1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BỆNH lý ỐNG TIÊU hóa KHOANG MIỆNG

17 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 614,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể tên các tổn thương viêm và u ở khoang miệng và tuyến nước bọt... Nhiễm nấmDịch tễ học: Thường do nấm Candida albicans, loại nấm này có thể vẫn thường trú trong khoang miệng 30-40% dân

Trang 1

BỆNH LÝ ỐNG TIÊU HÓA KHOANG MIỆNG

Trang 2

Mục tiêu học tập:

1 Kể tên các tổn thương viêm và u ở khoang miệng và tuyến nước bọt

Trang 3

1 TỔN THƯƠNG VIÊM LOÉT

1.1 Viêm loét miệng aptơ (aphthous ulcer):

- Dịch tễ học: bệnh thường gặp trước 20 tuổi

- Bệnh sinh: bệnh khởi phát do stress, sốt, dùng một loại thức ăn nào đó, bị kích hoạt bởi bệnh viêm ruột Nguyên nhân gây bệnh chưa được biết rõ Bệnh

tự giới hạn và lành sau 7-10 ngày; có thể tái phát chỗ cũ hay nơi khác

- Hình thái tổn thương:

+ Đại thể: vết loét thường nhỏ đường kính < 5mm, nông, màu trắng xám, bờ

rõ, xung quanh có viền đỏ, thường ở nếp lợi - má, đầu và bờ lưỡi

+ Vi thể: niêm mạc miệng vùng tổn thương khởi đầu thấm nhập tế bào viêm đơn nhân, sau đó là bạch cầu đa nhân trung tính khi có bội nhiễm (Hình 1)

Trang 5

1.2 Nhiễm nấm

Dịch tễ học: Thường do nấm Candida albicans, loại nấm này có thể vẫn thường trú trong khoang miệng (30-40% dân số) nhưng chỉ trở thành tác nhân gây bệnh ở những người bị suy giảm miễn dịch do bệnh tiểu đường, thiếu máu, dùng kháng sinh hay corticoid kéo dài, ung thư

Hình thái tổn thương:

- Đại thể: tổn thương có dạng mảng trắng như váng sữa, dính, bờ rõ; khi bị cạo

đi, để lộ nền mô viêm đỏ bên dưới

- Vi thể: mảng trắng chứa vô số thể nấm (sợi nấm, bào tử) (Hình 2)

Trang 6

1.3 Nhiễm virút Herpes

Dịch tễ học: Viêm miệng do virút Herpes (hầu hết là HSV týp1) là bệnh rất thường gặp Trên 3/4 dân số tuổi trung niên có mang mầm bệnh trong miệng nhưng chỉ một số ít trường hợp là có biểu hiện lâm sàng do virút được tái hoạt hoá… Sốt, nhiễm lạnh, nắng, gió, nhiễm trùng hô hấp, dị ứng…đều có thể tái hoạt hoá virút

Hình thái tổn thương

- Đại thể: tổn thương là một hay nhiều bóng nước, kích thước < 5mm, chứa dịch trong Tổn thương thường ở môi, quanh lỗ mũi, gây đau Các bóng nước này có thể vỡ tạo vết loét nông, lành sau vài tuần nhưng thường tái phát

- Vi thể: tế bào biểu mô bị nhiễm virút phồng to, trong nhân chứa thể vùi ái toan Đôi khi các tế bào gần nhau hợp thành đại bào nhiều nhân Các tế bào này nằm ở vách bóng nước hoặc trôi lơ lửng trong dịch bóng nước

Trang 7

2 BẠCH SẢN (Leukoplakia):

Bạch sản là các mảng trắng ở niêm mạc miệng, giới hạn rõ, không cạo tróc được; tạo bởi sự tăng sinh biểu mô phủ Bạch sản được xem là tổn thương tiền ung vì có 5-6% trường hợp sẽ chuyển thành ung thư

Dịch tễ học: mảng này thường gặp ở người lớn tuổi, liên quan chặt chẽ với việc dùng thuốc lá, uống rượu, dùng thức ăn kích thích, viêm mãn tính hoặc nhiễm HPV

Hình thái tổn thương:

