, CTDVCQĐ hướng vào chuẩn bị các điều kiện
để tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền Các đơn vị vũ trang cách mạng vừa tiến hành tác chiến, vừa bám sát dân để tuyên truyền vận động cách mạng, gây cơ sở, tập hợp lực lượng, xây dựng, củng cố các đoàn thể cứu quốc Qua hoạt động thực tiễn, Quân đội đã xây dựng được mối quan hệ đoàn kết quân dân, xây dựng thế và lực cho cách mạng, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhiệm vụ chủ yếu của CTDVCQĐ là ra sức tuyên
truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến, kiến quốc, góp phần bảo đảm cho đường lối kháng chiến của Đảng được quán triệt đầy đủ và được thực hiện đúng đắn, sáng tạo Các đơn vị trong quân đội vừa tập trung đánh địch, vừa phân chia thành những bộ phận nhỏ bám dân để tuyên truyền vận động, xây dựng củng cố cơ sở chính trị, hỗ trợ nhân dân chống bắt phu, bắt lính, kết hợp chặt chẽ dân vận, địch vận với tổ chức phát triển lực lượng, xây dựng làng kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích Qua 9 năm kháng chiến, CTDVCQĐ đã đạt được những thành tích to lớn, cùng với công tác vận động cách mạng của Đảng khơi dậy, nuôi dưỡng, huy động được mọi nguồn lực của toàn dân cho sự nghiệp cách mạng, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn
để đánh thắng cả 3 thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Trong kháng chiến chống Mỹ, CTDVCQĐ đã có bước phát triển mới Sau khi
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Ở miền Bắc các đơn vị quân đội đã tích cực tham gia cải cách ruộng đất và các cuộc vận động chính trị to lớn của Đảng và Chính phủ Nhiều đơn vị tình nguyện đến những vùng khó khăn, gian khổ để giúp dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống Khi đế quốc Mỹ
mở rộng chiến tranh ra cả nước, các đơn vị quân đội đã phối hợp và dựa vào các tổ chức trong hệ thống chính trị để tuyên truyền vận động nhân dân hướng vào thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Trang 26Ở miền Nam, bộ đội ta vừa tập trung đánh giặc, vừa bám sát dân xây dựng cơ sở trên cả 3 vùng chiến lược, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân, hỗ trợ cho các địa phương nổi dậy cướp chính quyền CTDVCQĐ đã khéo kết hợp với công tác địch vận, nguỵ vận, và hoạt động tác chiến Mối quan hệ đoàn kết quân dân ngày càng được củng cố vững chắc, thế và lực cách mạng ngày càng phát triển Sức mạnh của chiến tranh nhân dân
đã được khơi dậy và phát triển cao độ, góp phần bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn.
Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quân đội đã tích cực, chủ động giúp
nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển sản xuất, ổn định đời sống Trong hai cuộc chiến tranh biên giới quân đội ta đã tích cực bảo vệ dân, vận động nhân dân bám đất đến cùng, được nhân dân ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt, cùng chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế thắng lợi Khi đất nước gặp nhiều khó khăn, quân đội đã giữ vững bản chất cách mạng, vận động nhân dân tin tưởng, kiên định con đường đi lên CNXH đồng thời tăng cường cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động phá hoại của kẻ thù bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng và cuộc sống yên lành của nhân dân.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là sau khi có Nghị quyết 08B/HNTW (Khoá VI)
của Đảng CTDVCQĐ đã từng bước được đổi mới và ngày càng phát triển về bề rộng
và chiều sâu bám sát thực tiễn đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của quân đội.
1.2.2 Những bài học kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn công tác dân vận của quân đội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
* Một là, trong mọi giai đoạn cách mạng, CTDVCQĐ phải luôn bám sát và hướng
vào thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, đội quân chính trị tin cậy của Đảng; “trung với Đảng, hiếu với dân”, chiến đấu hy sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Quân đội được sinh ra và xây dựng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Đảng vạch ra Do vậy nó phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; mọi hoạt động, mọi mối quan hệ đều phải thể hiện điều đó; mọi công tác đều phải xuất phát và hướng vào thực hiện đường lối, chính
Trang 27sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội, phải coi đó là mục tiêu quan trọng hàng đầu cần phải đạt tới Dân vận là một công tác thường xuyên của Quân đội do vậy cũng phải thực hiện yêu cầu này.
