1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN h GIA CHAMPA VI DI VIT THI k

132 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 199,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

này, chính quyền phong kiến và nhân dân Đại Việt tập chung xây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục,… đồng thời ra sức b

Trang 1

QUAN HỆ GIỮA CHAMPA VỚI ĐẠI VIỆT THỜI KỲ VIJAYA

Vương quốc Champa hình thành và phát triển trên dải ven biển và miền Trung Việt Nam và một phần cao nguyên Trường Sơn Lãnh thổ Vương quốc Champa lúc lớn mạnh nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông Gianh ở phía bắc đến sông Dinh – Hàm Tân, ở phía nam đến lưu vực Krong Pô Cô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên Về phía đông, họ thực sự làm chủ cả vùng ven Biển Đông cùng với dãy đảo gần bờ Trong tiến trình dựng nước, đến thời kỳ Vijaya (thế kỷ X - XV), vương quốc Champa đã thống nhất được quốc gia, cố gắng duy trì sự thống nhất đó, phát triển nhà nước tự chủ của mình và bước đầu xây dựng được một quốc gia có xu thế đi đến sự thịnh đạt Hơn nữa Champa có một kinh thành – Vijaya được xây dựng với một tầm nhìn xa trông rộng, ngay từ đầu nó xứng đáng là kinh đô của một quốc gia phát triển Nhưng ta dễ nhận thấy sự thống nhất của Champa còn bấp bênh và chưa thực sự vững chắc Nguyên nhân trực tiếp của nó bắt nguồn từ đâu? Phải chăng từ chính chính sách ngoại giao không ổn định của vương triều Vijaya khi đứng giữa hai vương quốc mạnh Campuchia và Đại Việt.

Có thể nói mối quan hệ của Champa với các quốc gia trong khu vực là một mảng lớn chi phối sự phát triển của vương quốc cổ này Thời kỳ Vijaya (từ thế kỷ thứ X – XV), mối quan hệ này càng trở nên phức tạp và sôi động Trong đó, quan hệ giữa Champa với Đại Việt thời kỳ này cũng chứng kiến những biến động lớn, có ảnh hưởng trực tiếp tới vận mệnh cả hai quốc gia.

Trên cơ sở đó, sự thống nhất của Vương quốc Champa cũng được thực hiện cao hơn các giai đoạn trước Biểu hiện của sự thống nhất này trước tiên là việc kinh đô Vijaya được lập ở vị trí trung độ, tiếp đó là sự kết hợp giữa hai dòng họ Nam và Bắc, Cau và Dừa dưới triều vua Harivarman I Bên cạnh đó, thời kỳ này nền kinh

tế và đời sống xã hội của Vương quốc cổ Champa tiếp tục phát triển Cùng với Champa, hai nước láng giềng là Đại Việt và Campuchia cũng đang trong giai đoạn phát triển của mình Thế kỷ X, Đại Việt vừa khôi phục được nền độc lập của mình sau hơn một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ Trong thời kỳ

Trang 2

này, chính quyền phong kiến và nhân dân Đại Việt tập chung xây dựng và phát triển đất nước trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục,… đồng thời ra sức bảo vệ nền độc lập mới giành được trước sự tấn công xâm

Trong giai đoạn này, Campuchia đang trong thời kỳ phát triển thịnh đạt dưới vương triều Ăngkor huy hoàng Đây là giai đoạn mà nền kinh tế Campuchia phát triển mạnh mẽ, tình hình chính trị ổn định đất nước phát triển về mọi mặt Trong bối cảnh này, Champa lại vừa chủ động, vừa bị động gây chiến với cả Campuchia và Đại Việt, nghiêng ngả, trao đảo trong chính sách đối ngoại với hai

2 Quan hệ bang giao giữa Champa với Đại Việt thế kỷ X – XIII Bảng 1: Thống kê những sự kiện quan hệ giữa Champa với Đại Việt thế kỷ X – XIII

1 979 Champa cử hơn 1000 chiến thuyền chia làm hai mũi vượt biển định đánh kinh đô Hoa Lư, bị bão lớn, tất cả chiến thuyền bị lật chìm, quân lính bị chết hết.

2 980 Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh sang đặt quan hệ hòa hiếu, nhằm

3 982 Lê Hoàn thân chinh tiến đánh Champa, chiếm kinh đô Đồng Dương, bắt nhiều tù binh Champa đã xin thần phục và hàng năm triều cống cho Đại Việt.

4 995 Quân Chăm quấy nhiễu biên giới phía nam Đại Việt, bị quân đội nhà Lê

5 997 Champa quấy nhiễu biên giới phía nam Đại Việt, bị quân đội nhà Lê đánh dẹp.

6 1011 Triều Lý mới thành lập, Champa có sai sứ sang cống

7 1020 Vua Lý đã sai Khai Thiên vương đem quân đi đánh Champa ở Bố Chính

8 1034 Con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng bọn Lạc Thuẫn, Sạ Đẩu, La Kế,

9 1043 Champa đem quân cướp bóc dân ven biển Đại Việt.

10 1044 Lý Thái Tông đem quân đi đánh Champa, giết được vua Chăm giành

11 1068 Champa cho quân quấy nhiễu vùng biên giới.

12 1069 Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Champa Vua Champa là Chế Củ bị bắt cùng 5 vạn dân chúng Chế Củ nhận thần phục, buộc phải cắt một phần lãnh thổ

13 1073 Champa cử sứ thần sang triều cống cho triều đình Đại Việt

14 1074 Champa cho quân tiến công cướp phá phía nam Đại Việt nhưng không thu

Trang 3

Trong nửa cuối thế kỷ X, thái độ của vua Champa với Đại Việt là thù địch và theo đuổi chính sách xâm lược nên quan hệ bang giao giữa hai nước khá căng thẳng Năm 979, nhân vua Đinh và con trai cả là Đinh Liễn bị giết, vua Champa đã cử hơn 1000 chiến thuyền chia làm hai mũi vượt biển định đánh kinh đô Hoa Lư, nhưng bị bão lớn, tất cả chiến thuyền bị lật chìm, quân lính bị chết hết [5; 117] Năm 980, sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh sang đặt quan

hệ hòa hiếu, nhằm yên mạn nam để chống giặc Tống Vua Champa cậy thế hùng

Sau kháng chiến chống quân Tống thắng lợi vào năm 981, vua Lê Hoàn sai sứ sang Champa đặt quan hệ hòa hiếu Nhưng vua Champa vẫn tiếp tục thi hành chính sách chống đối Đại Cồ Việt, nên vào năm 982, vua Lê thân chinh tiến đánh Champa Quân đội của nhà Lê đánh chiếm kinh đô Đồng Dương, bắt nhiều tù binh đưa về cho khai hoang Sau sự kiện trên, Champa đã xin thần phục và hàng năm triều cống cho Đại Việt Quan hệ Việt – Chăm tạm yên Nhưng mỗi khi Đại Việt triều đình lục đục, suy yếu thì vua Champa lại phái quân sang xâm lấn Có khi dựa vào uy thế của nhà Tống để gây chiến với Đại Việt Vào các năm 995 và 997, quân Chăm quấy nhiễu biên giới phía nam Đại Việt nhưng đều bị quân đội nhà Lê đánh dẹp Khi triều Lý mới thành lập, Champa có sai sứ sang cống (1011) Nhưng sau đó, Champa thường đem quân quấy rối ở biên giới Vì vậy, tháng 12 – 1020, vua Lý đã sai Khai Thiên vương đem quân đi đánh Champa ở Bố Chính (Quảng Bình) Tại trận đánh ở núi Long Tỵ (huyện Bình Chính – Quảng Bình), tướng Champa là Bố Linh bị chém, quân Champa bị chết quá nửa Quan hệ giữa Champa và Đại Việt sau đó tạm yên ổn, Champa lại quy phục Đại Việt Theo sử cũ thì “tháng 4 năm kỷ Mão (1034), con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng bọn Lạc Thuẫn, Sạ Đẩu, La

Kế, A Thái Lạt 5 người sang quy phục nước ta” [6; 57] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, năm 1041, vua Champa mất, con là Sạ Đẩu nối ngôi Đối với Đại Việt, Sạ Đẩu không thuần phục và thường xuyên mang quân quấy rối ở vùng biên giới Tháng 4 – 1043, Champa đem quân cướp bóc dân ven biển Vua Lý sai Đào Xử Trung đem quân đi đánh dẹp được Trước thái độ của vua Chiêm, tháng giêng năm Giáp thân (1044), Lý Thái Tông đích thân đem quân đi đánh Champa Trong lần này 3 vạn quân Champa bị giết, vua Sạ Đầu bị giết Mùa thu, tháng 7 năm 1044, nhà Lý lại đem quân vào thành Phật Thệ, giành thắng lợi Sau lần thất bại này, vua Champa phải thần phục nhà Lý Tuy nhiên, từ đầu những năm 60 của thế kỷ XI, Rudravarman III lên trị vì thì quan hệ giữa Champa với Đại Việt lại có phần căng thẳng Một mặt vua Champa lo củng cố lực lượng quân đội trong nước, mặt khác cho sứ thần đem cống phẩm sang nhà Tống, muốn dựa vào nhà Tống để xâm lược Đại Việt Từ năm 1068, Champa đã cho quân quấy nhiễu vùng biên giới Trước tình hình đó nhà Lý đã chủ động đối phó Tháng 2 –

1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Champa Trong trận này, vua

Trang 4

Champa là Chế Củ (Rudravarman IV) bị bắt cùng 5 vạn dân chúng Chế Củ nhận thần phục được trả tự do và lại lên ngôi Để đổi lại hành động này, Chế Củ buộc phải cắt một phần lãnh thổ phía bắc của Champa cho Đại Việt Đó là 3 châu: Bố chính, Địa Lý, Ma Linh (nay là đất Quảng Bình và bắc Quảng Trị) [5; 136] Rudravarman IV trở về tiếp tục ở ngôi cho đến năm 1074 thì trong triều nổ ra một

vụ chính biến khiến cho ông vua này phải chạy sang xin phục Việt, đem theo hơn

3000 lính và vợ con Sau sự kiện này, lịch sử Champa diễn ra tuy vẫn sôi động, nhưng với thắng thế của dòng vua mới, tiêu biểu cho xu thế thống nhất và tự chủ Cuộc chính biến đã đưa một hoàng thân, tên là Thâng lên ngôi, lấy hiệu là Harivarman IV (1074 - 1081) Trong bia Mỹ Sơn (XII) ông đã kể lại rằng cha ông thuộc tộc Dừa (Bắc) và mẹ thuộc tộc Cau (Nam), cai trị cả vương quốc, nhưng lại rất tự hào vì đã “sinh ra trong tộc Cau dòng giống ưu việt của cả nước Champa” [2; 97] Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, ta thấy văn bia khẳng định sự thống nhất của vương quốc Champa, đạt được không phải bằng vũ lực mà bằng sự hòa hợp hai dòng họ Tuy rằng ta thấy Champa rất hiếm có dịp đạt được sự thống nhất hoàn toàn vững chắc trong suốt quá trình lịch sử của mình, nhưng mỗi lần như thế đều đánh dấu một bước phát triển hưng thịnh của nó Có lẽ, Harivarman IV đã

có ý thức về sự hưng khởi đó, về sức mạnh của vương quốc mình, nên mới đi gây chiến với các quốc gia ngay bên cạnh mình Ở đây cũng không thể không nghi ngờ

là đã có sự lôi kéo, xúi bẩy của nhà Tống vì những mục đích chung của họ Cho nên, mùa thu năm 1073 Champa vừa cử sứ thần sang triều đình Đại Việt thì ngay mùa xuân năm 1074 đã cho quân tiến công cướp phá Dường như Champa không thu được kết quả gì đáng kể trong lần tấn công này, nhưng lại tạo được cái

cớ để làm tăng thêm tham vọng xâm lược Đại Việt vốn có của triều đình Trung Quốc Tuy nhiên, sau thất bại của nhà Tống trong việc xâm lược Đại Việt, Champa tăng cường quan hệ thân thiện với Đại Việt, thường xuyên cử xứ thần sang cống Đồng thời cũng bắt đầu chuyển sang lo đối phó với vương quốc Campuchia, bấy giờ đang không ngừng mở rộng phạm vi quyền lực của mình Đến triều vua Chế MaNa (1086) quan hệ hòa hảo giữa Champa và Đại Việt không được duy trì Năm 1092, Chế MaNa không gửi sứ thần sang làm nghĩa vụ thần phục đối với nhà Lý mà lại sai sứ thần mang thư sang vua Tống và hẹn với vua Tống sẵn sàng phối hợp để đánh Đại Việt

Từ những năm đầu thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII, quan hệ giữa Champa và Đại Việt có phần phức tạp hơn vì lúc này có mối đe dọa với Champa bắt đầu xuất hiện

ở phía nam, đó là nước Chân Lạp Có những năm Chân Lạp lôi kéo người Chăm sang đánh Đại Việt đến tận Nghệ An để cướp phá, nhưng đều bị quân tướng nhà Lý

Quan hệ giữa Champa với Đại Việt thế kỷ X – XIII khá phức tạp, xung đột xảy ra thường xuyên Trong đó, Champa thường là nước gây chiến và là nước chuốc lấy thất bại Đại Việt trong giai đoạn này đang tập chung xây dựng đất nước, bảo vệ

Trang 5

nền độc lập mới giành được Trước sự quấy nhiễu biên giới phía nam của Champa,

để ổn định tình hình, Đại Việt đã nhiều lần đem quân đánh trả, giành thắng lợi,

Vương quốc cổ Champa đã trải qua giai đoạn đầu phát triển, đã thống nhất được quốc gia, phát triển nhà nước tự chủ Bước đầu xây dựng được một quốc gia đi đến thịnh đạt Nhưng sự thịnh đạt của Champa là sự thịnh đạt của một nước nhỏ, ít dân,

so với các quốc gia phong kiến khác trong khu vực cũng bước vào thời kỳ hưng khởi Phát triển trong sự thấp thỏm, dồn nén Cộng vào đó tiềm năng của đất nước hạn chế Điều này đã chi phối không nhỏ đến chính sách đối ngoại của vương quốc Champa trong giai đoạn này Phải chăng đây là nguyên nhân khiến Champa thực hiện chính sách ngoại giao thiếu mền dẻo, vừa tự hùng, vừa mặc cảm với các nước láng giềng, đặc biệt là với Đại Việt Những cuộc xung đột lớn nhỏ, xảy ra thường xuyên với Đại Việt ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ bang giao giữa hai nước Trong các cuộc xung đột đó, Champa thường là nước gây chiến và là nước chịu thất bại Nhìn chung, quan hệ giữa Champa với Đại Việt trong giai đoạn từ thế kỷ XI đến XIII là mối quan hệ bang giao, trong đó Champa là nước chịu thần phục với Đại Việt

II Quan hệ giữa Champa với Đại Việt giai đoạn 1220 – 1353

Thời kỳ từ 1220 – 1353 là thời kỳ phát triển thịnh đạt của Champa, không chỉ trong tiến trình phát triển năm thế kỷ của vương triều Vijaya mà trong toàn bộ lịch sử của vương quốc cổ Champa Sự phát triển này của Champa, mở đầu là những hành động tỏ ra thức thời của các vương triều nhằm tìm kiếm và củng cố sự bình ổn cho

Giai đoạn này bắt đầu bằng một chuỗi các sự kiện liên quan với nhau Năm 1220, Campuchia chủ động rút quân và rút chính quyền bảo hộ khỏi Champa Tấm bia chợ Dinh có câu: “Năm saka 1142 người Khơme đi về đất nước thần thánh, còn người Champa đi đến Vijaya, đức vua trị vì…” [2; 108] Dựa vào nội dung tấm bia, kết hợp với các sự kiện lịch sử cùng thời còn lại trong các thư tịch cổ, chúng ta có thể đoán định được vào năm 1220 công lịch chắc chắn sẽ có sự thay đổi lớn lao trong mối quan hệ giữa Champa và Campuchia Sự thay đổi này sẽ đưa đến những chính sách đối ngoại mới của Champa với các nước trong khu vực và gần gũi hơn

Người lên ngôi vua ở Champa sau sự kiện năm 1220 là Jaya Pramessvaravarman

II Những tấm bia về ông còn lại đủ để ngày nay ta có thể đoán định một cách chính sác thái độ thiết thực của vị vua này đối với Campuchia và chính sách đối ngoại với Đại Việt Trong suốt thời gian trị vì và cho đến hết đời ông vẫn giữ thái

độ thân, lệ thuộc vào Campuchia và kỳ thị đối với Đại Việt Trong một bối cảnh mà nước Đại Việt ở đầu thời Trần đang hưng thịnh, còn

Trang 6

Campuchia thì bắt đầu suy yếu và không khả năng tác động gì đáng kể về mặt quan

hệ quốc tế, đối với Champa cũng như đối với những nước khác Thái độ kỳ thị không thức thời đó dẫn Jaya Pramessvaravarman II đến chỗ “từ khi nhà Lý suy nhược, thường đem thuyền nhẹ đến cướp, bắt cóc dân ven biển… lại đòi đất cũ mà

có ý dòm ngó nước ta” (Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, tr.25) Đời vua tiếp theo là Jaya Indravarman VI, về căn bản vẫn giữ đường lối đối ngoại như cũ, tuy vẫn cử

Vào nửa đầu thế kỷ XIII, trước tình trạng suy yếu của Angkor đã rõ, thế mạnh của nước Đại Việt thời Trần và ý thức tự chủ muốn tách khỏi ảnh hưởng của Campuchia đã khiến một người trong hoàng tộc Champa giành lấy ngôi vua vào năm 1265, đặt vương hiệu là Indravarman IV Indravarman IV là người sáng lập ra triều vua phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử vương quốc Champa Nét nổi bật nhất của vương triều này là sự chuyển hướng căn bản trong đường lối đối ngoại của nó.

