Câu 1 (4 điểm) Anhchị hãy phân tích hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do và các biện pháp khắc phục hiện tượng này Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN. Câu 2 (3 điểm). Phân tích vai trò của hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN. Câu 3: (3 điểm) Công ty A 100% vốn Hoa Kỳ, được thành lập tại Indonesia theo pháp luật về đầu tư nước ngoài của nước này. Sau đó, công ty A đầu tư theo hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần tại Việt Nam. Hỏi, công ty A có được coi là nhà đầu tư ASEAN và được bảo hộ đầu tư tại Việt Nam hay không? Tại sao?
Trang 1ĐỀ BÀI
Câu 1: (4 điểm).
Anh/chị hãy phân tích hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do và các biện pháp khắc phục hiện tượng này Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN
Câu 2 (3 điểm).
Phân tích vai trò của hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN
Câu 3: (3 điểm)
Công ty A 100% vốn Hoa Kỳ, được thành lập tại Indonesia theo pháp luật về đầu
tư nước ngoài của nước này Sau đó, công ty A đầu tư theo hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần tại Việt Nam Hỏi, công ty A có được coi là nhà đầu tư ASEAN và được bảo hộ đầu tư tại Việt Nam hay không? Tại sao?
Trang 2Mục lục
Trang 3Mở đầu
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) là tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực được thành lập trên cơ sở Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước Đông Nam Á ngày 08.8.1967 ASEAN ra đời đánh dấu sự trưởng thành về chính trị-kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á Việt Nam với tư cách là một thành viên ASEAN trong suốt quá trình tham gia hội nhập ASEAN, Việt Nam luôn nỗ lực hết mình
vì sự phát triển và lớn mạnh của Hiệp hội với ý thức về tầm quan trọng chiến lược của ASEAN đối với Việt Nam: một Hiệp hội ASEAN đoàn kết, vững mạnh và thống nhất sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển ở khu vực Vì vậy nghiên cứu, tìm hiểu về Pháp luật cộng đồng ASEAN là một yêu cầu tất yếu, cần thiết đặc biệt là với sinh viên, học viên chuyên ngành luật; người tham gia làm việc và nghiên cứ pháp luật Trên cơ sở đó, qua quá trình học tập môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN, em xin được trình bày những hiểu biết, phân tích, đánh giá của mình đối với 3 câu hỏi đề bài được đưa ra
Nội dung Câu 1: Anh/chị hãy phân tích hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do và các biện pháp khắc phục hiện tượng này Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN
1 Thế nào là hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do?
- Khu vực thương mại tự do (FTA) là hình thức hòa nhập thương mại giữa nhiều
nước, trong đó các thành viên dỡ bỏ hết hàng rào thương mại (thuế quan, hạn ngạch ) giữa họ với nhau, nhưng tất cả các nước đều tiếp tục duy trì hàng rào thương mại với các nước khác Mục đích của khu vực thương mại tự do là tận dụng những mối lợi từ chuyên môn hóa quốc tế, qua đó cải thiện mức sống thực tế của các nước thành viên Một trong những hạn chế của xu thế khu vực hóa thương mại tự do là hiện tượng “chệch hướng thương mại”
Trang 4- Chệch hướng thương mại là một thuật ngữ được sử dụng trong kinh tế học quốc tế,
nói về sự chuyển hướng của mối quan hệ thương mại của một quốc gia sau khi quốc gia này kí kết những hiệp định kinh tế song phương hoặc gia nhập các khối kinh tế
Khi một quốc gia áp dụng cùng một mức thuế đối với tất cả các quốc gia khác, liền