56 năm qua, trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nhưng CTDVCQĐ đã luôn bám sát và hướng mọi hoạt động vào cùng với các công tác khác góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội Điều đó đã trở thành bài học kinh nghiệm lớn, xuyên suốt và bao trùm CTDVCQĐ mọi lúc mọi nơi Thực tiễn chỉ ra rằng tình hình, nhiệm vụ cách mạng luôn vận động, phát triển, đường lối chính sách của Đảng cũng luôn được bổ sung, phát triển, hoàn thiện do vậy CTDVCQĐ phải thường xuyên bám sát tình hình nhiệm vụ, phải lấy đường lối chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội làm cơ sở, căn cứ để xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp cho hoạt động của mình trong mỗi giai đoạn Mặt khác mọi kế hoạch, nội dung, hoạt động của CTDVCQĐ đều phải hướng vào nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội Các nỗ lực, sáng tạo, năng động trong CTDVCQĐ cần được khuyến khích, phát huy nhưng phải giữ vững định hướng trên.Nói CTDV phải bám sát đường lối chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội có nghĩa là một mặt nó nhằm mục tiêu góp phần bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị, mặt khác chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị phải đồng thời đạt được: làm cho CTDVCQĐ phát triển không ngừng Làm tốt CTDV và thực hiện nhiệm vụ chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó xác định đúng yêu cầu nhiệm vụ chính trị là đòi hỏi trước tiên, là điều kiện để tiến hành tốt CTDV, làm tốt CTDV là thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Quân đội nói chung Tuy nhiên không được coi tiến hành CTDV chỉ là một biện pháp để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Quân đội vì rằng chính dân vận là một nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên của Quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng Nhưng cũng không được tiến hành CTDV một cách riêng rẽ, tách rời khỏi các công tác khác Như thế sẽ không đạt được kết quả mong muốn Trên thực tế ở giai đoạn nào, trong thời bình hay thời chiến CTDVCQĐ cũng đan xen, gắn bó một cách rất chặt chẽ, cụ thể với các hoạt động chiến đấu, huấn luyện, lao động sản xuất, xây dựng đơn vị
Nhiệm vụ chính trị của Quân đội cũng như đường lối, chính sách của Đảng thường
có sự bổ sung, phát triển qua mỗi giai đoạn cách mạng Nhiệm vụ đó bao hàm cả
Trang 28những yêu cầu, nội dung trước mắt, cả những yêu cầu, nội dung lâu dài Gắn bó, bám sát, hướng vào thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội đòi hỏi CTDVCQĐ phải kịp thời căn cứ vào đó mà thay đổi phương hướng, mục tiêu, nội dung cụ thể cho phù hợp; phải thường xuyên bảo đảm hướng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị cả nước mắt và lâu dài.
Bám sát, phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng là một vấn đề không đơn giản đối với CTDVCQĐ Nó đòi hỏi phải vừa nhanh nhạy, vừa kiên trì, khoa học, nhất là khi cách mạng chuyển giai đoạn, như: khi Cách mạng Tháng Tám thành công; khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi; khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH; khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới
Để bám sát và hướng vào thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội đòi hỏi trong tiến hành CTDVCQĐ phải thường xuyên quán triệt một cách thấu đáo các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhưng Quân đội là một lực lượng chủ yếu nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự của Đảng do vậy phải đặc biệt chú ý thường xuyên tuyên truyền về đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh cho nhân dân Làm cho nhân dân có nhận thức đúng đắn, trách nhiệm cao, tham gia tích cực vào nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang Trong chiến tranh, Quân đội ta đã làm tốt vấn đề đó, hoà bình càng phải phát huy để làm tốt như thế Nếu không dễ dẫn đến tình trạng các tầng lớp nhân dân sao nhãng, lơ là thậm chí thờ ơ đối với nhiệm vụ quốc phòng, đến nhiệm
vụ xây dựng Quân đội và dẫn đến làm yếu đi mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội với nhân dân Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa hiện nay.
Suốt 56 năm qua CTDVCQĐ đã luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, đã phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ đó cũng như biến đường lối chính sách của Đảng thành hiện thực cuộc sống Có được điều đó là do ngay từ đầu CTDVCQĐ đã được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng Thật vậy, ngày 22-12-1944 Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng lúc này là tập trung chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền Bám sát và hướng vào thực hiện nhiệm vụ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, Quân đội ta hoạt động theo phương châm: Vũ trang tuyên truyền, chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến Mọi hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân nói riêng, cũng như các hoạt
Trang 29động của Quân đội nói chung đều hướng vào vận động cách mạng, xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngay sau khi thành lập Quân đội đã tổ chức đánh những trận đầu giành thắng lợi vang dội Cùng với những trận đánh thắng lợi, Quân đội còn tổ chức các cuộc chống khủng bố bảo vệ nhân dân, bảo vệ khu căn cứ Những hoạt động đó đã cổ vũ rất lớn và tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân trong các cao trào cách mạng giải phóng dân tộc Sau những trận tác chiến tập trung, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được chia ra thành những đơn vị tuyên truyền nhỏ lẻ bám sát dân để tuyên truyền, vận động cách mạng, gây cơ sở, xây dựng tổ chức trung kiên và các đoàn thể cứu quốc, xây dựng tự vệ, đào tạo cán bộ để đẩy mạnh phòng trào, mở rộng khu căn
cứ góp phần chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa Vừa chiến đấu tiêu diệt địch, Quân đội vừa quan tâm đến đời sống hàng ngày của nhân dân, bảo vệ nhân dân nổi dậy chống thuế, phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo… Tất cả những việc làm đó góp phần tích cực thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên.