2 Quan hệ hòa hảo giữa Champa với Đại Việt giai đoạn 1220 – 1353 Indravarman IV hoàn toàn không lo ngại vương quốc Campuchia đang suy yếu, đã dồn sự quan tâm thiết lập và phát triển mối quan hệ hòa hiếu với Đại Việt Hầu như hàng năm Champa đều cử sứ thần sang Đại Việt mang theo đồ cống tặng và củng

cố quan hệ thân thiện giữa hai nước Mối quan hệ này đã được tăng cường và thể hiện một cách hết sức tốt đẹp trong những năm kháng chiến chống sự xâm lược Champa của nhà Nguyên (1283 - 1284) Qua diễn biến cuộc kháng chiến chống nhà Nguyên đã thể hiện rõ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Mối quan hệ tốt đẹp

đó có được chẳng những là một nhu cầu tự nhiên mang tính khách quan vốn có của những quốc gia trong cùng một khu vực mà đồng thời nó còn đòi hỏi sự cố gắng thiện chí, hiểu và giúp đỡ lẫn nhau của hai nước Đại Việt và Champa lúc đó Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Đại Việt hiểu rõ mục tiêu hàng đầu của nhà Nguyên là tấn công Đại Việt, một đối thủ đã thử sức và đã được chứng tỏ

là hoàn toàn không dễ đánh Nhưng nếu nhà Nguyên dụ hàng hoặc thôn tính được Champa bằng vũ lực thì Đại Việt sẽ rơi vào thế bị kẹt giữa và khó có thể chống đỡ được khi bị tấn công từ hai phía Champa có lẽ cũng nhận thức được một cách rất sau sắc là chủ quyền của mình gắn liền với sự thắng bại của Đại Việt, chứ không phải sự dụ dỗ của nhà Nguyên Do đó, cả hai bên Đại Việt và Champa đều tỏ ra rất

ăn ý với nhau, cùng có thái độ bền bỉ, kiến quyết và dũng cảm trước mọi sự uy

Sau khi dụ hàng Champa đến 8 lần không được, tháng 12 – 1282, quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy tấn công Champa Trong cuộc chiến này, Đại Việt đã chi viện cho Champa một đạo quân đáng kể gần 2 vạn người và 500 chiến thuyền trong lúc chính Đại Việt đang đứng trước nguy cơ xâm lược [3; 35] Hành động thiết thực đó

đã nói lên sự gắn bó thân thiết của Đại Việt với Champa lúc bấy giờ Mối tị hiềm vốn có giữa Đại Việt – Champa đã không bị lợi dụng trong cuộc kháng chiến này Nhà Nguyên đã thất bại khi muốn mượn Đại Việt để tạo những cơ hội

Trang 7

đánh Champa, cũng như thất bại khi muốn thôn tính Champa để tấn công Đại Việt Nhờ quan hệ hòa hiếu đã được thiết lập từ trước và trong chiến tranh, hai quốc gia

có thể đoàn kết và giúp đỡ lần nhau Champa đã giành thắng lợi trước một kẻ thù đầy sức mạnh và hung hãn tung hoành khắp thế giới lúc này Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình Champa giành chiến thắng trước một kẻ thù xâm

Chiến thắng đã tăng cường quan hệ hòa hiếu tốt đẹp giữa Đại Việt và Champa Năm 1284, một phái bộ của Đại Việt được cử đến Champa đem trả 30 tên quan Chăm vì đi theo quân Nguyên mà bị bắt [2; 117] Năm 1285, hoàng tử Harijit – Việt sử gọi là Chế Mân lên ngôi, hiệu là Jaya Sinhavarman IV Dưới thời Jaya Sinhavarman IV, mối quan hệ tốt đẹp giữa Champa và Đại Việt tiếp tục phát triển Mối quan hệ giữa hai nước trở nên thân thiết đến mức có việc dường như đã vượt quá cả những hủ tục ngoại giao thông thường, như việc năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông nhân có sứ bộ Chiêm Thành về nước đã theo sang chơi từ tháng 3 đến tháng 11 mới trở về Thời gian lưu lại rất lâu, tới 8 tháng, nhân dịp này, thượng hoàng nhà Trần hứa gả con gái của mình cho vua Chế Mân Năm 1306 công chúa Huyền Trân trở thành vợ thứ 3 của Chế Mân và được coi là hàng hậu cao quý nhất Trong lễ cưới này, vua Champa đã đem nhiều đồ sính lễ, vàng bạc và cả đất đai là hai châu Ô và Lý (bắc Quảng Trị và Thừa Thiên) Đến đây, toàn bộ vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay đã được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt [ 2; 120] Chế Mân qua đời năm 1307 như dự báo trước sự ra đi của một thời thịnh trị và bình yên Khoảng năm đời vua tiếp theo của dòng họ này, quan hệ Champa – Đại Việt vẫn giữ được như cũ, tuy có nhạt đi ít nhiều và dần dần trở nên phức tạp hơn

do những điều kiện mới của quan hệ giữa hai nước Quan hệ tốt đẹp giữa Champa và Đại Việt tiếp tục được củng cố và tăng cường trong những năm cùng chống ngoại xâm và những năm tiếp theo, dưới hai triều vua Jaya Sinhavarman III và IV Sau đó đã dần trở nên phức tạp hơn do những điều

Nhìn chung, trong suốt nửa đầu thế kỷ XIV, về hình thức, Champa vẫn giữ quan hệ

cũ – cống nạp, cầu phong, nhưng không còn được như trước, nên mới có chuyện năm 1346 vua Đại Việt sai sứ sang Chiêm Thành “trách hỏi về việc thiếu lễ triều cống hàng năm” và “mùa đông tháng 10, Chiêm Thành sai sứ sang cống, lễ vật rất

Năm 1353, một cuộc chính biến sảy ra trong triều đình Champa, nhà Trần đem quân sang giúp một bên, can thiệp sâu vào nội tình của họ nhưng thất bại Sự việc này đánh đáu nhà Trần bắt đầu suy yểu và quan hệ tốt đẹp gần một thế kỷ giữa

Hơn một thế kỷ, nhất là dưới thời trị vì của Indravarman IV và Sinhavarman III và

Trang 8

Sinhavarman IV là những trang sử rất đẹp của Champa, là sự chiến thắng và tình thân Champa đã chuyển hướng kết thân với Đại Việt vào lúc Đại Việt ở vào thời

kỳ thịnh trị của nhà Trần, cả Champa cũng đang bước vào giai đoạn phát triển thịnh đạt nhất trong lịch sử phát triển của vương quốc mình Cả hai đều mạnh, nhưng không vì mạnh mà họ xâm chiếm nhau, mở rộng phạm vi quyền lực của mình như các triều vua phong kiến phương Đông thường làm Champa và Đại Việt đều tập chung để xây dựng và bảo vệ đất nước của mình Trong giai đoạn này, trên cơ sở mối quan hệ bang giao, Champa và Đại Việt đã thiếp lập mối quan hệ thân tình, hòa hảo Nhìn chung, Champa vẫn là nước chịu thần phục nhưng mối quan hệ hòa hảo, thân tình là nét nổi bật trong quan hệ giữa Champa với Đại Việt Trên cơ sở đó, cả Champa và Đại Việt đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước III Quan hệ giữa Champa với Đại Việt giai đoạn 1353 – 1471

mở đầu giai đoạn của cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia (1352 - 1432) Sau ba lần bị Ayuthaya tấn công, Campuchia đã phải rởi bỏ kinh đô Angkor (1432) Campuchia do phải lo chống đỡ trước sự tấn công của Ayuthaya nên đứng ngoài

Nước thứ hai có quan hệ với Champa ở giai đoạn trước là Giava, thời kỳ này vẫn giữ được quan hệ thường xuyên, nhưng cũng không có ảnh hưởng về chính trị đối với Champa vì ở xa ngoài biển và hơn nữa vương triều Mojopahit cũng bắt đầu suy thoái.

Nước Đại Việt, trong thời gian cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV đã diễn ra những biến động lớn Nửa cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu, nội bộ đất nước lục đục, triều chính rối ren Năm 1400, Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ Năm

1407, Đại Việt bị nhà Minh xâm chiếm Cuộc kháng chiến thất bại của nhà Hồ đã đưa Đại Việt vào thảm họa bị nô dịch dưới ách thống trị, đô hộ của phong kiến nhà Minh suốt 20 năm, từ năm 1407 đến 1427 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo thắng lợi, hòa bình được lập lại đã đưa đến sự thiết lập một triều đại mới – nhà Lê Sơ ở Đại Việt Chính quyền nhà Lê Sơ đã thực hiện những chính sách tích cực, đưa Đại Việt vào thời kỳ phát triển thịnh đạt Như thế, mối quan hệ còn lại của Champa trong giai đoạn này là mối quan hệ với Đại Việt Do đó, chính sách ngoại giao của vương triều Vijaya đối với Đại Việt có ảnh hưởng trực tiếp, quan trọng, tới tình hình Vijaya và số phận lịch sử của dân tộc

Trang 9

1 1352 Hoàng tử Champa là Chế Mỗ sang cầu cứu Đại Việt

2 1353 Đại Việt cử binh sang đánh nhưng thất bại.

3 1360 - 1391 Champa hơn 15 lần tấn công Đại Việt, trong đó có hai lần đánh đến kinh đô Thăng Long Triều đình nhà Trần đã phải lo chống đỡ rất vất vả.

4 1390 Chế Bồng Nga đem quân đánh Đại Việt Tướng Trần Khát Chân đã chỉ huy, bắn trúng thuyền làm chết ông vua kiêu hùng của Champa.

5 1400 - 1407 Hồ Quý Ly bốn lần đem quân đánh Champa Champa phải cắt đất

6 1427 Champa sai sứ sang cống, thiết lập quan hệ hòa hảo với Đại Việt

9 1469 Người Chiêm Thành đi thuyền, vượt biển đến quấy Châu Hóa.

10 1470 Quốc vương Chiêm Thành đem quân thủy bộ, ngựa voi hơn 10 vạn đánh

11 1471 Vua Lê Thánh Tông đích thân đem 26 vạn quân đi đánh Champa, bắt được

Mở đầu cho giai đoạn mới trong quan hệ Champa – Đại Việt là sự kiện mà Đại Việt

sử ký toàn thư đã ghi lai khá đầy đủ Sự kiện này bắt nguồn từ việc vua Chế A Nan mất năm 1342, con rể là Trà Hòa Bố Để giành ngôi của Chế Mỗ (con của Chế A Nan) Năm 1352, Chế Mỗ sang cầu cứu Đại Việt Năm 1353, Đại Việt cử binh sang đánh nhưng thất bại, phải quay về [2; 124] Tuy nhiên, nhìn chung dưới thời Trà Hòa Bồ Để, tình hình Champa, cũng như quan

hệ Champa và Đại Việt vẫn còn yên ổn, không có những biến cố lớn Khoảng năm 1360, ở Champa, Chế Bồng Nga lên ngôi, đã kích động được dân Champa chống Đại Việt, muốn phá vỡ ý thức thần phục đã nảy sinh trong điều kiện quan hệ giữa hai nước trước đó; đồng thời phá vỡ quan hệ hòa hiếu đã xây dựng được trong một thời gian dài Trong Việt sử, Chế Bồng Nga gắn liền với giai đoạn

từ 1360 – 1390, giai đoạn mà nhà Trần ở nước Đại Việt suy yếu Champa lợi dụng tình hình này, đem quân tấn công liên tục vào Đại Việt Trong những năm đầu (từ năm 1361 - 1368) gần như một năm một lần Tính đến năm 1391, trong khoảng 30 năm, Champa hơn 15 lần tấn công Đại Việt, trong đó có hai lần đánh đến kinh đô

Trang 10

Thăng Long Triều đình nhà Trần đã phải lo chống đỡ rất vất vả Các vua nhà Trần

đã mấy phen phải rời khỏi kinh thành và đem vất giấu của cải đi nơi khác [3; 85] Trong suốt 30 năm lên cầm quyền của Chế Bồng Nga (1360 - 1390) Đất nước Champa đã lao vào cuộc xung đột sống còn với Đại Việt Đó là những năm tột cùng của sự gây cấn và có những tác động trực tiếp tới quan hệ giữa Champa với

Năm 1390, nhân lúc triều đình nhà Trần rối ren, Chế Bồng Nga lại đem quân đánh Đại Việt Nhưng sự bất đồng đã sảy ra trong hàng ngũ Champa Một viên quan Chăm đã chạy sang Đại Việt và báo cho biết thuyền của Chế Bồng Nga Tướng Trần Khát Chân đã chỉ huy, bắn trúng thuyền làm chết ông vua kiêu hùng của

Đối với Đại Việt, sự kiện Chế Bồng Nga là hình ảnh của một bài học lớn về Champa Đối với Champa, tham vọng và cái chết của Chế Bồng Nga đã dẫn đến sự suy sụp nhanh chóng, không cưỡng lại được Hơn ba mươi năm xung đột mất còn với Đại Việt Champa không thắng mà cũng chẳng thu được gì ngoài sự suy kiệt do

Hành động đánh phá điên cuồng và liên tiếp chắc có làm thỏa mãn tham vọng về của cải và uy tín của Chế Bồng Nga, nhưng rõ ràng là Chế Bồng Nga đã không tỉnh táo để thấy được thực lực của cả hai bên Những lần tấn công tuy có làm cho Đại Việt khốn khó nhưng do tiềm lực kinh tế và dân số lớn hơn nhiều, sau mỗi lần

bị tấn công, Đại Việt vẫn có khả năng tiếp tục củng cố lực lượng và tăng cường phòng thủ Trong khi đó, tiềm lực của Champa rất hạn chế Ngay cả những lần chiếm được kinh đô, họ chỉ cướp phá, rồi lại vội vã rút lui Đối với một nước mà kinh tế không phát triển, dân số lại ít, sự huy động cho chiến tranh mỗi năm một lần sẽ đem lại hậu quả tai hại nhiều hơn là có lợi Sau khi Chế Bồng Nga chết, đại tướng là La Ngai dẫn quân chạy về, tự lập làm vua Trong những năm tiếp theo tình hình lắng dịu hẳn đi, tuy vẫn có vài lần xung

Ở ngôi 10 năm, năm 1400 La Ngai qua đời, con là Ba Đích Lai (Indravarman V) lên ngôi Lúc này Đại Việt cũng có sự thay đổi quan trọng là việc Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần Trong thời gian Chế Bồng Nga tiến đánh, là một tướng có tài và là người nắm trọng trách ở triều đình nhà Trần, Hồ Quý Ly là người chỉ huy các cuộc chống cự có hiệu quả hơn cả Đến đây, nắm trọn quyền hành trong tay, một trong những công việc mà Hồ Quý Ly dồn sức nhiều nhất là đánh lại Champa Trước sau, ông đem quân đại Champa 4 lần trong vòng 7 năm Trong tình thế ấy, Ba Đích Lai

đã phải cắt hai châu Chiêm Động và Cổ Lũy để cầu hòa Hồ Quý Ly lấy đất ấy lập

ra bốn châu (Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa) và gộp làm hộ Thăng Hoa (Chiêm Động là Quảng Nam và Cổ Lũy là Quảng Ngãi ngày nay) Lại lấy cả miền thượng du của đất ấy để lập thành đất Tân Ninh Biến giới phía bắc của Champa lui vào đến đất