có xu hướng nhập khẩu hàng hóa từ nơi có giá rẻ nhất, mang lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, một khi các hiệp định thương mại song phương hay khu vực trong các khu vực thương mại tự do được kí kết, tạo nên sự khác biệt về mức thuế, hàng hóa của các quốc gia tham gia hiệp định sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng hóa của các quốc gia bên ngoài Điều này là nguyên nhân gây ra hiện tưởng chuyển hướng thương mại, các quốc gia có xu hướng chuyển việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước bạn hàng quen thuộc sang các nước nằm trong hiệp định Sự chuyển hướng trong thương mại này gây thiệt hại cho những nước không là thành viên của một hiệp định hay khu vực thương mại tự do nào đó Những nước này mặc dù sản xuất hiệu quả hơn, giá rẻ hơn những vẫn bị mất thị trường
do sự phân biệt về thuế
2 Biện pháp khắc phục hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực
thương mại tự do
Để khắc phục hiện tượng thương mại chệch hướng trong FTA có thể kể đến một số biện pháp như sau:
- Thứ nhất, vấn đề chệch hướng thương mại xảy ra khi các nước thành viên FTA không có chung thuế quan đối với bên ngoài, do đó, các nước trong khu vực mậu dịch tự
do ngoài việc bãi bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu đối với tất cả hàng hóa mua bán với nhau cần đồng thời thống nhất quy tắc đánh thuế nhập khẩu chung đối với hàng hóa bên ngoài, từng bước xây dựng các hiệp ước từng bước nâng cấp Khu vực mậu dịch tự do trở thành Liên minh thuế quan (CU), Thị trường chung (CM), và đạt cấp cao nhất Liên minh kinh
tế tiền tệ (EMU)
- Thứ hai, các nhà sản xuất từ ngoài khu vực có thể né tránh thuế quan cao bằng nhiều cách như xây dựng nhà máy thực hiện công đoạn cuối cùng ở nước thành viên có thuế quan thấp, sau đó xuất sang các nước thành viên khác có thuế quan cao hơn
Trang 5- Thứ ba, do mậu dịch ở các quốc gia thành viên không hoàn toàn tự do, vì thuế quan
bị cắt giảm một phần nên động lực kích thích né tránh hệ thống này không biểu hiện rõ như ở khu vực mậu dịch tự do Do đó các quốc gia thành viên phải tìm những giải pháp hữu ích cho việc kiểm soát hàng hóa từ bên ngoài khu vực liên kết Mỗi nước phải có khả năng phân biệt có hiệu quả giữa hàng hóa có nguồn gốc từ khu vực mậu dịch tự do và từ nước khác (thông qua việc kiểm tra chi tiết chứng từ chứng minh xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu) Tuy nhiên việc phân biệt này là khá khó khăn vì thế cần một bộ quy tắc xuất
xứ hàng hóa ra đời Quy tắc xuất xứ được hiểu là một tập hợp những quy định pháp luật
để xác định quốc gia xuất xứ của hàng hóa Một bộ quy tắc xuất xứ thích hợp sẽ giúp việc quản lý xuất xứ hàng hóa trong FTA, góp phần phòng chống gian lận thương mại
3 Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN
Trước những khó khăn, thách thức của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, năm 1992 Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp tại Singgapore đã quyết định thành lập một khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) là một hiệp định thương mại tự do đa phương hình thành giữa các nước ASEAN mà tại đó rào cản thương mại được dỡ bỏ, hoạt động thuận lợi hóa thương mại được xúc tiến Mục tiêu là giảm dần thuế quan xuống còn 0-5%, dỡ bỏ dần phi thuế quan với hầu hết các nhóm hàng hóa, hài hòa thủ tục hải quan các nước Trong khi đó, ASEAN vốn là một khu vực kinh tế quy mô nhỏ và các ước ASEAN đều phải dựa nguồn vốn đầu tư và xuất khẩu để phát triển nên không tránh khỏi hiện tượng chênh lệch thương mại