Trong Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, giải phóng quân và các đội tự vệ, du kích ở các địa phương đã cùng toàn dân khởi nghĩa giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là đỉnh cao của khả năng và nghệ thuật vận động quần chúng của mặt trận Việt Minh và của Đảng Cộng sản Đông Dương Qua Cách mạng Tháng Tám Quân đội ta đã nâng cao được khả năng và có được những
kinh nghiệm quý báu, trong đó bám sát và phục vụ nhiệm vụ chính trị là một bài học
tiêu biểu Bài học đó được Quân đội ta phát huy và làm sâu sắc thêm, phong phú thêm
trong những giai đoạn cách mạng tiếp theo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc, CTDVCQĐ đã bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, thấu triệt những lời dậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tác chiến tiêu diệt địch, tham gia tích cực, thiết thực, có hiệu quả vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng đã xác định trong từng giai đoạn đối với từng miền, từng vùng: động viên nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, hăng say lao động sản xuất, phát triển chiến tranh du kích trên khắp các chiến trường.
Trong hoà bình xây dựng đất nước cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu quân đội đã quan tâm đến nhiệm vụ dân vận Đồng thời với việc tuyên truyền vận động nhân dân tham gia xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, các đơn vị quân đội
Trang 30đã tập trung tuyên truyền vận động nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; đã động viên nhân dân tham gia tích cực vào sự nghiệp cải tạo XHCN, xây dựng CNXH ở miền Bắc (Sau 1954) và ở cả nước (Sau 1975).
Mặt khác, tuỳ từng địa bàn hoạt động, chiến trường, đối tượng nhân dân mà các đơn
vị quân đội xác định nội dung cụ thể cho CTDV của mình Ví dụ ở vùng giáp gianh,
vùng đồng bào theo đạo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bộ đội phải quán triệt, nắm
vững những quan điểm, tư tưởng đường lối, chính sách của Đảng và Hồ Chí Minh về kết hợp tác chiến với dân vận, địch vận, về vấn đề dân tộc, tôn giáo Chính đó là một
lẽ cơ bản dẫn đến thành công của CTDVCQĐ ở những vùng đồng bào có tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng khó khăn ác liệt, làm điều kiện cho những thắng lợi về chính trị và quân sự.
Qua thực tiễn cho ta nhận thấy không chỉ những thành tích, ưu điểm mà còn cả những khuyết điểm, hạn chế Có nhiều hạn chế, khuyết điểm làm rõ nét hơn bài học kinh nghiệm trên Đơn cử, trong cuộc kháng chiến chống Pháp có một số CB, CS do chưa nắm vững đường lối giai cấp của Đảng (quan niệm “nhân dân” một cách chung chung) nên chưa nhận thấy bần, cố nông là chỗ dựa vững chắc, cá biệt có đồng chí còn dựa cả vào phú nông, địa chủ; một số đông CB, CS chưa nhận rõ ý nghĩa của chính sách giảm tô, giảm tức nên ít quan tâm đến việc vận động nhân dân thực hiện Hay từ chỗ chưa bám sát đường lối, chính sách của Đảng nên nhận thức không rõ bạn thù, một số CB, CS đã dùng biện pháp quân sự để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Đó là một sai lầm để kẻ địch lợi dụng chia rẽ, gây khó khăn cho ta.
Dân vận là một hoạt động có tính mục đích, tính thực tiễn rất cao đồng thời lại được thực hiện bằng những nội dung, hình thức, phương pháp rất phong phú, đa dạng, linh hoạt Do vậy, nếu không gắn chặt với nhiệm vụ chính trị, không lấy nhiệm vụ chính trị của Đảng, quân đội và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm điểm xuất phát chủ yếu và là mục tiêu phấn đấu thì CTDVCQĐ sẽ mất phương hướng; sẽ không có nội dung thiết thực, cụ thể sẽ lúng túng trong lựa chọn hình thức, biện pháp và sẽ không ăn nhập, đồng bộ với hoạt động dân vận của hệ thống chính trị
mà trở nên lạc lõng, hô hào kêu gọi chung chung.
Có thể khẳng định: Trong mọi giai đoạn cách mạng, CTDVCQĐ phải luôn bám sát
và hướng vào thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ cách
Trang 31mạng, nhiệm vụ của Quân đội Đây là bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phong phú của CTDVCQD mà hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị to lớn và sâu sắc.
* Hai là, nhận thức đúng, trách nhiệm cao luôn là điều kiện, yếu tố cơ bản trước
tiên để tiến hành CTDVCQĐ có chất lượng.
