1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

25 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 48,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Từ ý nghĩa sâu sắc đó Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng các chuẩn mực để tạo nên gia đình văn hóa, tiến bộ mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Mục tiêu này đã được luật hóa trong các văn bản pháp luật nói chung, đặc biệt là trong pháp luật Hôn nhân và gia đình. Kết hôn là bước khởi đầu để hình thành nên gia đình, vì vậy việc quy định các điều kiện kết hôn là yêu cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội,... việc không tuân thủ các điều kiện kết hôn vẫn diễn ra hàng ngày trong đời sống gây nên hiện tượng kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, Nhà nước ta đã điều chỉnh hiện tượng này bằng chế tài Hủy việc kết hôn trái pháp luật. Là chế tài của luật hôn nhân và gia đình nên hậu quả của việc hủy việc kết hôn trái pháp luật là rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống của chủ thể kết hôn, tới quyền lợi của con cái họ, quyền lợi của mọi người và ảnh hưởng tới trật tự xã hội. Do đó, nghiên cứu về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật HNGĐ là vô cùng cần thiết. Không chỉ nhằm giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật được hiệu quả, mà quan trọng là hoàn thiện hơn nữa chế tài này. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề bài số 2: “Hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” để nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn về đề tài này.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôinuôi dưỡng con người và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Từ

ý nghĩa sâu sắc đó Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng các chuẩn mực đểtạo nên gia đình văn hóa, tiến bộ mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.Mục tiêu này đã được luật hóa trong các văn bản pháp luật nói chung, đặc biệt làtrong pháp luật Hôn nhân và gia đình Kết hôn là bước khởi đầu để hình thành nêngia đình, vì vậy việc quy định các điều kiện kết hôn là yêu cầu tất yếu của xã hội.Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, việc không tuân thủ cácđiều kiện kết hôn vẫn diễn ra hàng ngày trong đời sống gây nên hiện tượng kết hôntrái pháp luật Vì vậy, Nhà nước ta đã điều chỉnh hiện tượng này bằng chế tài Hủyviệc kết hôn trái pháp luật Là chế tài của luật hôn nhân và gia đình nên hậu quảcủa việc hủy việc kết hôn trái pháp luật là rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống củachủ thể kết hôn, tới quyền lợi của con cái họ, quyền lợi của mọi người và ảnhhưởng tới trật tự xã hội

Do đó, nghiên cứu về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong LuậtHN&GĐ là vô cùng cần thiết Không chỉ nhằm giải quyết hủy việc kết hôn tráipháp luật được hiệu quả, mà quan trọng là hoàn thiện hơn nữa chế tài này Chính vì

vậy em xin lựa chọn đề bài số 2: “Hủy việc kết hôn trái pháp luật - quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” để nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn về đề tài này

Trang 2

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều

kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định

của pháp luật Kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân.

Như vậy ở Việt Nam, Luật HN&GĐ quy định về điều kiện kết hôn:

1 Nam, nữ khi kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quyđịnh tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật.

Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014, kết hôn trải pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyển nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn.

Như vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi hai bên nam nữ đã đăng ký kếthôn theo đúng quy định của pháp luật nhưng không tuân thủ một trong các điềukiện kết hôn luật định Ví dụ như chưa đến tuổi kết hôn, hay có dấu hiệu cưỡng ép,cản trở kết hôn Trường hợp hai bên nam nữ không đăng ký kết hôn nhưng viphạm điều kiện kết hôn hoặc trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyềncũng là việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kết hôn nhưng không được xác định

là kết hôn trái pháp luật Việc phân biệt này có ý nghĩa trong việc lựa chọn hìnhthức xử lý đối với từng trường hợp vi phạm

3 Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trang 3

Kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn, lợi ích củagia đình và xã hội Vì thế, cần phải có những biện pháp xử lý đối với hành vi viphạm, góp phần đảm bảo cho các điều kiện kết hôn được tuân thủ một cách chặtchẽ Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, kết hôn trái pháp luật sẽ bị xử

hủy “Hủy việc kết hôn trải pháp luật là biện pháp chế tài được áp dụng đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật, thể hiện thải độ của Nhà nước về việc không thừa nhận giá trị pháp lý của quan hệ hôn nhân”.