Trang 11

Năm 1407, nhà Minh xâm chiếm Đại Việt, nhà Hồ sụp đổ Champa đã tranh thủ lấy lại đất Thăng, Hoa Khi nhà Lê dấy nghiệp, thì Champa muốn nhanh chóng lập lại quan hệ cũ nên đã sai sứ sang cống (năm 1427) trước khi diễn ra trận tổng công kích cuối cùng của nghĩa quân Đại Việt vào quân Minh Từ đó đến cuối đời Indravarman V, cả Đại Việt và Champa đều lo khôi phục và xây dựng đất nước, đều giữ quan hệ thân thiện với nhau và thường xuyên cử sứ thần qua lại Sứ thần Chiêm Thành đã từng được “ban yến, cho ngựa và lụa”, và vua Chiêm Thành cũng được gửi tặng “ngựa và đồ uống bằng pha lê xanh trắng” [2; 129] Khoảnh khắc yên ổn của vương quốc Champa nhờ sự gắng gượng của Indravarman V cũng ra đi cùng với sự ra đi của ông Sau Bá Đích Lai, ở Champa diễn ra tình trạng tranh chấp, lật đổ, tiếm ngôi Và dường như vì không đủ sức để

tự xây dựng đất nước, cứ vào thời gian nào tương đối ổn định thì vua Chăm lại đem quân tấn công Đại Việt để cướp của cải, lương thực và giành lại đất đai đã mất.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại liền trong hai năm 1444 – 1445 đến cướp phá Châu Hóa Năm 1469 “tháng 3, người Chiêm Thành đi thuyền, vượt biển đến quấy Châu Hóa” Một năm sau, năm 1470 lại thấy quốc vương Chiêm Thành đem quân thủy

bộ, ngựa voi hơn 10 vạn đánh úp Châu Hóa (tr.228 Q.III) Nếu số quân 10 vạn mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi là đúng thì có lẽ vua Champa đã vét gần hết những người có thể đánh nhau được vào cuộc chiến mù quáng này Vua Chăm đã không tính đến tình trạng kiêt quệ của nước mình vì những cuộc chiến tranh liên miên Sự mặc cảm và kỳ thị của Champa giành cho Đại Việt lúc này là không thức thời Đại Việt mới khô phục và phát triển thịnh đạt qua một nửa thế kỷ sau chiến thắng quân Minh Những năm 70 của thế kỷ XV là những năm vua Lê Thánh Tông tràn trề ý thức về sự vươn lên và tự hùng của Đại Việt Chính trong bối cảnh đó, năm 1471, bực mình vì hành động đánh phá liên miên của Champa ở phía nam, vua Lê Thánh Tông đích thân đem 26 vạn quân đi đánh Champa, bắt được vua Champa và chiếm được kinh đô Vijaya Như vậy, đến năm 1471, trên thực tế Champa không còn nữa Vua Lê lấy đất Vijaya nhập vào Chiêm Động, Cổ Lũy, lập một đạo mới gọi là đạo Quảng Nam Sau đó, Lê Thánh Tông còn tiến quân đẩy Champa vào phía nam Đèo Cả, lấy đất Phú Yên ngày nay lập hai nước nhỏ làm đệm: Nước Hoa Anh ở đồng bằng và nước Nam Bàn ở miền núi, cử tù trưởng địa phương làm vua [3; 90] Vijaya của người Chăm đã bị mất cùng với cả vùng đất Phú Yên Vùng kinh đô thống nhất gần năm thế kỷ đã bị sát nhập vào Đại Việt cùng với sự ra đi của vương triều Vijaya Phần lớn dân và triều đình đã bỏ chạy sang Sumatra và lui vào miền nam Nước Champa bị thu hẹp từ Đèo Cả ở phía bắc đến lưu vực sông Đồng Nai ở phía nam Họ sinh sống chủ yếu ở vùng đất nhỏ nghèo nàn Panduranga và ngày càng thưa thớt cùng với sự suy vi của đất nước.

Trang 12

Nhìn chung, trong giai đoạn 1353 – 1471, đã chứng kiến nhiều biến động lớn trong quan hệ giữa hai nước, những biến động đó ảnh hưởng trực tiếp đến số phận của vương quốc Champa Quan hệ hòa hảo được thiết lập khi cả Champa và Đại Việt đều mạnh, trong đó Champa là nước chịu thần phục Nhưng khi Đại Việt suy yếu, Champa thường xuyên đem quân đánh phá, cướp bóc, nhiều phen gây cho chính quyền Đại Việt khốn đốn Khi Đại Việt phục hồi đã đem quân đánh trả, sau nhiều cuộc chiến tranh mà phía Champa là nước chịu thất bại đã phải cắt đất cầu hòa, lãnh thổ của Champa bị thu hẹp dần Đến năm 1471, Lê Thánh Tông dẫn quân đánh Champa, chiếm kinh đô Vijaya Vijaya mất, sự kiện này đánh dấu sự suy vong hoàn toàn của vương quốc cổ C

Chương II

Trang 13

QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ VỀ PHÍA NAM

TRONG CÁC THẾ KỶ XI-XV

1 Vùng đất phía Nam

Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, nhà nước phong kiến Đại Việt chú trọng mở rộng lãnh thổ về phía Nam Đĩ là khu vực thuộc lãnh thổ của vương quốc Chiêm Thành và Chân Lạp Hai quốc gia này ngày một suy yếu và lâm vào khủng hoảng, các cuộc xung đột xảy

ra với Đại Việt càng làm cho họ nhanh chĩng suy yếu và lãnh thổ cũng ngày một thu hẹp lại Theo ghi chép của LiTana đĩ là vùng đất mà mọi người thường gọi là “vùng đất mới”, bao gồm lãnh thổ thuộc các tỉnh miền Trung và Nam Bộ ngày nay Một dải đất dài

và hẹp, nằm giữa núi và biển Theo LiTana vùng đất mới này cĩ thể chia thành ba vùng tựnhiên khác nhau, hai vùng đầu cĩ diện tích tương đối rộng, thuận lợi cho việc phát triển

sản xuất nơng nghiệp “Vùng thứ nhất, ngày nay là Quảng Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng 1800 cây số vuơng Nước do sơng Thu Bồn và nhiều nhánh của con sơng này cung cấp Vùng thứ hai tương ứng với vùng đồng bằng Bình Định trù phú ngày nay,

cĩ tổng diện tích là 1.550 cây số vuơng, cĩ hai dãy núi khác nhau bao quanh Hai thung lũng của vùng đất này được sử dụng nguồn nước của hai con sơng Đà Rằng và Lai Giang

Vùng thứ ba gồm ba thung lũng thơng thương với nhau một cách dễ dàng, một vùng khác biệt, các sách của Trung Hoa được viết trong thời kỳ từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 coi đây như là một quốc gia riêng biệt” 11 Đĩ chính là vùng đất của vương quốc Champa hay

Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp, sau này bị chính quyền chúa Nguyễn xâm chiếm, sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong

1.1 Chiêm Thành Chiêm Thành cịn được gọi là Champa, Lâm Ấp hay Hồn Vương

Sử cũ của ta hay gọi là Chiêm Thành Champa là một quốc gia của người Chàm, nằm ở phía nam của nước Đại Việt xưa, trên lãnh thổ tương đương với vùng đất miền Trung của nước ta ngày nay, bao gồm từ địa phận tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Bình Thuận Phía Tây Bắc giáp với nước Ai Lao, phía Bắc giáp Đại Việt, phía Nam và Tây Nam giáp Chân Lạp,phía Đơng giáp biển Từ thời xưa, những cư dân Chăm đã sống rải rác trên các vùng đất phía nam của sơng Gianh (Quảng Bình), cĩ mối quan hệ khá mật thiết với dân tộc Việt Thời kỳ nước ta bị phong kiến phương Bắc đơ hộ nước ta, đất nước của nhân dân Chăm cũng chịu ách đơ hộ của phong kiến nhà Hán Thời Tây Hán đất của người Chăm cũng bị chiếm đĩng Cư dân Chăm sống chủ yếu trên đất của huyện Tượng Lâm, huyện cực nam của quận Nhật nam, cĩ trị sở đĩng ở Trà Kiệu Đất Tượng Lâm tương ứng với vùng đất của tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM

VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ VỀ

PHÍA NAM TRONG CÁC THẾ KỶ XI - XVIII

Giảng viên hướng dẫn: TS TRẦN THỊ THANH THANH

Trang 14

Sinh viên thực hiện : TRỊNH NGỌC THIỆN Khĩa 31 (2005-2009) THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

5 - 2009Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII

Khĩa luận tốt nghiệp Trang 2

Trang 15

LỜI CẢM ƠN Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn cô Trần Thị Thanh Thanh, người

trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức và phương pháp để em hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Lịch

Sử trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã hướng dẫn, giảng dạy, cung cấp kiến thức và phương pháp trong 4 năm học qua để ngày hôm nay em được trở thành một thầy giáo dạyLịch sử Các thầy cô là những tấm gương về lao động và tận tụy với học trò mà em sẽ mãi noi theo Tôi cũng xin chân thành cảm ơn nhiều bạn trong lớp đã giúp tôi trong việc tìm kiếm tư liệu và cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng, cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Thư viện Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nhà sách Xưa và Nay đã giúp tôi trong quá trình tìm kiếm và mượn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành

đề tài này Được sự giúp đỡ của Thầy Cô và bạn bè, cùng với những nỗ lực của bản thân,

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đề tài “Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII”, xin kính trình Quý Thầy Cô trong

Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp Do trình độ nghiên cứu và thời gian có hạn, luận văn này chắc chắn không tránh khỏi có thiếu sót và hạn chế Rất mong được sự góp ý và chỉ dẫn của Thầy Cô Em xin trân trọng cảm ơn Sinh viên

Trịnh Ngọc ThiệnChính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế

kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 3

Trang 16

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tư liệu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục của luận văn 7

Chương I: CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THẾ KỶ XI-XVIII 9

1 Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao 9

1.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV) 9

1.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV) 16

1.3 Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI – XVIII) 19

2 Chính sách kinh tế - văn hóa – xã hội 24

2.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV) 24

2.2 Thời Lê Sơ (thế kỷ XV) 27

2.3 Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI-XVIII) 30

Chương II: QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ VỀ PHÍA NAM TRONG CÁC THẾ KỶ XI-XV 35

1 Vùng đất phía Nam 35

1.2 Chiêm Thành……… 35

1.2 Thủy Chân Lạp 40

2 Hoạt động quân sự - ngoại giao của Đại Việt 43

2.1 Thời Lý – Trần – Hồ (thế kỷ XI-XIV) 43

2.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV) 50

3 Việc di dân, khai khẩn đất đai và vai trò của nhà nước 57

Chương III: QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ VỀ PHÍA NAM TRONG CÁC THẾ KỶ XVI – XVIII 76

1 Nguyễn Hoàng và con đường về phương Nam 76

2 Hoạt động quân sự, ngoại giao của chính quyền Đàng Trong 80

3 Công cuộc di dân, khai khẩn đất đai và vai trò của nhà nước phong kiến 88

3.1 Chúa Nguyễn và vùng đất Thuận – Quảng 88

3.2 Hôn nhân giữa vua Chân Lạp, vua Chăm Pa và công nương Đại Việt…… 98

3.3 Lương Văn Chánh và vùng đất Phú Yên 101

3.4 Chúa Nguyễn và trấn Thuận Thành 104

3.5 Nguyễn Hữu Cảnh và vùng Đồng Nai – Gia Định 105

3.6 Di dân người Hoa trên đất Nam Bộ 118

3.6.1 Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên 122

3.6.2 Trần Thượng Xuyên và vùng đất Cù Lao Phố 129

3.6.3 Dương Ngạn Địch và vùng đất Mỹ Tho 132

3.7 Đấu tranh giữ gìn và bảo vệ vùng đất mới 135

KẾT LUẬN 153

Tài liệu tham khảo 161 Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 4

Trang 17

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt không phải làmột đề tài mới Rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập vấn đề này Các công trình nghiên cứu đã đề cập rất nhiều nội dung, nhiều giai đoạn của quá trình mở rộng lãnh thổ

về phía Nam của quốc gia Đại Việt Gần đây, một cuộc hội thảo khoa học về chúa

Nguyễn và vương triều Nguyễn được tổ chức ở Thanh Hóa (tháng 12/2008) cũng góp phần cung cấp thêm tư liệu và nhận định về quá trình này Cho đến nay, một sự nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về quá trình này vẫn đang là mối quan tâm, là sự cần thiết đối với những người nghiên cứu và học tập lịch sử Chúng tôi hy vọng những vấn đề được khóa luận này nghiên cứu và đề cập sẽ góp phần hệ thống hóa những sự kiện cụ thể, cungcấp thêm tư liệu cho cái nhìn tổng quát và đầy đủ về quá trình mở rộng lãnh thổ của Đại Việt về phía Nam Việc nghiên cứu tìm hiểu đề tài sẽ giúp tôi bổ sung và mở rộng hiểu biết của bản thân, nâng cao nhận thức về một giai đoạn quan trọng của lịch sử nước nhà, góp phần tích lũy tư liệu giúp ích cho việc giảng dạy sau này, và nhất là được tập dượt nghiên cứu khoa học Là một người yêu thích tìm hiểu lịch sử, tôi nhận thấy đây là một

đề tài hay và có ý nghĩa nên đã quyết định chọn làm đề tài luận văn, và cố gắng trả lời câu hỏi: Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt diễn ra từ đầu đến cuối như thế nào? Chính quyền phong kiến Đại Việt có vai trò như thế nào trong quá trình đó?

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tƣ liệu

Trong bối cảnh của Đông Nam Á nói chung và của nước ta nói riêng trong các thế kỷ XVIII, việc mở rộng lãnh thổ, đất đai sinh sống là một nhu cầu tự nhiên, một quy luật củacác xã hội, các quốc gia thời tiền hiện đại Trong điều kiện kinh tế cơ bản là sản xuất nông nghiệp, nhu cầu này được thực hiện qua các hoạt động như khai hoang, lấn biển,

XI-mở rộng lãnh thổ, kể cả dùng lực lượng quân sự để thôn tính đất đai Trong các thế kỷ XI-XVIII, cư dân nước ta có hai hướng mở rộng địa bàn cư trú, khai phá đất đai: đó là hướng về phía biển và hướng về phía nam Quá trình này luôn có vai trò quan trọng của nhà nước phong kiến Trong thời đại bấy giờ, sự phát triển lớn mạnh của quốc gia Đại Việt và những cuộc xung đột giữa Đại Việt với các nước láng giềng đang ngày một suy yếu như Ai Lao, Champa, Chân Lạp là điều không thể tránh khỏi Vấn đề an ninh biên giới và yêu cầu quốc phòng đòi hỏi chính sách đối ngoại mềm dẻo nhưng cũng cương quyết trước những hành động xâm phạm đến lợi ích quốc gia Mối quan hệ với các nước liền kề biên giới chủ yếu bao gồm hai nội dung là xung đột và hoà hiếu Quá trình thụ đắc, quản lý đất đai về phía nam là một quá trình lịch sử, có quy luật, phổ biến trong khu vực, trong tương quan các quốc gia trung đại ở Đông Nam Á Cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề mở rộng lãnh thổ của Đại Việt nhưng những người nghiên cứu và học tập lịch sử vẫn cần có những công trình nghiên cứu một cách hệ thống

và tập trung về toàn bộ quá trình từ đầu đến cuối của việc mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phía nam Dưới đây là những công trình, tác phẩm tiêu biểu đã nghiên cứu về vấn đề từ nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau và ở từng giai đoạn cụ thể Chính quyền Đại Việt

và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 5

Trang 18

“Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh là một công trình nghiên cứu lịch sử

về cương vực, địa lý, hành chính Việt Nam qua các đời từ thời Văn Lang – Âu Lạc cho đến thời Nhà Nguyễn Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã có phần nói về

sự mở mang lãnh thổ vào Nam qua các đời Lý, Trần, Hồ, Lê Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng, cung cấp những tư liệu quý về cương vực lãnh thổ của nước ta

qua các đời Cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang, là một công trình nghiên

cứu về vùng đất phía Nam của Đại Việt, về vương quốc Champa và quốc gia Chân Lạp,

về vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn Tác giả đã dành một phần nói về cuộc Nam tiến của Đại Việt từ thời Nguyễn Hoàng, công cuộc khai phá vùng đất Đàng Trong,

về quá trình chiếm đất Champa, lấn đất Thủy Chân Lạp, mở đất Gia Định, về nhân vật Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên Đây là một công trình cung cấp nhiều tư liệu quý, quan

trọng về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước ta “Xứ Đàng Trong năm 1621”

của Critstophoro Borri cuốn ghi chép về Đàng Trong trong thời gian Critstophoro Borri lưu trú tại đây (năm 1621) 12 chương của cuốn sách tập hợp những ghi chép của