Trong suốt quá trình, từ khi thành lập đến nay, Quân đội ta đã phải vượt qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh để làm tròn chức năng một “đội quân công tác” Thực tiễn sinh động, phong phú đó cho thấy rõ một vấn đề là: nhận thức về CTDV, trách nhiệm đối với CTDV luôn là điều kiện trước tiên quyết định đến chất lượng hiệu quả CTDV, đến việc hoàn thành nhiệm vụ dân vận của Quân đội và mỗi đơn vị Vấn đề này không những đúng với khi chiến tranh, trong những hoàn cảnh khó khăn mà còn đúng cả khi đất nước hoà bình; trong những điều kiện thuận lợi.
Ngay khi cách mạng chưa thành công, hay ở những nơi địch kìm kẹp, tìm mọi cách tách dân khỏi bộ đội và ảnh hưởng của cách mạng Chúng thực hiện “Tát nước bắt cá” nhưng do nhận thức được sâu sắc: “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”;
“Dân như nước, mình như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”; “việc dân vận rất quan trọng” đối với cách mạng, đối với sự nghiệp chiến đấu và xây dựng của Quân đội nên bộ đội ta đã khắc phục mọi khó khăn tìm ra hình thức, phương pháp sáng tạo, phù hợp trong mọi hoàn cảnh Do vậy bộ đội vẫn đến được với nhân dân, gần gũi gắn bó với nhân dân, tuyên truyền vận động nhân dân hướng về cách mạng, đi theo cách mạng, tích cực ủng hộ bộ đội Trong thực tiễn có nhiều trường hợp khó khăn, tưởng không vượt qua được như nhân dân chưa hiểu cách mạng, mặc cảm nhiều với cách mạng, không muốn giao tiếp với bộ đội, không tin ở bộ đội Nhưng nhờ có nhận thức, trách nhiệm cao và phương pháp, tác phong dân vận khéo léo mà từ chỗ dân chưa hiểu đến chỗ hiểu bộ đội; từ chỗ lúc đầu giao tiếp khó khăn đến chỗ dễ dàng, thân mật, thắm thiết như gia đình Chính vì vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, ở những nơi quân địch dày đặc, tàn bạo như Sài Gòn, Đà Nẵng nhưng bộ đội vẫn đứng chân hàng sư đoàn để cùng nhân dân và bộ đội địa phương đánh địch.
Khi đất nước được thống nhất, đáng lẽ bước từ chiến tranh sang hoà bình, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước theo con đường XHCN thì CTDV càng trở nên quan trọng và cần phải được tăng cường hơn như tư tưởng Hồ Chí Minh Nhưng trên thực tế thì ngược lại: Đã nhận thức không đúng đắn, đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của CTDV mà trong một thời gian dài, trên phạm vi cả nước CTDV chưa được quan tâm đúng mức Cộng thêm vào đó là Cục Dân vận
Trang 32cùng với hệ thống tổ chức chuyên trách về CTDVCQĐ đã bị giải thể từ cuối năm 1974 dẫn đến tình trạng CTDVCQĐ bị buông lỏng và rơi vào tình trạng hẫng hụt, lúng túng, thụ động, thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ Đặc biệt khi bộ đội trở về đóng quân ở doanh trại thì hoạt động dân vận càng giảm sút, mối quan hệ quân dân trở nên không được mật thiết như trước nữa Đánh giá vấn đề này Đảng uỷ Quân sự Trung ương đã chỉ rõ: “CTDV vừa qua còn nhiều hạn chế cả về chiều rộng
và độ sâu, hiệu quả còn thấp, chưa thực hiện đầy đủ một trong những chức năng cơ bản của Quân đội là đội quân công tác; những tồn đọng về quan hệ quân dân trong các thời kỳ chiến tranh chưa được giải quyết thoả đáng, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn chưa được xử lý đúng đắn, kịp thời; công tác giáo dục quản lý bộ đội về chấp hành kỷ luật dân vận chưa chặt chẽ làm tổn thương không ít mối quan hệ quân dân, bản chất truyền thống và uy tín của Quân đội” [35].
Tuy nhiên, nhận thức về CTDVCQĐ nói trên bao gồm sự giác ngộ cách mạng, quan điểm giai cấp, nhận thức rõ vai trò của nhân dân, tầm quan trọng của CTDVCQĐ; nhận thức về tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chính trị của Quân đội, về đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhận thức về nhân dân với tư cách là đối tượng của CTDVCQĐ
Kinh nghiệm cho thấy trách nhiệm cao đối với CTDVCQĐ chỉ có thể được xây dựng trên cơ
sở nhận thức đúng đắn về công tác này; ngược lại khi có trách nhiệm cao đối với công tác này sẽ thúc đẩy bộ đội trau dồi nhận thức đúng đắn, khắc phục nhận thức sai hoặc thiếu hụt về nhận thức.