- Đại thể: tổn thương có dạng một hoặc nhiều mảng trắng, gồ cao; bề mặt trơn láng hoặc sần sùi; cứng; xuất hiện ở niêm mạc má, sàn miệng, bụng lưỡi

- Vi thể: có hiện tượng tăng sừng, tăng gai của lớp biểu mô lát tầng niêm mạc miệng

Biểu mô này có thể chuyển dạng thành nghịch sản và sau đó là carcinôm tại chỗ (Hình 3)

Trang 8

Hình 3: Bạch sản ở bờ lưỡi (A); Biểu mô dày lên do hiện tượng tăng gai và tăng sừng (B)

Trang 9

3 UNG THƯ KHOANG MIỆNG VÀ LƯỠI

Loại ung thư thường gặp nhất của khoang miệng và lưỡi là carcinôm tế bào gai

Dịch tễ học: thường xảy ra sau 40 tuổi

Yếu tố nguy cơ của ung thư miệng: bạch sản; dùng thuốc lá (đặc biệt là thói quen ăn trầu xỉa thuốc); nghiện rượu; nhiễm HPV týp 16,18

Trang 10

Hình thái tổn thương:

- Đại thể: tổn thương chồi sùi, loét ở bề mặt, có thể bị bội nhiễm

- Vi thể: các đám tế bào gai có nhân dị dạng, hạch nhân to, phân bào bất thường, xếp thành ổ, xâm nhập mô đệm bên dưới (Hình 4)

Liên hệ lâm sàng: Khởi phát không đau nên thường phát hiện trễ, nhất là khi tổn thương nằm ở 1/3 sau lưỡi; làm giảm kết quả điều trị và khả năng sống còn của bệnh nhân

Trang 11

4 TUYẾN NƯỚC BỌT

Tuyến nước bọt bao gồm các tuyến chính là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm

và tuyến dưới lưỡi, ngoài ra còn có các tuyến nước bọt phụ nằm rải rác trong niêm mạc miệng và niêm mạc vòm khẩu cái Bệnh lý tuyến nước bọt hay gặp

ở tuyến mang tai Hai loại bệnh lý thường gặp nhất là là viêm và u tuyến nước bọt

Trang 12

5 VIÊM TUYẾN NƯỚC BỌT

Viêm tuyến nước bọt có thể do virút, vi khuẩn, hay do nguyên nhân tự miễn; trong đó nhiễm virút quai bị (paramyxovirus) là nguyên nhân thường gặp nhất Bệnh quai bị ở trẻ em có tổn thương giới hạn ở tuyến nước bọt; trái lại ở người trưởng thành thì có thể bị biến chứng viêm tụy và viêm tinh hoàn (dẫn đến vô sinh về sau)

Viêm tuyến nước bọt do virút quai bị

Hình thái tổn thương:

- Đại thể: Paramyxovirus gây sưng to toàn bộ các tuyến chính, đặc biệt là tuyến mang tai

- Vi thể: Paramyxovirus thường gây viêm mô kẽ lan tỏa, phù và thấm nhập tế bào đơn nhân; đôi khi có các ổ hoại tử

5.1 Viêm tuyến nước bọt do cơ chế tự miễn trong hội chứng Siögren thì hầu như luôn tấn công hai bên Tất cả tuyến nước bọt (chính và phụ), tuyến lệ đều bị tổn thương, gây ra chứng khô miệng và khô mắt (viêm kết - giác mạc khô)

Trang 13

5.2 Viêm tuyến nước bọt do vi khuẩn thường xảy ra thứ phát sau tắc ống tuyến do sỏi (Hình 5) Vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất là Staphylococcus aureus và Streptococcus viridans Phản ứng viêm xảy ra trong mô kẽ, có thể gây hoại tử hóa mủ, hình thành ổ áp-xe

Trang 14

6 U TUYẾN NƯỚC BỌT

Dịch tễ học: nói chung, u tuyến nước bọt tương đối ít gặp, chiếm không quá 2% các loại u ở người Tỉ lệ nam nữ mắc bệnh như nhau; xảy ra ở người lớn nhiều hơn trẻ em U thường xuất hiện ở tuyến mang tai, chiếm 65-80% trường hợp, trong đó có khoảng 15% là ác tính; 10% u xảy ra ở tuyến dưới hàm trong