Critstophoro Borri về quốc hiệu, vị trí và diện tích, về khí hậu và những đặc tính của Đàng Trong, về đất đai, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt của nhân dân… Những ghi chép của ông cung cấp tư liệu về tình hình chính trị, lực lượng quân sự của các chúa Nguyễn, về việc buôn bán thương mại và cai quản hành chính ở một số vùng Các

chương ghi chép về Đàng Trong năm 1621 của Critstophoro Borri là tư liệu lịch sử quan trọng cho ta một cái nhìn tổng quát về mọi mặt của xứ Đàng Trong Trong Lời bạt của

cuốn sách “Xứ Đàng Trong năm 1621” của Critstophoro Borri, Sơn Nam cho rằng cuốn sách “…là tư liệu quý và quan trọng với những chi tiết cụ thể giúp ta hiểu thêm về bối cảnh vùng Quảng Nam – Quy Nhơn, về kinh tế thị trường đã tự phát hơn 50 năm trước khi cảng Cù Lao Phố hình thành ở Biên Hòa” “Quảng Nam qua các thời đại” của nhà

văn Phan Du và Ban Tu thư của Đà Nẵng là công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Nam từkhi còn là lãnh thổ của Chiêm Thành đến khi trở thành một phần lãnh thổ của Đại Việt Đây là một công trình nghiên cứu cung cấp những tư liệu quan trọng về lịch sử hình thành và phát triển của Quảng Nam, nhất là trong giai đoạn lịch sử quan trọng khi vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa tuyên Quảng Nam (1471), những chuyển biến, phát triển của vùng Thuận Hóa qua thời kỳ các chúa Nguyễn, những sự kiện, biến cố lịch sử đã xảy ra

trên vùng đất này Cuốn “Lịch Sử Champa” của giáo sư Lương Ninh là một công trình

nghiên cứu về lịch sử của nước Champa (hay Chiêm Thành), một quốc gia láng giềng ở phía Nam của Đại Việt Trong công trình của mình, tác giả trình bày về lịch sử nước Champa từ lúc hình thành qua các giai đoạn phát triển, khủng hoảng (Chương 7), những mối quan hệ bang giao, những cuộc xung đột, tranh giành lãnh thổ với nước láng giềng Đại Việt và cuối cùng được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, người Chăm trở thành một dân tộc thành phần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

“Xứ Đàng Trong- Lịch sử kinh tế -xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, Luận án tiến sĩ tại

Đại học Quốc gia Australia của LiTana là một công trình nghiên cứu có giá Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 6

Trang 19

trị về vùng đất phía Nam của Đại Việt trong giai đoạn có nhiều biến động quan trọng Tácgiả đi sâu vào nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội của Đàng Trong trong các thế kỷ 17,

18 Đặc biệt trong chương I (Vùng Đất Mới), tác giả đã trình bày về địa thế, cương vực,

tư liệu về nước Champa sau năm 1471, cuộc Nam tiến của nhân dân Đại Việt trước thời

các chúa Nguyễn, về những người đi tiên phong mở cõi Gia Định Thành Thông Chí của

Trịnh Hoài Đức là tập sách lịch sử-địa lý quý giá tập hợp những ghi chép, nghiên cứu về cương vực, địa giới, quá trình khai hoang phát triển của Trấn Gia Định từ buổi hoang sơ cho đến thời kỳ nhà Nguyễn Những ghi chép, nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức cung cấp cho chúng ta những tư liệu về việc khẩn hoang lập ấp, những chính sách cai quản và khai phá về vùng đất Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên, các tỉnh miền Tây Nam Bộ ngày nay… dưới thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu của vương triều Nguyễn Những ghi chép,

nghiên cứu của Lê Qúy Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cũng là những tư liệu quý đối với

việc nghiên cứu vấn đề Trong quyển I, Lê Qúy Đôn đã trình bày về lịch sử khẩn hoang, khai phá và khôi phục hai vùng đất Thuận Hóa và Quảng Nam, cũng như về tổ chức bộ máy chính quyền, hệ thống thuế khóa, quan lại, binh lính… ở hai vùng đất này dưới thời

các chúa Nguyễn Tác phẩm “Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ 17 ”của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, là công trình

nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Hữu Cảnh cũng như những công lao củaông trong công cuộc khai mở vùng đất phía Nam của Đại Việt trong thế kỉ 17 Các

chương 3,4,5 là những chương quan trọng nói về Nguyễn Hữu Cảnh trong công cuộc

“mở mang miền Nam, bình định và an dân đất Champa” (chương 3), “kinh lược xứ ĐồngNai”(chương 4) và “bình định vùng đất của Chân Lạp” (chương 5) Đây là công trình nghiên cứu cung cấp những tư liệu quan trọng về một trong những nhân vật có công lớn

trong việc mở rộng lãnh thổ, khai phá vùng đất mới của Đại Việt Cuốn “Mạc Thị Gia Phả ” của Vũ Thế Dinh do Nguyễn Khắc Thuần dịch, cung cấp tư liệu trong việc nghiên

cứu vùng đất Hà Tiên và dòng họ Mạc, những người tiên phong trong việc mở mang vùng đất cực Nam của tổ quốc Đọc Mạc Thị Gia Phả, chúng ta biết được những chính sách của họ Mạc trong việc quy tụ dân lưu tán mở đất Hà Tiên như thế nào, chính sách cai trị và mở mang vùng đất mới; về niên đại của sự kiện Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, và thấy rõ được công lao của Mạc Cửu và dòng họ Mạc đối với vùng đất

Hà Tiên và sự nghiệp mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn Bên cạnh đó còn phải kể tớicác công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về quá trình mở rộng lãnh thổ của Đại Việt, nghiên cứu về vùng đất duyên hải Miền Trung và vùng đất Nam Bộ được xuất bản trong

hai tác phẩm: Duyên hải miền trung Đất và Người (Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh và Tạp chí Xưa và Nay) và tác phẩm Nam Bộ Đất và Người (Tập 1,2,3,4,5) (Hội khoa học

Lịch sử Tp Hồ Chí Minh)

Ngoài ra còn nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan đến quá trình mở rộng

lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt như “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX” và “Lịch sử khai khẩn vùng đất Nam Bộ” của Huỳnh Lứa; “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” và “Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 7

Trang 20

Giang”… của nhà văn Sơn Nam; “Vùng đất cổ miền Đông Nam bộ” của Vương Liêm, Lược sử vùng đất Nam bộ của Vũ Minh Giang,…Nhiều tác phẩm, công trình biên khảo,

công trình nghiên cứu có giá trị đã cung cấp những tư liệu quan trọng và những kiến giải khoa học cho việc tìm hiểu về quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, so sánh, đối chiếu các sự kiện, nội dung lịch sử, thực hiện sưu tầm, phân loại tư liệu theo nội dung, lập phiếu nghiên cứu tư liệu, đối chiếu tư liệu với nhau để rút ra những kết luận Cuối cùng tiến hành ghép các phiếu nghiên cứu, chỉnh sửa nội dung, toànvăn khóa luận

5 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI-XVIII 1 Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao 1.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV) 1.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV) 1.3 Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI-XVIII) 2 Các chính sách kinh tế - văn hóa – xã hội 2.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV) 2.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV) 2.3 Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI-XVIII) Chương 2 Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XV 1 Vùng đất phía nam của Đại Việt 1.1 Chiêm Thành 1.2 Thủy Chân Lạp 2 Hoạt động quân sự - ngoại giao của Đại Việt 2.1 Thời Lý – Trần – Hồ (thế kỷ XI-XIV) 2.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV) 3 Công cuộc di dân, khai khẩn đất đai và vai trò của nhà nước Chương 3 Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XVI-XVIII 1 Nguyễn Hàng và con đường về phương Nam 2 Hoạt động quân sự, ngoại giao của chính quyền Đàng Trong 3 Việc di dân, khai khẩn đất đai

và vai trò của nhà nước 3.1 Chúa Nguyễn và vùng đất Thuận Quảng 3.2 Hôn nhân giữa vua Chân Lạp, vua Chăm Pa và công nương Đại Việt 3.3 Lương Văn Chánh và vùng đất Phú Yên Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI- XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 8

Trang 21

3.4 Chúa Nguyễn và trấn Thuận Thành 3.5 Nguyễn Hữu Cảnh và vùng đất Đồng Nai – Gia Định 3.6 Di dân người Hoa trên đất Nam Bộ 3.6.1 Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên 3.6.2 Trần Thượng Xuyên và vùng đất Cù Lao Phố 3.6.3 Dương Ngạn Địch và vùng đất

Mỹ Tho 3.7 Quá trình đấu tranh giữ gìn và bảo vệ vùng đất mới Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 9

Trang 22

Chương I

CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THẾ KỶ XI-XVIII

1 Các chính sách chính trị - quân sự - ngoại giao

1.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV)

Về chính trị Thế kỷ X đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc ta Năm 938, Ngô

Quyền đánh thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt gần một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, khôi phục nền tự chủ, độc lập Dân tộc ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng, phát triển và bảo vệ quốc gia quân chủ độc lập thống nhất.Trong các thế kỷ X-XV, nước Đại Việt phát triển và hưng thịnh, trở thành một nước hùng mạnh trong khu vực Bộ máy hành chính từ trung ương tới địa phương ngày càng được hoàn thiện và củng cố Bộ máy nhà nước trung ương tập quyền ngày càng được hoàn thiện qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Hồ và đạt tới mức hoàn chỉnh dưới thời Lê

sơ Trong giai đoạn từ thời Lý (1009-1225) đến thời Hồ (1400-1407), trong bộ máy nhà nước, vai trò của tầng lớp quý tộc ngày càng quan trọng Thời Lý, vua là người nắm mọi quyền hành, đứng sau các đại thần là đội ngũ quan lại gồm hai ban văn và võ Ban Văn

có thượng Thư, Tả Hữu Tham Tri, Phủ Sĩ Sư…Ban Võ có Đô Thống, Nguyên Soái, TổngQuản… cả nước được chia là 24 lộ, dưới lộ là các phủ, châu, huyện, xã Tại các lộ, phủ, huyện xã đều có đặt các chức quan cai quản Các vùng miền núi đều nhận được sự quan tâm và chú trọng của triều đình vì đây là nơi có vị trí chiến lược trong việc duy trì, ổn định biên cương của đất nước Tại những nơi này, các chức quan cai quản được giao cho các tù trưởng địa phương nắm giữ, theo chế độ cha truyền con nối Dưới triều Trần

(1225-1400), hệ thống hành chính của nước ta đã tương đối hoàn chỉnh, tình hình trong nước ổn định, nhân dân có cuộc sống đầy đủ, ấm no Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc Thời kỳ này, nhà Trần đã cho hợp các lộ nhỏ lại, chia cả nước thành

12 lộ Bộ máy nhà nước được tổ chức giống Nhà Lý nhưng quy củ và chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn với cơ cấu các cơ quan chức năng như Bộ, Các, Sảnh, Cục…, trong đó quý tộc

họ Trần nắm những chức vụ quan trọng nhất Năm 1225, vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, triều đại nhà Lý (1009-1225) đến đây chấm dứt, một triều đại mới được thành lập - triều đại Nhà Trần (1225 – 1400) Nhà Trần vừa được thành lập

đã gặp phải rất nhiều khó khăn, nhất là tình hình loạn lạc thời cuối Lý Với tài năng của Trần Thủ Độ cùng các tướng lĩnh, vua quan nhà Trần đã dần dẹp yên được các cuộc nổi loạn Đất nước bước vào giai đoạn thái bình, phát triển thịnh vượng

Sức mạnh của quốc gia và khối đoàn kết toàn dân đã làm nên những chiến thắng oanh liệttrước quân xâm lược Mông Nguyên, củng cố được chính quyền vững mạnh Nhưng vào cuối triều Trần, thời các vua từ Trần Dụ Tông trở đi, đời sống nhân dân không được chăm

lo cải thiện, nạn đói do thiên tai mất mùa thường xuyên xảy ra Các cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân nổ ra nhiều nơi trong cả nước Tiêu biểu là Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 10

Trang 23

các cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ ở vùng Hải Dương (1344-1360), cuộc nổi dậy do Tề phát động ở vùng Lạng Sơn năm 1354, cuộc nổi dậy do Ngô Bồ chỉ huy ở vùng Bắc Giang năm 1378, cuộc nổi dậy của Hồ Vệ ở vùng Nghệ An năm 1381.v.v… Cuối thế kỉ XIV, triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu, các vị vua lúc này không còn được anh minh nhưthuở đầu, đời sống nhân dân khổ cực vì quan lại tham nhũng, lộng hành Tháng 3 năm

1400, Hồ Quý Ly sau một quá trình chuẩn bị lực lượng, nhờ vào quan hệ ngoại thích với vua Trần, đã giành ngôi vua, tự lập hoàng đế Triều Hồ được dựng lên Hồ Quý Ly đổi gọi nước ta là Đại Ngu Tồn tại chưa đầy 7 năm, cuộc kháng chiến của nhà Hồ chống quân xâm lược bị thất bại, nước ta lại rơi vào ách đô hộ của chế độ phong kiến nhà Minh.Trong thời Lý-Trần-Hồ, các bộ luật được biên soạn và ban hành, thể hiện vai trò cai trị,

quản lý của nhà nước phong kiến Đại Việt Bộ luật Hình Thư thời nhà Lý, bộ Quốc triều thông chế và Hình luật thời nhà Trần, bộ Đại Ngu hình luật và Đại Ngu quan chế thời Hồ

ra đời phản ánh sự phát triển của các triều đại phong kiến ở nước ta bấy giờ Luật pháp là

cơ sở, công cụ để các triều đại duy trì và bảo vệ quyền lực của mình Sự ổn định của đất nước là điều kiện quan trọng để phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước Cuộc sống của nhân dân ngày càng được no đủ, đất nước ngày một hưng thịnh, lớn mạnh

Đây là giai đoạn các triều đại Lý, Trần, Hồ rất quan tâm và chú trọng đến việc bình ổn các vùng đất sinh sống của người dân tộc thiểu số, nhất là ở những vùng biên cương phía Bắc, nhằm ổn định tình hình đất nước, bảo vệ biên giới lãnh thổ Tại những vùng xa xôi này, bộ máy chính quyền của nhà nước vẫn chưa ảnh hưởng sâu đậm và chưa chi phối được bộ máy hành chính địa phương Chính quyền ở các châu, huyện miền núi thực tế vẫn nằm trong tay tầng lớp thống trị người địa phương Các triều vua phong kiến Đại Việt

đã dùng những chính sách đôi lúc “mềm dẻo” qua các cuộc hôn nhân, nhượng bộ quyền lợi tại địa phương cho họ Tiêu biểu như việc “Lý Công Uẩn gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu là Giáp Thừa Quý Thừa Quý đã đổi ra họ Thân và được làm châu mục Lạng Châu Con Thừa Quý là Thân Thiệu Thái nối cha tiếp tục làm châu mục Lạng Châu và năm 1029 lấy công chúa Bình Dương, con Lý Thái Tông”1 Nhưng cũng cương quyết trong việc ràng buộc tầng lớp thống trị miền núi và lúc cần thiết cũng phải dùng biện pháp trấn áp bằng lực lượng quân sự để bảo vệ sự thống nhất, bình yên cho đất nước Trong mỗi triều đại, đã xảy ra nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh của các tù trưởng dân tộc ít người Tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, Nùng Tồn Phúc thời Lý Nhờ

đó mà vùng đất biên cương của đất nước được duy trì ổn định, góp công lớn vào các cuộc

đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta Về quân sự

1 Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1) Nhà xuất bản Giáo

dục, 2005, tr 132

Quân sự là một lĩnh vực quan trọng đối với mỗi triều đại phong kiến, là công cụ để duy trì ổn định trong nước, bảo vệ đất nước khi giặc ngoại xâm Các triều đại phong kiến ở nước ta trong giai đoạn này chú trọng quan tâm và xây dựng cho mình một lực Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 11

Trang 24

lượng quân đội mạnh, để có thể bảo vệ biên cương, lãnh thổ của đất nước Quân đội còn

là công cụ để nhà nước duy trì và bảo vệ quyền lợi của mình, đàn áp lại những cuộc nổi loạn trong dân chúng Trải qua các triều đại, lực lượng quân đội của các triều đại ngày càng được tổ chức có quy mô, hoàn chỉnh trong công tác huấn luyện và trang bị vũ khí Cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế đất nước, các triều đại Lý – Trần – Hồ cũng rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển lực lượng quân đội, nhằm mục đích để duy trì hòa bình, an ninh trong đất nước và chống lại những cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài Đó cũng là công cụ để trấn áp những cuộc nổi dậy trong nhân dân Các hoàng đế