Thực tiễn cũng chỉ rõ khi nhận thức không đầy đủ thì trong tuyên truyền vận động nhân dân,
dễ dẫn đến tình trạng chung chung kém sức thuyết phục, kém hiệu quả hoặc dễ gặp sai sót, lệch lạc Chủ thể số một của CTDVCQĐ là lãnh đạo, chỉ huy các cấp Do đó nói đến nhận thức, trách nhiệm ở đây trước hết phải là của chủ thể đó; tiếp sau là của đội ngũ cán bộ và của ngành dân vận; sau đó là của mọi thành viên trong Quân đội Đối với CB, CS có được nhận thức, trách nhiệm đúng đắn, đầy đủ thì trong mọi hoàn cảnh, điều kiện, dù ở cương vị nào thì mỗi CB, CS cũng là “một cán bộ dân vận” giỏi bằng hành động của mình - lời nói đi đôi với việc làm, chia việc làm để nói với dân, để tuyên truyền vận động dân, để thể hiện tấm gương cho nhân dân học tập, noi theo.
Trang 33Kinh nghiệm cho thấy, xây dựng nhận thức, trách nhiệm cho CB, CS, cho toàn quân đối với CTDV không hề đơn giản, dễ dàng Đây là một quá trình quán triệt, giáo dục, rèn luyện, lãnh đạo, quản lý một cách kiên trì, nghiêm túc; là kết quả của một quá trình tự tu dưỡng rèn luyện của quân nhân; là kết quả của quá trình tự ý thức về bổn phận, trách nhiệm của quân nhân cách mạng trước Tổ quốc, trước nhân dân Mặt khác quá trình xây dựng nhận thức, nâng cao trách nhiệm cho bộ đội cũng là quá trình đấu tranh khắc phục những nhận thức sai trái, những biểu hiện lệch lạc xung quanh vấn đề này, là quá trình khảo sát, điều tra, nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm chính thực tiễn đổi mới CTDVCQĐ từ khi có nghị quyết TW8B (Khoá VI) của Đảng đến nay cũng thể hiện rõ những điều trên.
Như vậy, trong mọi điều kiện hoàn cảnh, muốn dân vận đạt hiệu quả thì vấn đề trước hết, rất
cơ bản đồng thời cũng rất khó khăn là phải xây dựng được nhận thức đúng đắn, trách nhiệm cao cho mọi tổ chức, mọi CB, CS trong Quan đội Đặc biệt trước những bước ngoặt của cách mạng hay đứng trước yêu cầu đổi mới CTDVCQĐ.
Trong phạm vi Quân đội, CTDV có liên quan đến các lực lượng, các ngành, các cấp, các công tác khác Do vậy phải phát huy vai trò trách nhiệm và điều kiện, khả năng của các tổ chức, cơ quan, cấp, ngành lực lượng, thông qua và kết hợp tốt với các công tác khác Qua thực tiễn cho thấy để làm được điều đó CTDV phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng; chỉ huy các cấp phải “thật thà nhúng tay vào công việc” quản lý điều hành toàn đơn vị làm CTDV; các
cơ quan, trước hết là cơ quan chính trị phải giúp cấp uỷ và người chỉ huy tổ chức toàn đơn vị và
cơ quan làm tốt CTDV.
Trang 34Trong hai cuộc kháng chiến việc kết hợp CTDV với công tác khác đã được Quân đội ta làm tốt Đơn cử là trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ở vùng địch tạm chiếm, chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 (Khoá II) của Đảng, Quân đội thực hiện ba nhiệm vụ: dân vận; địch vận
và tác chiến du kích Trong đó dân vận là công tác chính, làm gốc cho công tác khác Bộ đội ta
đã vừa tập trung đánh địch, vừa phân tán nhỏ lẻ bám dân để tuyên truyền vận động, xây dựng củng cố cơ sở chính trị, tổ chức cách mạng, hỗ trợ nhân dân chống bắt phu, bắt lính, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng làng kháng chiến Do kết hợp chặt chẽ dân vận, địch vận và phát triển chiến tranh du kích nên trong điều kiện khó khăn nhưng CTDV cũng như công tác khác vẫn được thực hiện tốt.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ở miền Bắc các đơn vị Quân đội đã phối hợp và dựa vào các tổ chức trong hệ thống chính trị ở các địa phương vận động nhân dân xây dựng cơ sở, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, thực hành tuyển quân quy mô lớn, giữ vững niềm tin ở chiến thắng, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tham gia sôi nổi các phong trào cách mạng như: “Ba sẵn sang”; “Ba đảm đang”, “chắc tay búa, chắc tay sung”
Trong những năm đổi mới vừa qua việc phát huy sức mạnh tổng hợp để thực hiện CTDV đã được nâng lên tầm cao mới với quy mô phạm vi rộng lớn hơn, cách thức bài bản, chặt chẽ hơn từ trên xuống dưới Thực vậy, sau khi có Nghị quyết Trung ương 8B (Khoá VI) của Đảng, nhiều Nghị quyết liên tịch; chương trình phối hợp hoạt động giữa Quân đội với các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội (Hội Nông dân Việt Nam; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam ) ra đời và phát huy tác dụng Đó là một cơ sở quan trọng, điều kiện để phát huy sức mạnh tổng hợp làm tốt CTDVCQĐ, CTDV của Đảng CTDVCQĐ tạo sức mạnh tổng hợp và biện pháp khả thi góp phần giải quyết điểm nóng ở tại một số địa bàn, CTDV đã phối kết hợp với một số địa phương.