đó có 40% là ác tính; số ít còn lại xuất hiện ở tuyến nước bọt dưới lưỡi và các tuyến nước bọt phụ nhưng quá nửa là u ác Như vậy, tỉ lệ u ác tính của u tuyến nước bọt tỉ lệ nghịch với kích thước tuyến

Dạng đại thể thường thấy là 1 khối u ở trước tai, thường di động khi sờ nắn, kích thước từ 4- 6cm Chỉ có thể chẩn đoán phân biệt lành ác một cách chắc chắn bằng khảo sát mô bệnh học Hai loại u lành tuyến nước bọt thường gặp là

u tuyến đa dạng và u Warthin Loại u ác nguyên phát thường gặp nhất của tuyến nước bọt là carcinôm nhầy bì

Trang 15

6.1 U tuyến đa dạng (pleomorphic adenoma):

Còn gọi là u hỗn hợp, là u lành thường gặp ở tuyến mang tai

Hình thái tổn thương:

Đại thể: u lành, phát triển chậm, kích thước < 6 cm bờ tương đối rõ, có vỏ bao sợi, bề mặt trơn láng

Vi thể: u được đặc trưng bởi sự đa dạng về thành phần cấu tạo Thành phần biểu mô gồm các tế bào nhỏ hình tròn hoặc hình thoi, sắp xếp thành cấu trúc ống, túi, dây, đám đặc Thành phần biểu mô hòa trộn với mô đệm dạng niêm, lỏng lẻo, đôi khi chứa các đảo dạng sụn hoặc xương Bằng chứng hóa mô miễn dịch cho thấy tất cả các loại tế bào khác nhau này trong u đều xuất phát từ tế bào cơ biểu mô (Hình 6)

Liên hệ lâm sàng: u phát triển chậm, không đau nên bệnh nhân thường để nhiều năm mới đi khám bệnh U thường xuất phát từ thuỳ nông tuyến mang tai, tạo ra một khối phồng ở góc hàm sờ thấy dễ dàng U có vỏ bao không hoàn toàn nên dễ tái phát nếu phẫu thuật cắt bỏ không đủ rộng Khoảng 2-3 % các trường hợp tái phát hoá ác, gọi là carcinôm trên nền u tuyến đa dạng

Trang 16

6.2 U Warthin

Là u lành, hầu như chỉ xuất hiện ở tuyến mang tai

Hình thái tổn thương:

Đại thể: thường là khối nhỏ, tròn hay bầu dục, có vỏ bao, mặt cắt màu trắng

xám, thường có các khe hoặc bọc nhỏ chứa dịch nhầy hoặc dịch thanh

Vi thể: có 2 hình ảnh đặc thù (Hình 7A):

* Lớp biểu mô có 2 lớp tế bào ái toan lót trong các khoang bọc, phân nhánh

Trang 17

6.3 Carcinôm nhầy bì (mucoepidermoid carcinoma):

Là loại u ác nguyên phát tuyến nước bọt thường gặp nhất, thường xảy ra ở tuyến mang tai

Hình thái tổn thương:

Đại thể: u có kích thước từ 1-8 cm, giới hạn rõ, chắc, di động kém, có thể gây

đau nếu có xâm nhiễm thần kinh

Vi thể: u không có vỏ bao, xâm nhập vào mô tuyến nước bọt xung quanh; mặt

cắt trắng xám, thường có vài bọc nhỏ chứa chất nhầy Cấu tạo của u gồm các

tế bào gai và tế bào tiết nhầy, sắp xếp thành dải, bè hoặc bao quanh các bọc nhỏ (Hình 7B) Carcinôm nhầy bì được phân loại grad mô học thấp, vừa hay cao tùy theo tỉ lệ thành phần tế bào gai trong u, sự dị dạng tế bào, mức độ phân bào và hoại tử; grad mô học càng cao thì u có độ ác tính càng lớn, xâm nhập tại chỗ và cho di căn xa càng nhanh

Ngày đăng: 13/12/2021, 18:12

w