đã biết kế thừa từ kinh nghiệm xây dựng lực lượng quân sự trong các triều đại trước, đồng thời cũng nghiên cứu và học tập binh chế của Trung Quốc, nhằm xây dựng cho mình một lực lượng quân sự hùng mạnh Thời Lý, quân đội được chia làm 4 bộ phận, baogồm: Thiên tử quân, quân các Lộ, quân vương hầu và dân binh Để xây dựng quân đội

nhà Lý thực hiện chế độ nhân đinh trong khắp cả nước, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông” Quân đội gồm đủ cả bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kị binh,

trong đó bộ binh và thủy binh có số lượng đông nhất Thời Nhà Trần, quân đội gồm hai

bộ phận: cấm quân và quân các lộ Cấm quân là lực lượng vũ trang thường trực, có nhiệm

vụ bảo vệ hoàng đế, bảo vệ kinh thành và triều đình trung ương Quân các lộ là lực lượng

vũ trang ở địa phương, có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội ở các địa

phương Ngoài cấm quân và quân các lộ là lực lượng vũ trang của nhà nước, dưới thời

Lý, Trần còn có lực lượng vũ trang tư nhân, do các bậc Vương tước và Hầu tước tuyển chọn, huấn luyện và chỉ huy Ở các làng xã, nhân dân còn có lực lượng bán vũ trang do

họ tổ chức, đó là các đội dân binh Bên cạnh đó là lực lượng quân đội của các tù trưởng dân tộc miền núi Đây là một bộ phận quan trọng có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên cương,

và góp sức vào các cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta Các triều đại luôn

cố gắng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các vị tù trưởng miền núi, coi đó là một trong những chính sách quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ quyền lực của mình và hòa bình của đất nước Quân đội được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ, được tập

luyện có bài bản, theo quy chế, với chủ trương “quân lính cốt tinh nhuệ, không cần nhiều” Thời Trần quân đội Đại Việt được huấn luyện theo binh pháp của Đại Việt, sự ra đời của Bộ Binh thư yếu lược do Trần Hưng Đạo biên soạn đã đánh dấu sự phát triển của

khoa học quân sự nước ta thời bấy giờ Đến thời nhà Hồ, quân đội còn được trang bị cả súng thần cơ, một loại vũ khí lợi hại nhất lúc bấy giờ Đặc biệt, quân đội nhà Hồ còn đóng được những thuyền chiến lớn có lầu Cũng như các triều đại Lý-Trần, nhà Hồ còn thực hiện chủ trương xây dựng quân đội cốt tinh nhuệ, không cần đông

Sức mạnh của lực lượng quân đội dưới thời Lý-Trần đã được thể hiện và khẳng định trong các cuộc kháng chiến trong quân xâm lược của ngoại bang Điển hình là cuộc kháng chiến chống quân Tống dưới thời Lý, đặc biệt là ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông dưới thời Nhà Trần Đó là những chiến thắng vẻ vang, thể hiện sức Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 12

Trang 25

mạnh của quân đội nước nhà, đã góp công lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước Nghệ thuật quân sự của nước nhà còn được thể hiện ở tài thao lược của các tướng lĩnh Điển hình là trong cuộc kháng chiến chống Tống và chống Nguyên Mông Dưới thời Lý, trước âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã

thực hiện kế hoạch “tiên phát chế nhân”, “ngồi im đợi giặc không bằng trước hãy đem quân ra chặn thế mạnh của giặc” Kế sách đó của Lý Thường Kiệt đã làm tiêu giảm sức

mạnh quân sự của giặc trước khi chúng kịp đưa quân sang xâm chiếm nước ta, thắng lợi của Lý Thường Kiệt đã giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của nhà Tống Còn dưới thời Trần, trước sức mạnh kinh hồn của quân Nguyên - Mông, vua quan nhà Trần đã

thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, dựa vào dân để chiến đấu, thực hiện lối

“đánh du kích” nhằm tiêu hao dần lực lượng của chúng…Nổi bật là tài thao lược của

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, với sách lược dùng đoản binh áp chế trường trận Những kế sách đó đã bước đầu làm giảm nhuệ khí, sức mạnh của giặc và một khi giặc trởnên bị động suy yếu, quân dân nhà Trần bắt đầu tổ chức những cuộc tấn công trở lại tiêu diệt kẻ thù Chính những kế sách đó đã giúp quân dân, vua quan Nhà Trần ba lần đánh bại quân Mông Nguyên hùng mạnh, bảo vệ vững bền nền độc lập của dân tộc Lực lượng quân đội, và sức mạnh của quân sự Đại Việt thời Lý, Trần, Hồ còn được thể hiện trong các cuộc chiến đấu, bảo vệ vùng biên cương của đất nước Nhất là vùng biên giới phía Nam giữa Đại Việt và Champa Hai bên đã nhiều lần xảy ra xung đột quân sự Quân đội của Chiêm Thành thường xuyên có những cuộc tấn công vào các vùng giáp biên giới để cướp bóc, quấy nhiễu nhân dân sinh sống ở vùng biên giới hai nước Quân Đại Việt đã nhiều lần tấn công, đánh bại quân Chiêm Thành, điển hình là các năm 1069 (thời Lý),

1312, 1318, 1326, 1353, 1367, 1377, 1383 và 1396 (dưới thời Trần), các năm 1400, 1402,

1404 (thời nhà Hồ) Đặc biệt dưới thời Trần khi nhà Trần đã suy yếu không còn chăm lo đến xây dựng, phát triển đất nước, quân Champa đã nhiều lần mang quân tấn công vào lãnh thổ Đại Việt dọc các vùng biên giới, trong đó có những lần tấn công tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt, tiến đánh tới cả kinh thành Thăng Long (trong các năm 1361, 1366,

1371, 1377, 1378, 1380, 1382, 1389) Bên cạnh đó là các cuộc xung đột với Ai Lao ở biên giới phía Tây, Tây-Nam Nhà Trần đã năm lần đem quân đánh vào Ai Lao

(1290,1291,1294, 1334 và 1335), đánh dẹp các cuộc chống đối của người Ai Lao Những cuộc dùng binh của chính quyền phong kiến Đại Việt đều nhằm mục đích bảo vệ sự bình

yên của đất nước, nhất là ở những vùng biên cương giáp với các nước láng giềng Về ngoại giao Quan hệ ngoại giao là một trong những vấn đề lớn được các triều đại phong

kiến Đại Việt luôn chú trọng quan tâm Nhất là trước những âm mưu muốn xâm lược thôn tính nước ta của phong kiến phương Bắc Trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, những người đứng đầu mỗi triều đại đều cố gắng giữ mối quan hệ hòa hiếu với Trung Quốc ở phương Bắc Chấp nhận chịu cống nạp, nhận phong vương, nhưng vẫn giữ vững quan điểm là một nước có nền tự chủ, độc lập

Đối với các nước láng giềng ở phía Tây và phía Nam như Ai Lao, Chân Lạp, Chiêm Thành các triều đại duy trì mối quan hệ hòa hiếu, bắt thần phục, nhưng cũng Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 13

Trang 26

kiên quyết trước những hành động quấy phá biên giới, xâm chiếm lãnh thổ của nước ta Trong những lần xảy ra các cuộc xung đột tại các vùng giới, các triều đại đều cử quân, tướng đi dẹp yên biên cương, bảo vệ bình an cho đất nước Và có những lần đã mang quân tấn công vào tận lãnh thổ của các nước láng giềng, chẳng hạn như sự kiện năm

1069, quân Đại Việt vượt biên giới tấn công vào lãnh thổ của Chiêm Thành Chỉ trong vòng một thời gian ngắn quân Đại Việt đã tấn công vào tận kinh đô của Chiêm Thành Bị thất bại vua Chiêm phải cắt đất ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính cho Đại Việt Đến thời nhà Trần, với Ai Lao và Champa, nhà Trần chủ trương bắt thần phục Từ năm 1290, các vua nhà Trần đã nhiều lần đem quân đánh Ai Lao Năm 1297, quân Ai Lao đánh phá biên giới và chiếm đất Chàng Long, vua Trần đã cử Phạm Ngũ Lão đem quân đi đánh và giành lại được đất Năm 1301, quân Ai Lao lại sang đánh phá vùng sông Đà, nhưng bị quân của Phạm Ngũ Lão đánh lui Năm 1334, vua Trần Minh Tông nhân chuyến đi tuần thú ở Nghệ An đã đem quân đi đánh Ai Lao nhưng không đạt được kết quả như ý muốn Năm 1335, vua Trần Minh Tông đã cùng Đoàn Nhữ Hài đem quân sang đánh Ai Lao một lần nữa Một cuộc chiến lớn giữa hai bên đã diễn ra tại Nam Nhung Quân Trần bị thua

to, Đoàn Nhữ Hài bị tử trận, vua Trần phải rút quân về Quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng Lợi dụng sự suy yếu của Nhà Trần, quân Ai Lao vẫn thường xuyên mang quân quấy phá vùng biên giới, nhiều lần đem quân tấn công vào sâu trong lãnh thổ của Đại Việt Đối với nước Champa ở phía Nam, trong thế kỉ XIII quan hệ giữa hai nước tương đối hòa hảo Các vua Chăm chịu thần phục và cống nạp đều đặn Năm 1252, vì lý

do quân Champa hay sang cướp phá vùng biển phía Nam, vua Trần Thái Tông đã cử Khâm thiên vương Nhật Hiệu ở lại coi giữ kinh thành, rồi thân chinh đem quân vào đánh Champa, bắt được vua Champa là Bốgiala và nhiều dân chúng đem về Đại Việt Trong thế kỷ XIV, quan hệ giữa Đại Việt và Champa đã được thắt chặt hơn khi vua Trần Nhân Tông gã công chúa Huyền Trân cho vua của Champa là Chế Mân Vua Chế Mân đã đem đất châu Ô và châu Lý dâng vua Trần để làm sính lễ Sau cuộc hôn nhân này, quan hệ giữa Đại Việt và Champa trở nên tốt đẹp Nhưng không lâu sau đó, vua Chế Mân chết, vàtheo tục lệ của Champa thì Huyền Trân phải bị đốt theo chồng Vua Trần vì thương con

đã bày kế đưa công chúa Huyền Trân về nước Người nối nghiệp của Chế Mân là Chế Chí nhân đó đã quyết đòi lại hai vùng đất Ô, Lý Quan hệ giữa Đại Việt và Champa lại trởnên căng thẳng Về sau, lợi dụng lúc nhà Trần suy yếu, quân Champa đã nhiều lần tấn công vào lãnh thổ của Đại Việt, thường xuyên quấy phá biên giới, cướp bóc nhân dân sinh sống ở vùng biên cương giáp với Champa Năm 1361, quân Champa vượt biển đánh vào cửa Di Lý ải Lâm Bình (Lý Hòa, Bố Trạch) Năm 1371, lần đầu tiên quân Champa điđường biển vào của biển Đại An, rồi tiến thẳng vào kinh đô Thăng Long, cướp phá, thiêu hủy cung điện, cướp dân bắt đi Quân Chiêm Thành dưới thời vua Chế Bồng Nga đã nhiều lần nữa tấn công vào tận kinh thành Thăng Long, chúng cướp bóc, đốt phá kinh thành, vua quan nhà Trần nhiều lần phải chạy đi lánh nạn

Qua đó có thể thấy được mối quan hệ Đại Việt – Champa tùy thuộc khá nhiều vào sự hưng thịnh phát triển lớn mạnh của quốc gia Đại Việt Khi Đại Việt lớn mạnh, chế ngự được các cuộc quấy phá biên cương của quân Champa ở biên giới hai nước thì Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 14

Trang 27

nước Champa chịu thần phục, cống nạp Nhưng khi Đại Việt suy yếu, Champa đã tận dụng cơ hội này để trả thù và thường xuyên đánh phá Đại Việt, đòi lại những gì được coi

là của Champa Quan hệ của hai nước không nằm ngoài quy luật trong quan hệ của các quốc gia phong kiến thời cổ trung đại: các quốc gia lớn mạnh, có thể lực thì thống trị các nước nhỏ, tiến hành các cuộc chiến tranh đánh chiếm và xâm chiếm cả đất đai, dân cư và coi đó như là chiến lợi phẩm của chiến tranh Bước sang thời nhà Hồ, vua Hồ Quý Ly nắm chính quyền khi mà lực lượng của Champa do vua Chế Bồng Nga đứng đầu đang ở thế mạnh và luôn uy hiếp Đại Việt Ở trong thế phòng ngự khó khăn, nhà Hồ đã dùng chính sách dùng chính trị để thương lượng hòa giải, tạm thời chấm dứt chiến tranh Sau khi Chế Bồng Nga tử trận (1390), thanh thế của quân Champa suy yếu hẳn và phải rút quân về sát lãnh thổ của mình Nhân cơ hội đó, năm 1400 Hồ Quý Ly đã quyết định sai tướng đem 15 vạn quân vào tấn công Chiêm Thành, nhưng không thành đành phải rút quân về Hai năm sau đó, quân nhà Hồ lại xuất quân đánh Champa.Vương quốc Champa lúc này đã suy yếu, trước thanh thế của nhà Hồ, vua Champa sợ hãi đã xin dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy, đầu hàng nhà Hồ Trước sự suy yếu của Chiêm Thành, nhà Hồ càng bành trướng tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Champa của mình Năm 1404, nhà Hồ

đã huy động một lực lượng quân sự lên tới 20 vạn người bao gồm cả bộ binh và thủy binh

để tấn công Champa, vây đánh thành Trà Bàn Nhưng mãi vẫn không hạ được thành nên rút quân về Đối với triều đại phong kiến ở phương Bắc, chúng luôn âm mưu thực hiện dãtâm chiếm nước ta và khôi phục lại ách đô hộ của mình Nhiều lần cho quân quấy phá biên giới và đưa quân sang xâm lược nước ta Trước những thái độ đó triều đình phong kiến Đại Việt đã khôn khéo thực hiện các chính sách vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn, uyển chuyển theo từng thời kỳ, nhằm mang lại sự bình ổn cho đất nước, tránh xảy ra chiến tranh Nhưng trước những âm mưu xâm lược lãnh thổ của chúng, chính quyền Đại Việt

đã ta kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập, lãnh thổ, tự chủ của dân tộc Năm 1022, quân dân Nhà Tống thuộc Khâm Châu và Như Hồng đến quấy phá vùng đất Quảng Yên Vua Lý đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, tiến sâu vào đất Khâm Châu và Như Hồng rồi mới rút quân về Trước âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống, triều đình nhà Lý đã quyết tâm chống giặc và giao trách nhiệm đó lên vai vị tướng Lý

Thường Kiệt, với kế hoạch “tiên phát chế nhân”, năm 1075, Lý Thường Kiệt đã mang

quân vượt biên giới tấn công vào Châu Ung, Châu Khiêm và Châu Liêm, đốt phá kho binh lương mà quân Tống chuẩn bị cho cuộc xâm lược nước ta Đó là cuộc hành quân màquân Tống không lường trước được, làm cho chúng phải hứng chịu những thất bại ngay trên lãnh thổ của mình Quan trọng hơn, với thắng lợi của kế hoạch đó, nhà Lý đã bước đầu làm suy yếu lực lượng và giáng một đòn mạnh vào âm mưu xâm chiếm nước ta của nhà Tống, đồng thời là bước đệm quan trọng cho chiến thắng vang dội trên sông Như Nguyệt (1077) hai năm sau đó Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 15

Trang 28

Thời Nhà Trần quân Mông Nguyên ba lần sang xâm lược nước ta Ỷ thế vào sức mạnh quân sự của mình, quân Mông Cổ đã nhiều lần cử sứ giả sang kêu gọi vua quan nhà Trần đầu hàng Vua Trần đã nhiều lần từ chối sang chầu, về sau tìm mọi cách không chịu cống nạp đầy đủ Trước những âm mưu xâm lược nước ta của giặc Nguyên Mông, quân dân, vua quan nhà Trần đã đoàn kết một lòng, ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, lập nên những chiến công vang dội vào các năm 1258, 1285 và 1287-1288 Nhữngchiến thắng đó là thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ trên mặt trận ngoại giao của vua quan nhà Trần Thắng lợi trước kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ đã giúp Đại Việt giữ vững được nền độc lập, tự chủ của dân tộc, thể hiện được sức mạnh của Đại Việt,không chỉ về sức mạnh nội tâm mà cả về tiềm lực kinh tế, chính trị Nhà Hồ thành lập chưa được bao lâu thì nhà Minh đã cử quân sang xâm chiếm nước ta Mặc dù trước đó nhà Hồ đã có những chính sách nhân nhượng với nhà Minh nhưng cũng kiên quyết chốnglại giặc Minh khi chúng sang xâm lược nước ta Nhưng cuộc chiến đấu không cân sức đã dẫn tới thất bại nhanh chóng của vua quan nhà Hồ Nguyên nhân quan trọng dẫn tới thất bại của cuộc kháng chiến của nhà Hồ là việc vua quan nhà Hồ không được sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, điều mà trước đây nhà Trần đã làmđược và giành được thắng lợi trước kẻ thù hùng mạnh Mông Nguyên Cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ thất bại, nước ta lại chịu sự thống trị của phong kiến

phương Bắc hàng chục năm sau đó, cho đến khi Lê Lợi đánh đuổi được nhà Minh, khôi phục lại nền độc lập tự chủ của dân tộc Quan hệ ngoại giao là lĩnh vực mà các triều đại phong kiến Lý, Trần, Hồ rất chú trọng, quan tâm trong suốt mỗi triều đại của mình Đối với thế lực phong kiến phương Bắc, ý đồ xâm lược, dựng lại ách đô hộ lên nước ta vẫn được các triều đại Tống, Nguyên, Minh âm mưu thực hiện mỗi khi chúng có tiềm lực mạnh mẽ Điển hình là cuộc xâm lược của nhà Tống thời Lý, giặc Nguyên Mông đời nhà Trần và giặc Minh thời nhà Hồ Nhưng âm mưu của chúng đã bị các triều đại của Đại Việt đánh bại bằng những chiến thắng quân sự vẻ vang Những địa danh sông Như