Các đơn vị quân đội đóng quân và làm nhiệm vụ ở các địa phương phải thường xuyên giữ vững mối liên hệ mật thiết và phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng để làm tốt CTDV Mọi hoạt động dân vận phải đặt dưới sự lãnh đạo, điều
Trang 35hành của cấp uỷ, chính quyền địa phương, phát huy tốt chức năng tham mưu, trung tâm phối hợp hiệp đồng của cơ quan quân sự địa phương.
Mặt khác, phát huy sức mạnh tổng hợp để làm tốt CTDV trên thực tế còn bao hàm cả việc làm tốt công tác vận động quần chúng ngay trong Quân đội, đơn vị quân đội Thường xuyên quan tâm củng cố, xây dựng và chăm lo tạo điều kiện cho các tổ chức quần chúng trong Quân đội hoạt động, thực hiện tốt dân chủ tạo sự đoàn kết nhất trí cao, phát huy tốt trách nhiệm, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm cũng như hoàn thành tốt nhiệm
vụ dân vận.
Việc phát huy sức mạnh tổng hợp để làm tốt CTDV được thực hiện ở tất cả các khâu các nước của CTDV: từ nghiên cứu nắm tình hình, thực hành các hoạt động tuyên truyền, vận động, giúp
đỡ nhân dân đến sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên và định kỳ, giải quyết những vấn
đề nảy sinh, vướng mắc có liên quan.
Thực tiễn CTDV trong những năm đổi mới vừa qua chỉ ra rằng đi đôi với phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động dân vận còn cần phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của ngành dân vận và đội ngũ CBDVCT; nâng cao năng lực dân vận cho CB, CS đặc biệt là lực lượng trực tiếp tham gia các hoạt động dân vận của đơn vị.
Phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện tốt CTDV là kinh nghiệm đã được Quân đội ta vận dụng cả trong thời bình và thời chiến ở mọi cấp, trên các địa bàn Mục đích cốt lõi là tạo ra sự tác động thống nhất, đồng bộ, cùng chiều, tổng hợp và mạnh mẽ trong CTDV nói riêng, sự nghiệp vận động cách mạng nói chung.
*Bốn là, làm tốt CTDV là điều kiện, cơ hội để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và
ngược lại, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện là cơ sở để làm tốt CTDV.
Bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao chất lượng bộ đội, xây dựng đơn vị, xây dựng Quân đội và thực hiện CTDV là những công việc quan trọng thường xuyên, quan hệ biện chứng với nhau Đánh giá chung từ khi thành lập đến nay, Quân đội ta đã thường xuyên làm tốt CTDV Đó chính
là một lý do quan trọng khiến cho lúc đầu còn nhỏ bé, trải qua những điều kiện hoàn cảnh vô
Trang 36cùng khó khăn, gian khổ nhưng Quân đội ta vẫn tồn tại, hoàn thành nhiệm vụ được giao, hơn thế nữa còn lớn mạnh không ngừng.
Tiến hành CTDV, xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân là một vấn đề thuộc nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng CTDV vừa phản ánh bản chất cách mạng của Quân đội, vừa là điều kiện để phát huy bản chất đó; đồng thời là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng nền tảng chính trị của Quân đội, xây dựng quân dội vững mạnh về chính trị làm cơ sở
để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.
Dân vận nói chung là một hoạt động thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, lĩnh vực mà chủ thể càng tham gia nhiều thì càng trưởng thành, phát triển về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, xã hội.
Vì vậy tiến hành CTDVCQĐ là một quá trình mang lại kết quả hai chiều, hệ quả kép Qua CTDV mà Quân đội hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình; mặt khác qua thực hiện nhiệm
vụ dân vận, bộ đội có điều kiện rất tốt để bồi dưỡng, rèn luyện quan điểm phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, giác ngộ mục tiêu chiến đấu; bồi dưỡng năng lực thực tiễn, tác phong quần chúng Qua thực hiện nhiệm vụ dân vận, một nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, các tổ chức và đội ngũ cán bộ trong Quân đội cũng được thử thách, bồi dưỡng về nhiều mặt và trưởng thành Như vậy dân vận tốt góp phần quan trọng để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của đơn vị Đó là cơ sở, điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, trong đó có nhiệm vụ dân vận.