Để khắc phục, ngăn chặn hiệu quả hiện tượng chệch hướng thương mại bộ quy tắc xuất xứ hàng hóa ra đời – đó là Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan Trong ATIGA, các nước ASEAN dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự
do (FTA) mà ASEAN ký Ngoài các cam kết về thuế quan, ATIGA cũng bao gồm nhiều
Trang 6cam kết khác như: xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hải quan, các tiêu chuẩn và sự phù hợp, các biện pháp vệ sinh dịch tễ Biểu cam kết cắt giảm thuế quan trong ATIGA của mỗi nước (Phụ lục 2 của Hiệp định) bao gồm toàn bộ các sản phẩm trong Danh mục hài hóa thuế quan của ASEAN và lộ trình cắt giảm cụ thể cho từng sản phẩm trong từng năm
Hiện nay, các nước ASEAN tham gia rất nhiều hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương Cụ thể hiện nay trong bối cảnh nền kinh tế ASEAN đang đối mặt với các thách thức do dịch Covid-19 gây ra thành quả đạt được trong công tác xử lý
các biện pháp phi thuế quan của ASEAN vẫn khá tích cực: ASEAN đã xóa bỏ 98,6% tổng
số các dòng thuế trong Hiệp định ATIGA 1
Như vậy, hiện nay ASEAN cùng với hiệp định thương mại nói chung và ATIGA nói riêng đã giúp khu vực này lưu giữ được nguồn hàng ổn định trong thương mại nội khối, thúc đẩy thương mại nội khối đồng thời vẫn tiến hành thương mại ngoại quá với các quốc gia khác Sự chệch hướng thương mại ra ngoài các nước ASEAN được hạn chế
Câu 2: Phân tích vai trò của hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch
vụ của ASEAN.
1 Tìm hiểu về hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN
Xuất phát từ đặc trưng của dịch vụ có thể hiểu dịch vụ là các hoạt động của con người, được kết tình thành các loại sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Thương mại dịch vụ là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ
Cùng với hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ, các quốc gia luôn có nhu cầu hợp tác để tạo ra một cơ chế phù hợp cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài có thể tiếp cận được với thị trường dịch vụ của quốc gia mình, đặc biệt là đối với các lĩnh vực ngành nghề có điều kiện, chịu sự quản lý của nhà nước Công nhận lẫn nhau là cơ chế được các quốc gia trên thế giới cũng như ASEAN xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu này Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ được hiểu là hoạt động của quốc gia này công nhận các điều kiện để được cung cấp một dịch vụ nhất định theo quy định của quốc gia khác
1 Hội nghị Hội đồng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN lần thứ 35.
Trang 7nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của quốc gia được công nhận tiếp cận với thị trường dịch vụ của quốc gia công nhận
Cụ thể, thừa nhận ý nghĩa của công nhận lẫn nhau, Điều 5 Hiệp định khung ASEAN
về dịch vụ quy định: “Mỗi quốc gia thành viên có thể công nhận trình độ giáo dục hoặc
kinh nghiệp nhận được, các yêu cầu đã được thỏa mãn, hoặc có giấy chứng nhận hoặc giấy phép đã được cấp tại quốc gia thành viên khác, để sử dụng cho mục đích cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở hiệp định hoặc thỏa thuận với quốc gia thành viên có liên quan, hoặc có thể đơn phương công nhận.”2 Các quốc gia thường thực hiện các hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ thông qua việc ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA)