Nguyện, sông Bạch Đằng, cửa Hàm Tử, Đông Bộ Đầu…sẽ còn được nhân dân Đại Việt nhớ mãi với những chiến công vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược phương Bắc Sau mỗi lần thất bại, các triều đại phong kiến phương Bắc vẫn không

từ bỏ ý đồ thôn tính nước ta, chúng vẫn muốn dựng lại ách đô hộ trên đất nước ta Nhưngnhững ý đồ đó đã bị quân dân Đại Việt đánh bại Sau khi hòa bình được lập lại, bề ngoài các triều đại phong kiến Đại Việt vẫn giữ quan hệ hòa hiếu, thần phục và chịu cống nạp cho các triều đại phong kiến phương Bắc với mong muốn giữ mối quan hệ hòa bình, thân thiện giữa hai bên Nhưng cũng cương quyết trước những hành động xâm chiếm đất đai, quấy phá biên giới của các triều đại phong kiến phương Bắc

Đối với các nước láng giềng Ai Lao, Champa, mối quan hệ của các triều đại Đại Việt là quan hệ giữa nước mạnh với nước nhỏ yếu Nước mạnh muốn thống trị nước yếu Trong

đó Đại Việt ngày một phát triển lớn mạnh và ngày càng khẳng định được uy thế của một nước lớn trong khu vực, còn Ai Lao, Champa vẫn chỉ là những nước nhỏ yếu, chịu thần phục Các cuộc chiến tranh giữa Đại Việt với Ai Lao và Champa đã nói lên điều đó Ban đầu, đó là những xung đột nhỏ xảy ra giữa hai nước ở dọc vùng biên cương, khi mà các nước Ai Lao, Champa vẫn thường xuyên cho quân Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 16

Trang 29

tấn công, quấy phá nhân dân Đại Việt dọc các vùng giáp ranh và có nhiều lần tấn công vào sâu trong lãnh thổ Đại Việt Lẽ đương nhiên thì trước những hành động đó, chính quyền phong kiến Đại Việt đều cử quân lính đi đánh dẹp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và dân cư của mình.Trong mỗi trận chiến đó, có nước thắng trận nước bại trận và cuộc chiếnnào thì nước thắng trận cũng thu chiến lợi phẩm cho mình Chiến lợi phẩm đó là vàng bạc, châu báu, dân chúng và cả đất đai Trong giai đoạn này, Đại Việt đang trong giai đoạn phát triển lớn mạnh nên đã giành được nhiều chiến thắng Những chiến thắng mà sau này không còn bó hẹp ở vùng biên giới hai nước nữa mà nó đã là những chiến thắng quân sự lớn trên lãnh thổ của các nước láng giềng Chiến lợi phẩm thu được sau mỗi cuộcchiến cũng lớn hơn Ở khía cạnh quan hệ ngoại giao, các triều đại phong kiến Đại Việt muốn duy trì quan hệ hòa bình, thân thiện trong tư thế là một nước lớn đối với Ai Lao, Champa và muốn họ giữ lệ cống nạp cho Đại Việt Nhưng trong bối cảnh chung trong quan hệ của các quốc gia Đông Nam Á bấy giờ, những chiến thắng quân sự đó như một chất xúc tác thúc đẩy những tham vọng mở rộng lãnh thổ về phía nước láng giềng Triều đại nhà Lý đã mầm mống xuất hiện, tới nhà Trần, đặc biệt thời nhà Hồ, tham vọng xâm chiếm đất đai của nước láng giêng Champa đã được xúc tiến mạnh mẽ hơn

1.2 Thời Lê sơ (thế kỷ XV)

Về chính trị Bước sang thế kỉ XV tình hình nước ta có nhiều chuyển biến lớn, nhất là sau

thắng lợi của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống ách đô hộ của nhà Minh, giành lại nền độc lập cho đất nước Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự hoàn chỉnh và phát triển đếnđỉnh cao của nhà nước phong kiến Đại Việt Bộ máy nhà nước được củng cố và ngày càng hoàn chỉnh, tăng cường quyền lực của nhà vua Thời Lê Thánh Tông chức Tể tướng

bị bãi bỏ, vua trực tiếp điều khiển mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Những cải cách dưới triều vua Lê Thánh Tông đã làm cho bộ máy chính quyền của nước ta hoàn chỉnh vàđạt đến đỉnh cao của một nhà nước phong kiến chuyên chế Quyền lực, quyết định mọi việc trong nước đều do vua quyết định Đến năm 1466, bộ máy chính quyền ở triều đình gồm có đã gần như hoàn chỉnh với 6 Bộ: Bộ Lễ, Bộ Lại, Bộ Công, Bộ Hộ, Bộ Hình và

Bộ Hình Đời Lê Thái Tổ chỉ có 3 bộ là Bộ Lễ, Bộ Lại, Bộ Dân Bên cạnh 6 Bộ là sáu Khoa tương ứng, có nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của 6 Bộ Ngoài ra còn có 6 tự và các

cơ quan giúp việc khác như Hàn Lâm Viện, Đông Các, Trung Thư Giám, Bí Thư Giám, Hoàng Môn Đĩnh Cũng trong năm 1466, vua Lê Thánh Tông đã cho lập ra 6 Tự bao gồm: Địa Lý Tự, Thái Thường Tự, Quang Lộc Tự, Thái Bộc Tự, Hồng Lô Tự, Thường Bảo Tự Bên cạnh đó Lê Thánh Tông còn lập ra một số cơ quan chuyên môn không lệ thuộc vào 6 Bộ và 6 Tự, bao gồm: Thông chính ty, Quốc Tử giám, Quốc Sử viện Hệ thống quan lại dưới triều Lê sơ cũng có nhiều thay đổi quan trọng Mọi công việc quan trọng đều phải thông qua nhà vua để giai quyết, thể hiện cao tính chuyên chế của nhà nước phong kiến Quan lại trong bộ máy hành chính dưới thời vua Lê Thánh Tông được chia làm 9 phẩm Mỗi phẩm lại có chánh phẩm và tòng phẩm Số lượng biên chế cho từng Bộ, từng Tự, từng Khoa, từng Sở được nhà vua quy định dứt khoát, không được tự tiện thêm bớt, nếu ai vi phạm sẽ bị xử phạt…việc tuyển chọn và sử dụng quan lại cũng được thay đổi Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 17

Trang 30

Bộ máy chính quyền địa phương cũng không ngừng được củng cố, cải tổ theo xu hướng chung là quyền lực của các địa phương ngày càng bị thu hẹp, tăng cường vai trò của nhà vua Đời vua Lê Thái Tổ, toàn bộ lãnh thổ của Đại Việt được chia làm 5 đạo: Đông Đạo, Tây Đạo, Nam Đạo, Bắc Đạo và Hải Tây Đạo Đứng đầu năm đạo là 5 vị quan Hành Khiển, nắm giữ tất cả quyền hành Dưới đạo là trấn, lộ, phủ, huyện, châu và xã Đơn vị

xã được chia làm 3 hạng: hạng xã lớn gồm trên 100 hộ trở lên, hạng xã vừa có từ 50 hộ trở lên, hạng xã nhỏ có trên 10 hộ Đến tháng 6 năm 1466, niên hiệu Quang Thuận thứ 7,

vua Lê Thánh Tông đã chia cả nước ra làm 12 đạo (hoặc 12 thừa tuyên), bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Thanh Hóa, Thiên Trường, Quốc Oai, Hưng Hóa, Nam Sách, Bắc Giang,

An Bang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn Và phủ Trung Đô (phủ Phụng

Thiên) Năm 1471, sau chiến thắng trước quân Champa, vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập vùng đất từ Nam đèo Hải Vân đến cận đèo Đại Lãnh vào lãnh thổ Đại Việt, lập ra đạo thừa tuyên thứ 13 - Quảng Nam đạo thừa tuyên Đứng đầu mỗi đạo có 3 Ty: Thừa ty, Đô

ty, Hiến ty Năm 1483, nhà Lê đã biên soạn xong bộ luật, bộ “Quốc triều hình luật” hay

Bộ luật Hồng Đức Đây là bộ luật có sự tham khảo của những điều luật trong bộ luật Hình Thư thời Lý và Hình Thư thời Trần và một số bộ luật của Trung Quốc Bộ luật có tất cả 721 điều, được chia làm 6 quyển, gồm 16 chương Đây là một công trình lập pháp lớn và tương đối hoàn chỉnh, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử pháp quyền của nước ta Việc nhà nước sử dụng pháp luật vào quản lý đất nước đã cho thấy sự phát triển đến mức hoàn chỉnh, thịnh trị của Đại Việt dưới thời Lê sơ Năm 1490, Lê Thánh Tông đãhoàn thành bản đồ Thừa Tuyên đạo (bản đồ Hồng Đức), xác định trong cả nước có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách,

40 động, 30 nguyên, 30 trưởng Tập bản đồ đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong công cuộc quản lý đất nước của nhà nước phong kiến Đại Việt Thể hiện sự phát triển vững mạnh của nhà nước Đại Việt Vua là người đứng đầu nhà nước và có quyền lựclớn, có quyền phong thần, một nền quân chủ chuyên chế đã thực sự hình thành, nhất là từ cuối thời Lê sơ Xã hội Đại Việt thời Lê sơ gồm có giai cấp phong kiến (quý tộc họ Lê, quan lại, địa chủ), giai câp nông dân, tầng lớp gia nô và tầng lớp thương nhân Sự hoàn thiện về bộ máy chính quyền đã cho thấy sự phát triển lớn mạnh của nhà nước phong kiến Đại Việt Đó là cơ sở cho việc tiến hành những cuộc chiến tranh phong kiến với các nước lân bang và đảm bảo cho sự thắng lợi của nhà nước phong kiến Nhà Lê sơ cũng dựa vào sức mạnh của mình để tiến hành nhiều cuộc di dân tổ chức khai khẩn, mở rộng diện tích sản xuất, đẩy mạnh khai thác về phía biển và cả về phía nam của đất nước Tại những vùng đất mới giành được, nhà nước đã nhanh chóng đưa dân cư tới sinh sống, làm

ăn và củng cố vững chắc chính quyền của mình ở nơi đó Chính quyền Đại Việt và quá trình

mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 18

Trang 31

Về quân sự Dưới thời Lê sơ nhà nước độc quyền tổ chức huấn luyện quân đội và huấn

luyện lực lượng vũ trang, độc quyền sản xuất và quản lý vũ khí Đây chính là điểm khác biệt so với các triều đại trước của Đại Việt Thời vua Lê Thái Tổ, nhà nước đã quy định rõ

số ngạch cho từng đạo quân và lệnh cho các tướng lĩnh, quân sĩ trong 5 đạo Vua chia số quân làm 5 phiên: một phiên tại ngũ, bốn phiên về nhà sản xuất nông nghiệp theo chính

sách “Động ư binh, tịnh ư nông” Thời Lê Thánh Tông (1460-1497), quân đội có lúc lên

tới 16 vạn quân, nhưng không phải là số quân thường trực, mà chỉ là quân sự được huy động cho nhiệm vụ nhất thời Tất cả quân đội thời Lê được chia cho 5 phủ cai quản, đó là Trung quân, Bắc quân, Đông quân, Tây quân và Nam quân, mỗi phủ quản lí hoạt động của lực lượng vũ trang ở hai hay ba đơn vị hành chính lớn Chế độ tuyển lựa và huấn luyện quân đội được quy định rõ ràng, chặt chẽ, cứ 3 năm nhà nước kiểm tra số dân một lần Tất cả dân đinh từ 18 tuổi trở lên được chia làm 6 hạng khác nhau: Tráng, Quân, Dân, Lão, Cố và Cùng Tráng hạng thì nhập ngũ Quân hạng chỉ đăng kí tên trong sổ lính

nhưng vẫn được ở nhà sản xuất Chính sách “ngụ binh ư nông” được duy trì Chính sách

này đã góp phần giữ vựng nhịp độ sản xuất nông nghiệp và giảm được chi phí quốc phòng, lại có thể duy trì được một đội quân hùng mạnh Lực lượng quân đội hùng mạnh

là cơ sở để nhà nước trấn áp lại các cuộc nổi loạn và nhất là bảo vệ bình yên ở vùng biên

cương, đặc biệt là vùng lãnh thổ biên giới phía nam Về ngoại giao Uy danh của Đại Việt

dưới triều Lê sơ đã được vang khắp Đông Nam Á sau khi Lê lợi đánh thắng giặc Minh Sau khi giành lại được nền độc lập, đất nước dần dần ổn đinh, nền thống nhất được củng

cố Để bảo vệ những vùng đất ở xa, biên giới nhà Lê chủ trương thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc Sau khi lên ngôi, Lê Lợi đã phong chức tước cho những tù trưởng

có công đối với đất nước trong cuộc kháng chiến chống Minh Những tù trưởng dân tộc ítngười có mưu đồ li khai khỏi chính quyền Đại Việt hoặc đi theo triều Minh, chống lại nhà

Lê, các vua Lê rất kiên quyết dùng biện pháp bạo lực để đàn áp, giữ vững sự thống nhất của đất nước

Đối với nhà Minh, Nhà Lê thực hiện chính sách mềm dẻo và khôn khéo buộc nhà Minh phải công nhận chủ quyền độc lập của nhà nước Đại Việt, đồng thời lập quan hệ ngoại giao với nhà Lê Chính sách mềm mỏng của Nhà Lê nhằm đẩy lui sự căng thẳng và tránh thảm họa binh đao giữa hai nước Trên danh nghĩa nhà Lê chịu thần phục, chịu cống nạp

và chịu sự tấn phong của nhà Minh Cứ ba năm nhà Lê lại theo lệ sang cống nạp cho nhà Minh và đón tiếp các sứ bộ nhà Minh sang nước ta Nhưng cũng không nhân nhượng trước mọi hành động xâm lấn lãnh thổ, quấy rối biên giới của quân đội nhà Minh Năm

1473, vua Lê Thánh Tông đã cho mời và căn dặn đối với Thái Bảo Kiến Dương Lê Cảnh Huy về việc bảo vệ giang sơn của đất nước, một thước đất cũng không được để mất Sự

kiện này đã được chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau: “Một thước núi, một tấc sông của Đại Việt ta, lẽ nào có thể tự tiện vất bỏ đi được Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ để cho họ lấn dần Nếu họ không nghe thì ta lại sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ phải Nếu Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 19

Trang 32

ngươi dám đem một thước núi, tấc đất của Hoàng đế Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc, thì

sẽ bị tru di”2 Đối với các nước láng giềng trong khu vực, nhà Lê thực hiện chính sách ngoại giao có lấn át, bắt các nước phải thần phục và triều cống Trước sự lớn mạnh của Đại Việt, các nước cũng chủ động đến đặt quan hệ hữu hảo Các sứ giả của nước

Champa, Ai Lao, Bồn Man, Xiêm La lần lượt đến đặt quan hệ ngoại giao Nhưng nhìn chung mối quan hệ thân thiện với các nước này chỉ được duy trì trong thời kỳ đầu của nhà Lê Năm 1447, nước Bồn Man xin nhập vào Đại Việt, triều đình Lê Nhân Tông đã tiếp nhận, sau đó đổi gọi là châu Qùy Hợp, thuộc phủ Lâm An Đến đời Lê Thánh Tông đổi gọi là phủ Trấn Ninh Quan hệ Đại Việt – Champa giữ được hòa bình trong một thời gian đầu triều Lê sơ Từ những năm 40, vua Chiêm nhiều lần cho quân quấy phá vùng biên giới, cướp phá vùng đất Hóa Châu, gây ra mối bất hòa giữa hai nước Trước tình hình đó, năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đem quân đi đánh Champa, chiếm củanước này một vùng đất rộng lớn, kéo dài từ cực nam Quảng Ngãi đến đèo Cù Mông ngàynay Sau thắng lợi, trên vùng đất còn lại của Champa vua Lê Thánh Tông còn chia thành