Đơn vị được xây dựng vững mạnh toàn diện nghĩa là tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, các tổ chức quần chúng vững mạnh; CB, CS được giáo dục, huấn luyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; trong đơn vị giữ được sự đoàn kết thống nhất; mối quan hệ quân dân cá nước được tăng cường Trong đó tổ chức đảng trong sạch vững mạnh là hạt nhân xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng “đơn vị dân vận tốt”; phát huy vai trò, chức năng của các tổ chức; giáp dục rèn luyện
bộ đội Có đơn vị mạnh nghĩa là có chủ thể của CTDV mạnh, mà chủ thể bao giờ cũng là yếu tố
cơ bản quyết định chất lượng CTDV Thực tế không có đơn vị yếu kém mà công tác quần chúng, CTDV lại được tiến hành có chất lượng, hiệu quả.
Trang 37Thực tiễn CTDVCQĐ, nhất là trong những năm đổi mới chỉ rõ: xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện là cơ sở để làm tốt CTDV; đồng thời làm tốt CTDV là cơ hội, điều kiện để giáo dục, rèn luyện bộ đội, xây dựng mối quan hệ máu thịt với nhân dân - được cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương tin yêu, đùm bọc Đó là yếu tố thuận lợi rất quan trọng để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Kinh nghiệm trên chỉ ra rằng: phải gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ dân vận với nhiệm vụ trọng tâm
và công tác vận động quần chúng trong đơn vị; phải gắn việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với việc xây dựng “đơn vị dân vận tốt” Phải coi tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện là một biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng CTDV; đồng thời, phải coi việc tăng cường, nâng cao chất lượng CTDV là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả trước mắt và lâu dài đối với quá trình xây dựng đơn vị, xây dựng Quân đội Phải gắn kết quả CTDV vào việc bình xét, đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm và phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị; lấy việc hoàn thành nhiệm vụ dân vận là một tiêu chuẩn để đánh giá đơn vị vững mạnh toàn diện Ngoài những bài học trên còn có thể nêu lên một số điều bổ ích như những kinh nghiệm trong đổi mới CTDVCQĐ hơn 10 năm qua:
- Đổi mới CTDVCQĐ phải được bắt đầu từ đổi mới tư duy, đồng thời phải bám sát thực tiễn, sâu sát cơ sở.
- Thường xuyên coi trọng công tác nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm.
- Tăng cường sự chỉ đạo của trên, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động của cấp dưới trong tìm tòi, sáng tạo đổi mới CTDVCQĐ.
Kết luận chương 1
Cùng với sự ra đời và phát triển của Quân đội, CTDVCQĐ đã trải qua hơn nửa thế kỷ vận động, phát triển và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp dân vận của Đảng, sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của Quân đội CTDVCQD đã đạt được những thành tích đáng trân trọng và tự hào đồng thời cũng để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, bổ ích Tuy nhiên trong mỗi
Trang 38giai đoạn cũng như trong suốt quá trình, CTDVCQĐ không phải không còn những khuyết điểm, hạn chế cần phải nghiêm khắc rút kinh nghiệm, khắc phục sửa chữa.
Từ tất cả ưu, khuyết điểm, thành tựu và hạn chế trong CTDVCQĐ cũng như nguyên nhân của nó đều thống nhất khẳng định một điều rằng tư tưởng Hồ Chí Minh
là nền tảng, là định hướng cho CTDVCQĐ và giá trị đích thực của tư tưởng đó không chỉ được thể hiện trên phương diện lý luận, mà còn trên cả phương diện thực tiễn; không chỉ trong quá khứ mà còn trong cả hiện tại và tương lai Do vậy, trong quá trình tiếp tục đổi mới, tăng cường CTDVCQĐ phải tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, vận dụng TTDVHCM Đó không chỉ là yêu cầu khách quan, khoa học mà còn là yêu cầu
có tính cấp thiết hiện nay Vấn đề là ở chỗ việc đổi mới, tiến hành CTDVCQĐ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải được đặt ra và giải quyết theo tư duy mới.
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HUỚNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH2.1 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải đổi mới công tác dân vận của Quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1.1 Thực trạng công tác dân vận của quân đội hiện nay
CTDVCQĐ trong thập kỷ gần đây được tiến hành trong điều kiện thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến lớn Tình hình quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường Các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, CNXH bị khủng hoảng nghiêm trọng, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào Các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là đế quốc Mỹ điên cuồng chống phá cách mạng thế giới bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” mà Việt Nam là một trọng điểm.
Hơn mười năm qua, đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra đã được khẳng định, bổ sung, phát triển và thực sự đi vào cuộc sống Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, nhân dân ta
đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của đất nước Đời sống của nhân dân được cải thiện một bước rõ rệt, uy tín của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng như khối đoàn kết toàn dân được củng cố.