2 Vai trò của hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN.
Hoạt động công nhận lẫn nhau có vai trò hết sức to lớn đối với thương mại dịch vụ ASEAN, cụ thể:
Thứ nhất, hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các quốc gia được thúc đẩy
Có thể thấy vai trò quan trọng hàng đầu của hoạt động công nhận lẫn nhau trong ngành nghề cung cấp dịch vụ của ASEAN là việc thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại dịch
vụ Những cơ chế về thỏa thuận công nhận lẫn nhau cho phép các văn bằng, chứng chỉ của những nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền nước sở tại của họ cũng được công nhận tại các quốc gia thành viên khác Điều này sẽ góp phần cắt giảm chi phí, thời gian, công sức của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và của cả cơ quan quản lý ngành nghề của quốc gia tiếp nhận dịch vụ Những khuôn khổ pháp lý trên là cơ sở vững chắc để thúc đẩy hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ được thực hiện có hiệu quả
Thứ hai, nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng nhà cung cấp dịch vụ Mục tiêu của việc ký kết các MRA là nhằm thiết lập cơ chế để công nhận trình độ, bằng cấp, chứng chỉ… của người lao động từ các nước ký kết Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho việc dịch chuyển lao động chính là sự khác biệt lớn giữa các quốc gia liên quan
2 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2016, tr.216
Trang 8đến hệ thống giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỹ năng, thực hành nghề nghiệp… Do đó, việc quy định các tiêu chuẩn thống nhất trong một liên kết kinh tế khu vực hướng đến một thị trường chung là cực kỳ cần thiết Các quy chuẩn chung này giúp các quốc giá có chất lượng trung bình ở mức thấp hơn trong khu vực có cơ hội giao lưu, trao đổi, nhận được sự hỗ trợ từ các quốc gia phát triển, mục tiêu hướng tới mức chất lượng dịch vụ cao hơn
Thứ ba, tạo điều kiện cho nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn nươc ngoài tiếp cận và thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ tại thị trường của một quốc gia khác Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRA) tạo điều kiện cho thương mại dịch vụ thông qua việc thừa nhận lẫn nhau về sự cho phép, cấp phép, hoặc chứng nhận trình độ của các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp có được ở một nước bởi một quốc gia khác tham gia MRA Như vậy, MRA thúc đẩy sự lưu thông của các chuyên gia nước ngoài bằng cách giảm các thủ tục phức tạp trong việc xin giấy phép để cung cấp dịch vụ ở nước khác
Thứ tư, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau sẽ giúp giải quyết sự thiếu hụt nhận lực chất lượng cao trong thị trường nội địa Như đã nói đến, MRA thúc đẩy dự lưu thông của các chuyên gia nước ngoài nhờ vậy cung cấp một nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia nội địa Đồng thời việc này tăng sức cạnh tranh, tư duy đổi mới hội nhập đối với những thị trường dịch vụ vốn đã trở nên bão hòa và trì trệ Sự phát triển nguồn nhân lực được thực hiện thông qua nhiều biện pháp thực thi cụ thể, trong đó thành công nhất là triển khai Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN được ký kết năm 2012
Câu 3: Công ty A 100% vốn Hoa Kỳ, được thành lập tại Indonesia theo pháp luật về đầu tư nước ngoài của nước này Sau đó, công ty A đầu tư theo hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần tại Việt Nam Hỏi, công ty A có được coi là nhà đầu tư ASEAN và được bảo hộ đầu tư tại Việt Nam hay không? Tại sao?
Công ty A trong tình huống trên được coi là nhà đầu tư ASEAN với căn cứ được phân tích như sau:
- Cơ sở pháp lý: Điều 1 Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Điều 4 Hiệp định đầu tư toàn diện (ACIA)