3 tiểu quốc: Nam Bàn, Hoa Anh và Chiêm Thành, với ý định lấy hai vương quốc Nam Bàn và Hoa Anh làm vùng đệm giữa Đại Việt và Champa nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của Champa vào lãnh thổ Đại Việt, duy trì bình yên ở vùng biên giới của hai nước Quan hệ hòa hảo giữa Đại Việt và Champa được duy trì suốt một thời gian dài sau đó, nước Champa ngày một suy yếu, chịu thần phục và cống nạp hàng năm cho Đại Việt

2 Đại Việt sử ký toàn thư, (Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính) Nhà xuất bản văn hóa – thông tin, Hà Nội –

2006, tr 478

1.3 Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (thế kỷ XVI – XVIII)

Về chính trị Đây là giai đoạn nước Đại Việt có nhiều chuyển biến lớn về tình hình kinh

tế, chính trị, một giai đoạn quan trọng trong lịch sử nước ta, nhất là trong việc mở rộng lãnh thổ và hoàn thiện hoàn chỉnh cương vực đất nước như ngày nay Đây cũng là giai đoạn nội bộ chính quyền Đại Việt thường xuyên xảy ra các cuộc chiến tranh liên miên giữa các thế lực phong kiến đối lập Các cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến đốilập đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm thay đổi lớn tới sự phát triển của xã hội nước nhà Bước vào giai đoạn cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, dưới các triều vua Uy Mục,Tương Dực, triều đình phong kiến nhà Lê suy yếu nhanh chóng Vua quan sao nhãng việctriều chính, xây dựng cung điện, lăng tẩm liên miên Thiên tai, mất mùa, nạn đói thường xuyên diễn ra, đè lên những người nông dân khốn khổ Quan lại ra sức tung hoành, nhũngnhiễu cướp bóc trong nhân dân Giặc dã nổi lên nhiêu nơi Triều đình, chia bè phái, chém giết lẫn nhau, bọn quần thần tìm cách thâu tóm quyền lực, ngôi vua chúa bị thay lên đổi xuống liên tục Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 20

Trang 33

Các cuộc đấu tranh của nông dân nổi lên nhiều nơi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tống ở Kinh Bắc (1511), cuộc nổi dậy của Nguyễn Nghiêm ở Sơn Tây, Hưng Hóa (1512), cuộc nổi dậy của Phùng Chương ở vùng Tam Đảo (1515) Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Công Ninh (1516), quân khởi nghĩa có lúc đã tấn công vào tận kinh thành Thăng Long Về sau Trần Cảo tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thiên Ứng, lêu gọi nông dân nổi dậy nhiều nơi….Các cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân diễn ra nhiều nơi đã cho thấy sự suy yếu của triều đình phong kiến nhà Lê sơ Năm

1527, trước sự yếu hèn của các vua Lê, Mạc Đăng Dung đã bức vua Lê phải nhường ngôicho mình, lập ra nhà Mạc Mạc Đăng Dung đã thực hiện nhiều chính sách để củng cố lại chính quyền, ổn định đất nước Nhưng một bộ phận của cựu thần Nhà Lê đã nổi dậy chống đối Năm 1532, An Thành hầu Nguyễn Kim đã lập một người con của vua Lê Chiêu Tông tên là Ninh lên làm vua (ở Thanh Hóa), kêu những người ủng hộ nhà Lê nổi dậy đấu tranh chống nhà Mạc Nhiều cựu thần của nhà Lê ở Thanh Hóa đã tìm đến đi theo Một triều đình mới được thành lập ở Thanh Hóa, đối địch với nhà Mạc ở Thăng Long, sử gọi là Nam Triều, để phân biệt với nhà Mạc ở Thăng Long Liên tục từ năm

1533 đến năm 1592, cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều diễn ra liên miên, với hơn 30 trận lớn Cuộc hỗn chiến Nam – Bắc triều đã gây ra biết bao tang thương cho nhân dân, tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế của quốc gia Năm 1592, một trận chiến lớn đã xảy ra, quânMạc bị thua to, Trịnh Tùng đem quân vào chiếm Thăng Long Cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều đến đây chấm dứt Tàn dư nhà Mạc rút lên vùng núi Cao Bằng và tồn tại được thêm một thời gian nữa Tưởng chừng cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều kết thúc thì đất nước được thái bình nhưng sau đó lại nổi lên một lực lượng mới chống lại chính quyền của họ Trịnh Sau khi Nguyễn Kim mất, quyền bính rơi vào tay con rể Trịnh Kiểm, hai người con của Nguyễn Kim đều là tướng trẻ và tài giỏi, một người là Nguyễn Uông đã bị Trịnh Kiểm bí mật thủ tiêu, và luôn tìm cách hãm hại người con còn lại là Nguyễn

Hoàng Trước âm mưu của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã nhiều lần tìm cách vận động

để được vào Nam giữ chức trấn thủ Thuận Hóa, với hi vọng sẽ vừa tránh được âm mưu sát hại của Trịnh Kiểm, vừa có thể âm thầm chuẩn bị lực lượng cho riêng mình, chờ cơ hội để giành lại quyền lực

Tháng 11 năm 1558, Nguyễn Hoàng vào nhậm chức trấn thủ Thuận Hóa Đến năm 1579 thì kiêm luôn chức Trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Hoàng vừa quan tâm việc xây dựng, củng cố lực lượng cho riêng mình nhưng vẫn giữ lệ hàng năm ra Bắc triều bạp thuế, sổ sách, báo cáo tình hình ở vùng Thuận Quảng Trịnh Kiểm vẫn không ngừng mọi thủ đoạn

để hãm hại Nguyễn Hoàng nhưng không thành Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng đã cho gọi hoàn tử thứ 6, đang làm trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nguyên,

và căn dặn cố gắng bảo vệ dòng họ của mình, tiếp tục gây dựng cơ đồ riêng “Đất Thuận Quảng phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Thạch Bi, địa thế hiểm hiểm cố, thật là một nơi để cho người anh hùng dụng võ Nếu biết dạy bảo dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh thì gây dựng cơ Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 21

Trang 34

nghiệp cho muôn đời”3 Sau khi nối nghiệp cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã tiếp tục củng

cố chính quyền, tách khỏi sự phụ thuộc vào họ Trịnh, chỉ nộp thuế hàng năm Năm 1623, Nguyễn Phúc Nguyên tuyệt giao với họ Trịnh, không chịu nộp thuế nữa Lấy cớ đó, năm

1627, họ Trịnh mang quân vào tấn công Thuận Hóa, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài suốt từ năm 1627 đến năm 1672 với bảy trận chiến lớn diễn ra vào các năm: 1627, 1633, 1643, 1648, 1655-1660, 1661-1662

và 1672 Cuộc chiến không mang lại thắng lợi cho bên nào, hai bên đã lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài Từ đó nước ta rơi vào tình trạng bị chia cắt lãnh thổ trong suốt 100 năm Cả chính quyền ở Đàng Ngoài và Đàng Trong sau

đó đã ra sức xây dựng bộ máy chính quyền riêng của mình Ở Đàng Ngoài Trong giai

đoạn này, bộ máy chính quyền ở Đàng Ngoài có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhất là trong bộ máy chính quyền nhà nước Vua Lê chỉ còn là hư danh, quyền lực trong nước thực sự nằm trong tay chính quyền của các chúa Trịnh, sử gọi là chính quyền Vua Lê – Chúa Trịnh Quyền hạn của vua Lê bị hạn chế đến mức tối đa, quy định chặt chẽ cả chế

độ bổng lộc của nhà vua, thành lập một số cơ quan giúp việc gồm 3 phiên : Binh, Hộ và Thủy sư Đến đầu thế kỉ XVIII, chuyển 3 phiên thành 6 phiên: Lại, Lễ, Bộ, Binh, Hình, Công Ở địa phương, các đạo thừa tuyên được đổi gọi là các trấn, do trấn thủ hay trấn đốc đứng đầu, phụ trách cả trấn ti Các cơ quan giúp việc có Hiến Ti và Thừa Ty Chúa Trịnh phân chia 10 trấn thuộc Bắc bộ thành 4 nội trấn (Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc) và 6 ngoại trấn (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa, An Quảng, Tuyên Quang, Thái Nguyên) Hai trấn Thanh Hóa và Nghệ An vẫn giữ nguyên như cũ Quan lại được tuyển theo hình thức thi cử, có cả tuyển cử Việc tuyển chọn quan lại không còn nghiêm minh như trong giai đoạn trước, có thể dùng tiền bạc để mua quan, quan lại ngày một đông

nhưng không có tài mà chủ yếu là bóc lột vơ, vét trong nhân dân “bấy giờ quan chức nhũng lạm, phức tạp, một lúc cất nhắc bổ dụng đến hơn 1000 người, làm quan cầu may,

viên chức thừa thãi, không còn phân biệt gì cả” Ở Đàng Trong Ngay từ đầu Nguyễn

Hoàng chưa có ý đồ chống đối lại chính quyền vua Lê và thành lập một chính quyền riêng của mình Nhưng khi những âm mưu của Trịnh Kiểm đã tác động mạnh đến ý thức của Nguyễn Hoàng, ông đã quyết định rút hẳn về Nam với ý đồ tách ra khỏi chính quyền vua Lê - chúa Trịnh để thành lập một chính quyền riêng biệt Nguyễn Hoàng và những người nối nghiệp vị chúa Tiên đã cùng một lúc thực hiện việc phòng thủ đất Thuận Quảng, chống lại các cuộc tấn công của họ Trịnh, một mặt ra sức tìm cách mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, tăng cường tiềm lực Bộ máy chính quyền Đàng Trong cũng nhanh chóng được hoàn thiện và cũng cố vững chắc

3 Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược Bộ giáo dục, trung tâm học liệu xuất bản (bản điện tử), tr 122 Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 22

Trang 35

Theo ghi chép của Cristophoro Borri (năm 1621), “Xứ Đàng Trong trãi dài hơn một trăm dặm theo bờ biển, ở vĩ tuyến 11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17, chỗ bắt đầu quốc gia của chúa Đàng Ngoài Bề rộng không lớn lắm, chỉ chừng hai mươi dặm Ý, đất bằng, một bên

là biển và một bên là núi chạy dài có Kẻ Mọi ở…Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh Tỉnh thứ nhất là nơi chúa ở ngay sát xứ Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa Tỉnh thứ hai là Cacciam (Quảng Nam), nơi hoàng tử làm trấn thủ Tỉnh thứ ba là Quamguia (Quảng Ngãi) Tỉnh thứ tư là Quingnim (Quy Nhơn), người Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran (Phú Yên)” 4 Đến giữa thế kỉ XVIII, lãnh thổ của Đàng Trong đã kéo dài

từ sông Gianh cho đến tận mũi Cà Mau, tổ chức thành 12 đơn vị hành chính, gọi là dinh, bao gồm: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Chính Dinh, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và một trấn phụ thuộc là Hà Tiên Mỗi dinh cai quản một phủ, dưới phủ có huyện, tổng, xã Trong đó dinh Quảng Nam cai quản 3 phủ là Thăng Hoa, Quảng Ngãi, Quy Nhơn Năm 1644, Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp chúa Tiên Nguyễn Hoàng, cho cải tổ lại bộ máy chính quyền, gồm có 3 Ty: Ti

Xá Sai, Ti Thần và Ti Sử Đến năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, thành lập triều đình, đổi các chức kí lục, nha úy, đô tri cai bạ làm Lại bộ, Lễ bộ, Hình bộ, Hộ bộ

và đặt thêm hai bộ Binh và bộ Công Các dinh trấn đều có trấn thủ, cai bạ quý lục, cai quản Ở các huyện có tri huyện, đề lại, thông lại, huấn đạo, lễ sinh Quan lại được bổ nhiệm theo hình thức tiến cử, thân tộc, về sau việc mua quan bán tước được thực hiện

rộng rãi Về quân sự Trong giai đoạn đầu quân đội thường xuyên được cả Đàng Trong và

Đàng Ngoài sử dụng vào mục đích tiến hành các cuộc chiến tranh, phân chia quyền lợi giữa hai thế lực phong kiến đối lập: họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong

Những cuộc chiến tranh phong kiến liên miên đã khiến cho chính sách “ngụ binh ư nông” trước kia không còn tác dụng

4 Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621 Sách đã dẫn, tr 13 5 Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621

Sách đã dẫn, trang 125

Quân đội ở Đàng Ngoài được tổ chức thành hai bộ phận chính: quân túc vệ và ngoại binh

Về sau chúa Trịnh cho đặt thêm hương binh để bảo vệ chính quyền ở địa phương Quân đội gồm có 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, kị binh và pháo binh Vũ khí được trang bị khá đầy đủ và hiện đại Bên cạnh đó nhà nước Lê – Trịnh còn mở các trường dạy võ, tổ chức các kì thi võ để chọn nhân tài Qua những ghi chép của Cristophoro Borri về Đàng Trong năm 1621, chúng ta cũng biết thêm được nhiều thông tin về lực lượng quân sự ở

Đàng Ngoài, “…còn quân đội thì như chúng tôi đã nói ở trên, có thể lên tới 80.000 người Nên không khó gì khi chúa muốn thì chúa có thể mộ thêm cho tới 300.000 hoặc hơn với đầy đủ vũ khí, bởi vì các tướng lãnh trong nước như ở nước chúng ta có các công hầu bá tước, họ phải tự lực cung cấp đủ cho cuộc chiến tranh Còn lực lượng của nhà vua không quá thì không quá 40.000 binh lính hộ vệ”5

Ở Đàng Trong, quân đội của chúa Nguyễn gồm có 3 loại: quân túc vệ, quân chính quy ở các dinh và thổ binh Quân đội được chia thành cơ, đội, thuyền Tất cả dân Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 23

Trang 36

đinh từ 18 đến 50 đều phải ghi tên vào sổ đinh và trình lên phủ, huyện xét duyệt lấy lính Quân lính được huấn luyện theo binh pháp, được trang bị đủ các loại vũ khí, các chiến

thuật chiến đấu, “Về binh pháp và cách cai trị trong chinh chiến thì cũng gần như ở châu

Âu Họ cũng giữ các luật lệ để huấn luyện binh lực, đánh du kích, tấn công và rút

quân” 6 Quân lính được sử dụng vào các cuộc chiến tranh, bảo vệ biên cương Cũng giống như Đàng Ngoài, quân đội cũng có bộ binh, thủy binh, kị binh và pháo binh Thủy binh của chính quyền Đàng Trong rất mạnh, được trang bị vũ khí hiện đại của phương Tây như súng đại bác, thuyền chiến, đã từng đánh thắng cả quân đội Hà Lan Qua những ghi chép của Cristophoro Borri thì lực lượng quân sự của Đàng Trong rất mạnh, được

trang bị đầy đủ các loại pháo, thuyền chiến “…ngài có một trăm thuyền chiến và hơn nữa, chúa rất mạnh về đường biển, như đã mạnh về đường bộ về súng ống…việc họ buôn bán thường xuyên với người Nhật đã đem lại cho chúa rất nhiều đao hay gươm đao theo kiểu Nhật Bản, với nước thép rất tốt Trong nước còn rất nhiều ngựa, tuy thấp bé hơn, nhưng rất tốt và rất can đảm, dùng để cưỡi và bắn nỏ, hằng ngày không ngớt thao luyện Thế lực của chúa rất mạnh đến nỗi khi ngài muốn, ngài có thể cho tuyển ngay được tám mươi ngàn quân binh chiến đấu” 7 Qua những ghi chép của Cristophoro Borri có thể thấyđược sức mạnh quân sự của Đàng Trong lúc bấy giờ rất mạnh, đủ sức đương đầu với thế lực của họ Trịnh ở Đàng Ngoài Cristophoro Borri cũng nhấn mạnh đến sức mạnh thủy chiến của quân đội Đàng Trong, quân đội được huấn luyện nghiêm chỉnh, có kỷ luật “…

ngoài biển họ chiến đấu trên thuyền như đã nói, mỗi thuyền có súng đại bác và nhiều súng musqueton Và người ta sẽ không lấy làm lạ khi biết chúa Đàng Trong luôn luôn có tới một trăm thuyền chiến có đủ súng ống và nghiêm chỉnh nghênh chiến” 8 Với sức mạnh quân sự của mình, các chúa Nguyễn đã chống lại được các cuộc tấn công của họ Trịnh ở Đàng Ngoài, xây dựng được một chính quyền riêng, đồng thời tiến hành can thiệp, giúp Chân Lạp chống lại âm mưu xâm chiếm của Xiêm Từ đó tạo điều kiện mở

mang bờ cõi, bảo vệ vùng biên cương và lãnh thổ của đất nước Về ngoại giao Đối với

các dân tộc ít người, chính quyền Đàng Ngoài thực hiện chính sách hòa hợp, mở rộng việc khai thác các mỏ khoáng sản và giao cho một bộ phận các tù trưởng dân tộc ít người quản lí Tại các vùng biên giới phía Bắc giáp với Trung Quốc, bọn quan quân Trung Hoa thường xuyên có những hành động quấy rối, xâm lấn biên giới Triều đình Lê Trịnh giữ quan hệ hòa hiếu, thần phục các triều đại phong kiến phương Bắc Bằng các chính sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cương quyết, năm 1726, chính quyền Đàng Ngoài đã đòi được nhà Thanh trả lại một dải đất thuộc hai châu Vị Xuyên (Tuyên Quang) và Thủy Vĩ (Hưng Hóa) Đến năm 1728, đòi tiếp được một dải đất rộng thuộc Vị Xuyên, trong đó có

mỏ đồng lớn Tụ Long Đối với các nước láng giềng, nhà Lê–Trịnh thực hiện chính sách hòa thuận, nhiều lần giúp đỡ Ai Lao trong việc giữ yên bình đất nước quan hệ Đại Việt – Lạn Xạng phát triển tốt đẹp