Trang 39Tuy nhiên trong nước còn tồn tại nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết một cách cấp bách như: xây dựng kinh tế nhà nước sao cho thực sự có hiệu quả; đa dạng hoá các hình thức quan hệ sản xuất phù hợp sự phát triển của lực lượng sản xuất; làm trong sạch, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước phân hoá giàu nghèo; tệ nạn xã hội
Tất cả những đặc điểm, những vấn đề đó tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến đất nước ta, đến nhân dân ta với tư cách là đối tượng của CTDV cả về nhận thức, tư tưởng, tâm trạng lẫn lối sống và phong cách lao động của các giai tầng trong xã hội theo cả xu hướng tích cực và tiêu cực Điều
đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải nỗ lực cao, toàn diện, kịp thời nắm bắt tình hình tìm ra giải pháp phù hợp để phát huy thuận lợi, hạn chế bất lợi, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ dân vận trong giai đoạn mới.
Sau Đại hội Đảng VI, Hội nghị Trung ương 8 (Khoá VI), những vấn đề cơ bản về đổi mới CTDV được phát triển và làm sâu sắc hơn tại Đại hội VII, VIII và các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng Trong thực tiễn, sau Nghị quyết 8B (Khoá VI) của
Đảng “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
và nhân dân”, đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, CTDV đã có bước tiến bộ rõ rệt;
tư tưởng Hồ Chí Minh đang được quán triệt và vận dụng một cách thiết thực Các quan điểm chỉ đạo đổi mới CTDV từng bước được quán triệt và đi vào hoạt động của các cấp, các ngành, các lực lượng và đã thu được kết quả ban đầu quan trọng Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả của CTDV của Đảng còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trong CTDV còn tồn tại nhiều bất cập, khó khăn; hạn chế.
Cùng với quá trình đổi mới CTDV của Đảng, của các tổ chức trong hệ thống chính trị, sau khi có Nghị quyết Trung ương 8B (Khoá VI) Của Đảng, Thường vụ Đảng uỷ
Quân sự Trung ương có Chỉ từ 137/CT ngày 31- 8-1990 “Về tăng cường công tác
dân vận trong tình hình mới”, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị 127/CT ngày
2-4-1993 “Tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới" Đó là
cơ sở cho đổi mới, tăng cường CTDVCQĐ trong giai đoạn cách mạng hiện nay Ngoài ra còn có nhiều Nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị làm cơ sở, căn cứ để triển khai thực hiện đổi mới đồng bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDVCQĐ trong thời gian qua.
Thực trạng CTDVCQĐ được thể hiện rõ nét qua ưu điểm, nhược điểm, thành tựu
và hạn chế cùng với các nguyên nhân sau đây:
Trang 40* Những ưu điểm, kết quả nổi bật và nguyên nhân:
Một thập kỷ qua, toàn quân - từ cấp Bộ Quốc phòng đến đơn vị cơ sở đã nỗ lực triển khai các Nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn về CCTDV Quá trình đó được bắt đầu
từ việc quán triệt các quan điểm của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sau đó, cùng với nó là từng bước đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTDV Đây là một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, thể nghiệm mang tính cách mạng và không hề đơn giản, dễ dàng Thực trạng CTDVCQĐ nổi lên những ưu điểm kết quả chủ yếu sau:
Một là, toàn quân đã có bước chuyển rất quan trọng về nhận thức đối với
CTDV CB, CS ngày càng nhận thức rõ hơn và sâu sắc hơn vị trí, vai trò, tầm quan
trọng, mục đích, yêu cầu của CTDVCQĐ trong tình hình mới [151] Đặc biệt là cán
bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã thấm nhuần khá sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta: dân là gốc, dân là chủ; cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân; dân vận là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, trong tình hình hiện nay càng mang ý nghĩa cấp thiết - là nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của thế lực thù địch Tư duy mới về CTDV đã có bước phát triển quan trọng Đây là điều kiện cơ bản, là cơ sở đầu tiên cho đổi mới, tăng cường CTDVCQĐ trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm và năng lực của cấp uỷ: chỉ huy các
cấp trong lãnh đạo, tổ chức, điều hành đơn vị tiến hành CTDV CTDV thời gian qua
đã từng bước trở thành nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức đảng và chỉ huy các cấp.
Cơ quan chính trị các cấp (trực tiếp là cơ quan dân vận và CBDVCT) đã từng bước nâng cao hiệu quả trong thực hiện chức năng tham mưu cho cấp uỷ, chỉ huy về công tác này CB, CS đã nâng cao một bước trách nhiệm, tham gia tích cực, tự giác hơn vào các hoạt động dân vận; phong cách dân vận của họ cũng có chuyển biến rõ rệt.
Thời gian qua, bằng hàng ngàn tổ đội công tác, hàng triệu ngày công của CB, CS, hàng chục tỷ đồng và hàng ngàn tấn hàng hoá, thuốc men cùng các hoạt động kinh tế, tham gia các dự án phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước, nhất là ở những vùng biên giới, hải đảo (chương trình xoá đói giảm nghèo, dự án trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; chương trình xoá mù chữ; tiêm chủng mở rộng; phủ sóng phát thanh truyền hình toàn quốc ) góp phần quan trọng, có ý nghĩa thiết thực chăm lo,