Trang 9Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) định nghĩa tại Điều 1 “Nhà đầu tư ASEAN” có nghĩa là một công dân của một Quốc gia thành viên; hoặc một pháp nhân của một Quốc gia thành viên, thực hiện đầu tư vào Quốc gia thành viên khác, trong đó vốn ASEAN thực tế của pháp nhân đó cộng gộp với tất cả các vốn ASEAN khác, ít nhất phải bằng tỷ lệ tối thiểu cần có để thoả mãn yêu cầu về vốn Quốc gia và các yêu cầu về vốn khác của pháp luật trong nước và các chính sách quốc gia được công bố, nếu có, của nước chủ nhà liên quan đến đầu tư đó
Hiện nay Hiệp định đầu tư toàn diện (ACIA) năm 2009 đã thay thế cho hiệp định AIA, khái niệm Nhà đầu tư ASEAN được quy định tại Điều 4 ACIA cũng được mở rộng
hơn, cụ thể:“Nhà đầu tư ASEAN được hiểu là công dân của quốc gia thành viên hoặc là một pháp nhân của quốc gia thành viên đang, hoặc đã tiến hành đầu tư trong lãnh thổ nước thành viên khác”
- Nhận xét: có thể thấy, dựa vào quy định về khái niệm Nhà đầu tư ASEAN được đề cập như trên thì điều kiện để là một Nhà đầu tư ASEAN đó là phải là một công dân hoặc pháp nhân của quốc gia thành viên tiến hành đầu tư trong lãnh thổ nước thành viên khác Đối với trường hợp của doanh nghiệp A (Công ty A 100% vốn Hoa Kỳ, được thành lập tại Indonesia theo pháp luật về đầu tư nước ngoài của nước này), doanh nghiệp A được coi là một pháp nhân của quốc gia thành viên ASEAN
Pháp nhân là một tổ chức được thành lập hợp pháp hoặc được pháp luật thừa nhận khi đáp ứng được các điều kiện mà pháp luật quy định Theo thực tiễn tư pháp quốc tế, pháp nhân được thành lập hoặc được công nhận theo pháp luật của một nước nhất định Nói cách khác, việc thành lập hoặc công nhận một tổ chức có tư cách pháp nhân phải dựa trên cơ sở pháp luật của một nước nhất định Do Indonesia là một quốc gia thành viên ASEAN, A 100% vốn nước ngoài và được thành lập tại Indonesia vì thế A mang quốc tích Indonesia và A là một pháp nhân của Indonesia Vì vậy việc công ty A – một pháp nhân nước thành viên ASEAN tham gia đầu tư vào nước thành viên khác là Việt Nam sẽ được xem là một nhà đầu tư ASEAN
Công ty A trong trường hợp này được bảo hộ đầu tư tại Việt Nam:
Trang 10Hiệp định đầu tư toàn diện (ACIA) đã quy định rõ về những cam kết việc bảo hộ đầu
tư bằng các hình thức bảo vệ đầu tư ACIA bao gồm rất nhiều quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài và các khoản đầu tư của họ khi đầu tư vào một nước ASEAN Các nghĩa vụ này là một trong 4 nội dung chính của ACIA, các nước chủ nhà sẽ phải đối xử công bằng, đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư Như vậy, với việc công ty A tham gia đầu tư tại Việt Nam chắc chắn sẽ được bảo hộ đầu tư tại Việt Nam theo quy đinh của ACIA
Kết luận
Với tư cách là một thành viên ASEAN – Việt Nam luôn cố gắng, phấn đấu vì một ASEAN đoàn kết, vững mạnh chung; đồng thời là cơ sở, đòn bảy để thúc đẩy kinh tế Việt Nam hội nhập, tiến bộ, cùng phát triển với bạn bè khu vực cũng như bạn bè thế giới Để làm được điều đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật về Cộng đồng ASEAN là vô cùng cần thiết Nhờ đó tạo khuôn khổ pháp lí vững chắc, là tiền đề để mọi quan hệ phát sinh trong cộng đồng ASEAN được thực hiện; trong đó các bên liên quan sẽ được đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng
Bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm của quý thầy cô, em xin chân thành cảm ơn
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Quỳnh Anh, Lý luận và thực tiễn bảo hộ đầu tư theo các hiệp định về đầu tư của ASEAN trong giai đoạn hiện nay,
2 Phạm Nguyệt Hằng, Các cam kết của Việt Nam trong một số hiệp định thương mại tự
do (Phần 2), https://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/pldn/Pages/pho-bien-pl-doanh-nghiep.aspx?ItemID=30#:~:text=Ngo%C3%A0i%20c%C3%A1c%20cam%20k%E1%BA
%BFt%20v%E1%BB%81,ph%C3%A1p%20v%E1%BB%87%20sinh%20d%E1%BB
%8Bch%20t%E1%BB%85, truy cập 2/6/2022
3 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, Nxb Công an
Nhân dân, Hà Nội, 2016
4 Tiến sĩ Vũ Ngọc Dương, Công nhận lẫn nhau trong ASEAN về dịch vụ kế toán, kiểm toán và cơ chế thực hiện tại Việt Nam,