6 Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621 Sách đã dẫn, trang 83 7 Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm

1621 Sách đã dẫn, tr 83-84 8 Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621 Sách đã dẫn, tr 84 Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 24

Trang 37

Ở Đàng Trong, chính quyền chúa Nguyễn thực hiện hính sách ngoại giao hòa hợp với cácnước láng giềng, duy trì mối quan hệ tốt đẹp Về sau mối quan hệ giữa chính quyền ĐàngTrong với nước lân bang Chiêm Thành chuyển biến theo chiều hướng xấu, thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột giao tranh giữa hai bên Với sức mạnh của quân đội, các chúa Nguyễn đã lần lượt chiếm hết các vùng đất của nước Chiêm Thành, và sáp nhập vào vùngđất của mình Đối với vùng đất Thủy Chân Lạp, chính quyền Đàng Trong thực hiện chínhsách can thiệp vào nội bộ Chân Lạp, giao hảo qua hôn nhân Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chet Tha II, quan hệ hai nước được thắt chặt hơn Bằng những chính sách đó, họ Nguyễn đã dần chiếm các vùng đất của Thủy Chân Lạp một cách công khai Một nét nổi bật trong quan hệ ngoại giao của cả chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài trong thời kỳ này là mối quan hệ thân thiện với các thương nhân ngoại quốc đến từ phương Tây, như Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh và một số nước trong khu vực như Nhật Bản, Ấn Độ… Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn thực hiện chính sách mở cửa với người nước ngoài, tạo điều kiền cho họ đến buôn bán làm ăn trên lãnh thổ của mình Trên một chừng mực nào đó, mối quan hệ giữa chính quyền ở hai Đàng với những thương nhân phương Tây đều có mục đích lợi dụng những thương nhân đó để mua vũ khí của họ, phục vụ cho những nhu cầu, lợi ích của mình Đôi khi những người phương Tây còn trực tiếp tham gia giúp đỡ chính quyền ở haibên tham gia vào cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa họ Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong Những lợi ích tích cực từ việc mở rộng quan hệ với nước ngoài cũng mang tới sự thay đổi trên lĩnh vực kinh tế, xã hội của nước ta bấy giờ ỞĐàng Trong, việc mở rộng giao thương với bên ngoài đã tạo điều kiện cho sự hình thành

và phát triển của nhiêu thương cảng nổi tiếng như: Hội An, Thị Nại, Nước Mặn, Nông Nại, Mỹ Tho, Bến Nghé, Hà Tiên…Nhưng chính quyền Đại Việt lúc vẫn rất cảnh giác và kiên quyết chống trả lại những ý đồ nhòm ngó, xâm chiếm nước ta của người phương Tây Tiêu biểu là sự kiện chúa Nguyễn Phước Lan đã cho con là Nguyễn Phước Tần đánhthắng lực lượng Hà Lan trên các chiến thuyền ngoài cửa Eo (cửa Thuận An ngày nay) vàonăm 1644, khi chúng có âm mưu chiếm một hải đảo của nước ta Điều đó phần nào cho chúng ta thấy được sức mạnh quân sự nhất là thủy chiến của lực lượng chính quyền ĐàngTrong, đó chính là lợi thế lớn nhất của chính quyền chúa Nguyễn trong các cuộc đối đầu, giao chiến với các nước láng giềng lân bang như Champa, Chân Lạp, Xiêm La

2 Chính sách kinh tế - văn hóa – xã hội

2.1 Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI-XIV)

Về kinh tế Ngay sau khi đất nước thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, các

triều đại đã thực hiện nhiều chính sách nhằm khôi phục, phát triển nền kinh tế, chăm lo đến đời sống của nhân dân Thực hiện các chính sách khai hoang, chăm lo đê điều… nhờ

đó mà đời sống của nhân dân được cải thiện Đến thời nhà Lý, Trần đã thực hiện nhiều chính sách để phát triển kinh tế Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 25

Trang 38

Nhà Lý đã thực hiện nhiều chính sách về ruộng đất như: đối với ruộng đất công, nhà nước thực hiện các chính sách: chế độ thực phong-thực ấp, chế độ thác đao điền, quốc khố, quan điền và tịch điền Những chính sách này góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển của ruộng đất tư nhân Còn đối với ruộng tư, nhà nước ra chiếu chỉ và ban lệnh về việc mua bán và cầm cố ruộng đất Nhà nước phong kiến chú trọng nhiều vào việc phát

triển nền kinh tế nông nghiệp Trong nông nghiệp nhà Lý thực hiện chính sách “trọng nông và dĩ nông vi bản”, nhờ đó mà kinh tế nông nghiệp của nước ta dưới thời Lý khá

phát đạt, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định Nền kinh tế công thương nghiệp cũng có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhưng chưa phát triển mạnh Việc buôn bán với thương nhân nước ngoài còn hạn chế, chủ yếu buôn bán với những thương nhân Trung Quốc ở dọc các vùng biên giới và một số bến cảng nhỏ Bên cạnh đó sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp cũng góp phần vào việc cung cấp hàng hóa dùng cho việc trao đổi buôn bán Ngày càng xuất hiện thêm nhiều thuyền bè của nước ngoài lui tới buôn bán Hàng hóa dùng để trao đổi, mua bán chủ yếu là đồ gốm, hàng mĩ nghệ Việc buôn bán, trao đổi giao thương giữa các vùng trong nước cũng phát triển Trung tâm buôn bán lớn là ở Thăng Long, Vân Đồn… Sang thời Nhà Trần, ngay sau khi thành lập nhà Trần đãthực hiện nhiều chính sách nhằm ổn định dân cư và thực hiện nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp Chế độ ruộng đất không có nhiều thay đổi so với thời Lý Giai đoạn này, các ruộng thực ấp xuất hiện ngày càng nhiều Ruộng tư thời Trần phát triển mạnh hơn thời Lý, chính sách khai hoang, lập ấp được khuyến khích thực hiện Nhà Trần khuyến khích các vương hầu, quan lại, mộ dân nghèo, lưu tán đi khai hoang lập ấp, mở rộng diện tích sản xuất Nhờ vậy mà diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng được mở rộng Trong nông nghiệp nhà nước tiếp tục thực hiện việc duy trì và đẩy mạnh chính sách

“Ngụ binh ư nông” Các cơ quan chuyên trách về đê điều, chăm lo phát triển nông

nghiệp ra đời trong giai đoạn này Các ngành nghề thủ công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh mẽ, xuât hiện nhiều làng nghề nổi tiếng, với các nghề như: làm gốm, nghề dệt,đúc chuông, tạc tượng, làm đồ thủ công mĩ nghệ… Thuyền bè sử dụng trong buôn bán ngày càng nhiều và được cải tiến Xuất hiện các loại thuyền lớn, tốc độ nhanh, có từ 30 đến 100 mái chèo Việc buôn bán với nước ngoài ngày càng phát triển, thuyền buôn các nước tới nước ta buôn bán ngày càng đông, từ nhiều vùng khác nhau, nhiều nhất là thuyền buôn Trung Quốc, Java và Xiêm La Vân Đồn trở thành một trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài thời bấy giờ, kinh thành Thăng Long trở thành một nơi buôn bán sầm uất Hàng hóa dùng để buôn bán cũng đa dạng và phong phú hơn, chủ yếu là các

mặt hàng như tơ lụa, đồ gốm, các sản vật địa phương… Về văn hóa – xã hội Sự phát triển

của kinh tế cũng tác động mạnh mẽ đến tình hĩnh xã hội nước ta trong giai đoạn này Trong xã hội, sự phân hóa giữa các tầng lớp giai cấp ngày càng mạnh mẽ và được đẩy mạnh dưới triều đại Lý, Trần, những giai cấp chính trong xã hội dần dần được hình thành

và khẳng định vị trí trong xã hội Giai cấp thống trị bao gồm các vương hầu, quý tộc, quanlại cao cấp một bộ phận địa chủ quan chức hóa Những chính sách phong cấp thái ấp, khuyến khích khẩn hoang lập nghiệp, những chính sách ưu đãi của nhà nước đã tạo điều kiện cho sự hình thành của tầng lớp địa chủ, quý tộc phong kiến Họ là tầng lớp có được những quyền ưu đãi trong xã hội, sở hữu nhiều ruộng đất Chính quyền Đại Việt và quá trình

mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 26

Trang 39

Giai cấp bị trị bao gồm đông đảo nhân dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội như địa chủ, nông dân, thợ thủ công, thương nhân Làng xã vẫn là mô hình kinh tế-xã hội chính trong xã hội Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội và là lực lượng sản xuất chính, là những người ghánh mọi trọng trách của xã hội (sản xuất, đóng thuế, laodịch…) Trong thời kỳ đầu của các triều đại, đời sống nông dân tương đối ổn định, cuộc sống ấm no Nhưng tới cuối các triều đại, triều đình ít chăm lo đến đời sống nhân dân làmcho đời sống ngày càng khó khăn, các cuộc nổi dậy đấu tranh bùng nổ nhiều nơi Dân lưután, bỏ xứ, bỏ làng đi phiêu bạt ngày càng nhiều Những chính sách của các ông vua cuối mỗi triều đại thường không mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân Nền kinh tế của đất nước cũng ngày càng suy yếu, đời sống nhân dân ngày càng khổ cực Dân chúng muốn tìm thêm những vùng đất mới để có đất sản xuất và sinh sống, họ buộc phải rời bỏ vùng đất chôn rau, cắt rốn của mình Tầng lớp thương nhân cũng manh nha xuất hiện và ngày càng đông, nhưng có ít người chuyên làm nghề buôn bán, mà họ là những người xuất thân từ nông dân, địa chủ…vừa sản xuất vừa buôn bán Những hoạt động buôn bán chủ yếu do các thương nhân nước ngoài chi phối, mà chủ yếu là thương nhân Trung Quốc Thợ thủ công ngày càng nhiều, các làng nghề xuất hiện xuất hiện và phát triển, quy mô sản xuất của họ cũng được mở rộng hơn nhiền lần Các thợ thủ công sinh sống chủ yếu trong các làng nghề Những hoạt động sản xuất thủ công vẫn chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu của làng là chính, họ chưa thoát li hẳn khỏi cuộc sống sản xuất nông nghiệp mà vẫn gắn bó với đồng ruộng Tầng lớp địa chủ, nô tì chiếm một số ít trong xã hội

Đây là giai đoạn mà nhân dân ta vừa kháng chiến chống ngoại xâm, xây dựng phát triển đất nước và đã xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng, đậm đà bản sắc dân tộc Các tôn giáo, tín ngưỡng được du nhập vào nước ta trong những thế kỉ trước đến giai đoạn này có điều kiện phát triển mạnh mẽ, nhất là đạo Phật Những người theo đạo Phật ngày ngày càng đông, chùa chiền được xây dựng khắp nơi trong cả nước, nhà sử học Lê Văn

Hưu đã viết: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước dựng chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư…đời sau mới xây tháp cao ngất trời, tạc cột chùa đá,điện thờ Phật lộng lẫy hơn cả cung điện vua Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy cả thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, nhân dân quá nữa làm sư, trong nước chổ nào cũng có chùa” 9 Nho giáo dần trở thành hệ tư tưởng chính của giai cấp phong kiến thống trị, và chiếm vị trí độc tôn từ đầu thế kỉ XV cho đến cuối thế kỉ XIX

9 Đại Việt sử ký toàn thư Sách đã dẫn, tr 81

Các công trình kiến trúc, điều khắc mang nhiều dấu ấn của Phật giáo và Nho giáo, tiêu biểu là các ngôi chùa Một Cột, chùa Dâu, kinh thành Thăng Long, thành Nhà Hồ…Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển của hệ thống giáo dục nước nhà Năm 1070, vua LýThánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở kinh thành, đắp tượng thờ Khổng Tử, Chu Công

và 72 người hiền của đạo Nho, đánh dấu sự thiết lập của hệ thống giáo dục Nho học Đến năm 1075, nhà Lý mở khoa thi đầu tiên, đánh dấu sự phát triển của Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 27

Trang 40

nền giáo dục nước nhà Đời Trần đã đặt lấy lệ Tam khôi (1247), hệ thống giáo dục ngày càng hoàn chỉnh, nhưng chưa phát triển rộng rãi trong nhân dân Việc tuyển chọn quan lạidần được thay thế bằng thi cử Sự phát triển của giáo dục đã tạo điều kiện cho sự phát triển văn học, góp phần tạo nên một nền văn học phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Trong giai đoạn đầu các tác phẩm chủ yếu do các nhà sư sáng tác, mang đậm dấu

ấn của Phật giáo Văn học đời Trần phát triển mạnh mẽ với “Hào khí Đông A” Những tác phẩm nổi tiếng trong giai đoạn như: Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn…Văn học chữ Hán và chữ Nôm đều phát triển Các loại

hình nghệ thuật, văn hóa dân gian phát triển Xuất hiện loại hình nghệ thuật mới: múa rối nước (thời Lý) Âm nhạc ban đầu chịu ảnh hưởng của nhạc Chăm, về sau chịu ảnh hưởngcủa nhạc phương Bắc Các loại nhạc cụ phong phú, đa dạng; lễ hội văn hóa dân gian phát triển rộng khắp trong nhân dân Trên lĩnh vực khoa học-kĩ thuật đạt được nhiều thành tựu quan trọng Những công trình trên lĩnh vực sử học, địa lý, toán học…xuất hiện nhiều (Đạiviệt sử kí, Việt sử lược, Đại thành toán pháp, Binh thư yếu lước, Dư địa chí…) Thời Nhà

Hồ, Hồ Nguyên Trừng còn chế tạo được các loại súng “thần cơ sang pháo” và các

thuyền chiến có lầu Những thành tựu mà các triều đại Lý, Trần, Hồ đã đạt được đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hưng thịnh của Đại Việt Bộ máy nhà nước được hoàn thiện và củng cố vững chắc là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của đất nước

2.2 Thời Lê Sơ (thế kỷ XV)

Về kinh tế

Bước sang thời Lê sơ, kinh tế nước ta đã có nhiều chuyền biến mạnh mẽ, sản xuất nông nghiệp được nhà nước chú trọng, khuyến khích phát triển Nhà vua là người có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước Chính sách chung của nhà Lê là không ngừng mở rộng ruộng đất công, thi hành nhiều chính sách quan trọng về ruộng đất và phát triển kinh

tế đất nước Trong nông nghiệp nhà nước thực hiện các chính sách như chính sách quân

điền, chính sách lộc điền, lập quốc khố và đồn điền Nhà nước thực hiện triệt để chính

sách khuyến nông, đê điều được xây dựng và tu bổ, kênh đào được khơi ngòi, nạo vét Hàng năm tất cả quân lính, thợ thủ công của nhà nước và phu dịch trong hoàng cung thaynhau về sản xuất nông nghiệp, trâu bò được quản lý chặt chẽ Nhờ vậy mà kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Nhằm khuyến khích, mở mang ruộng đất sản xuất nông

nghiệp, với quan niệm “nhứt sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhứt nông nhì sĩ ” làm nền

tảng, nhà nước phong kiến đã rất quan tâm đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp, nguồn cung cấp sức sống chính của quốc gia Vua Lê Thánh Tông đã cho lập ra 4 sở chuyên môn, gồm: sở đồn điền, sở tầm trang, sở thực thái, sở điền mục Để trông coi việcxây đắp, bảo vệ đê điều, thực thi các chính sách khuyến nông, vua cho đặt ra chức quan

Hà đê sứ, trông coi việc đê điều Nhờ những chính sách đó đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp Năng xuất mùa màng ngày càng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện và ổn định Trong nước đâu đâu cũng thấy cảnh phồn thịnh của sự phát triển Chính quyền Đại Việt và quá trình mở rộng lãnh thổ về phía nam trong các thế kỷ XI-XVIII Khóa luận tốt nghiệp Trang 28

Ngày đăng: 20/12/2021, 10:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w