Theo quy định này, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy việc kết hôn tráipháp luật Khi Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Giấy chứngnhận kết hôn mà hai bên được cấp trước đó không có giá trị pháp lý Do đó, haibên nam nữ không phải là vợ chồng của nhau, họ buộc phải chấm dứt việc chungsống như vợ chồng trái pháp luật Vì vậy, Tòa án phải gửi cho cơ quan đã thựchiện việc đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ bản sao quyết định của Tòa án vềhủy việc kết hôn trái pháp luật để cơ quan này ghi vào Sổ hộ tịch

II Quy định của pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật

1 Căn cứ chung để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trên cơ sở yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án xem xét và xử lýviệc kết hôn trái pháp luật Khi hủy việc kết hôn trái pháp luật phải dựa trên nhữngcăn cứ sau:

- Nam, nữ kết hôn khi chưa đến tuổi kết hôn luật định;

- Việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện;

- Người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn;

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;

- Những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có họ trongphạm vi ba đời kết hôn với nhau;

Trang 4

- Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi; những người đã từng là cha mẹ nuôi vớicon nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của

vợ, mẹ kế với con riêng của chồng mà lại kết hôn với nhau;

- Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau

Như vậy, chỉ cần có một dấu hiệu vi phạm nêu trên thì Tòa án đã có căn cứ

để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Do vậy, khi nhận được đơn yêu cầu hủy việckết hôn trái pháp luật, Tòa án phải kiểm tra, xác minh cụ thể để xử lý việc kết hôntrái pháp luật theo đúng quy định của pháp luật

2 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Theo quy định của Luật TTDS, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy việckết hôn trái pháp luật Vì vậy, về nguyên tắc, Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn khởikiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định có quyền khởi kiệnđối với việc kết hôn trái pháp luật Theo Điều 10 Luật HN&GĐ thì những người cóquyền yêu cầu khởi kiện bao gồm:

- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn;

- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luậtcủa người kết hôn trái pháp luật;

- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

- Hội liên hiệp phụ nữ

Như vậy, người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật rất rộng,không chỉ là cá nhân mà còn là các cơ quan, tổ chức thực hiện quyền yêu cầu với

tư cách là người phản biện xã hội, phát hiện và yêu cầu xử lý đối với các hành vi viphạm pháp luật về kết hôn Bởi vì, nhiều người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôntrái pháp luật sẽ hạn chế được tình trạng che giấu hành vi vi phạm, góp phần phòngngừa, bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội

Trang 5

3 Xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật.

Về nguyên tắc Tòa án nhân dân có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật khi

có yêu cầu Tuy nhiên, hủy việc kết hôn trái pháp luật mang lại những hậu quả bấtlợi đối với bản thân người kết hôn Do đó, xử lý việc kết hôn trái pháp luật cầnphải được cân nhắc một cách thận trọng Theo Khoản 2 Điều 11 Luật HN&GĐ thìtại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, nếu hai bênđều đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật và yêu cầu công nhậnquan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân Trường hợp này quan

hệ hôn nhân chỉ được xác lập kể từ thời điểm các bên có đủ điều kiện kết hôn.Theo quy định của pháp luật, bản sao quyết định này cũng phải gửi cho cơ quanthực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào Sổ hộ tịch

Như vậy, việc công nhận quan hệ hôn nhân chỉ được đật ra đối với trườnghợp kết hôn trái pháp luật khi tại thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái phápluật cả hai bên đều đã đủ điều kiện kết hôn luật định và cả hai bên đều yêu cầucông nhận quan hệ hôn nhân cho họ Có thể xác định đây là hai điều kiện cần và đủ

để Tòa án công nhận hôn nhân đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật Từ sựphân tích trên đây, có thể rút ra các trường hợp Tòa án ra quyết định xử hủy việckết hôn trái pháp luật gồm:

- Trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà mộtbên hoặc cả hai bên vẫn vi phạm điều kiện kết hôn;

- Trường hợp tại thời điểm có yêu cầu cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôntheo quy định của pháp luật nhưng một hoặc cả hai bên không yêu cầu Tòa án côngnhận quan hệ hôn nhân

Theo Luật HN&GĐ xử lý việc kết hôn trái pháp luật mặc dù thể hiện rõ tínhchất chế tài nhưng cũng có những điểm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn Bởi vì,suy cho cùng khi tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm không còn nữa thì việckhông áp dụng biện pháp xử hủy là phù hợp

Trang 6

Xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo Luật HN&GĐ sẽ được áp dụng để xử

lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật xác lập từ ngày 01/01/2015 Cáctrường hợp xảy ra trước ngày 01/01/2015 theo quy định tại Điều 131 LuậtHN&GĐ sẽ áp dụng pháp luật tại thời điểm xác lập để giải quyết Như vậy, LuậtHN&GĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng Luật này vẫnđược áp dụng để giải quyết đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật xác lậptrước ngày 01/01/2015

4 Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Theo Điều 12 Luật HN&GĐ, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật,Tòa án phải giải quyết các vấn đề sau:

- Về quan hệ nhân thân: Theo Luật HN&GĐ về nguyên tắc, Nhà nước

không thừa nhận hai người kết hôn trái pháp luật là vợ chồng Vì vậy, giữa họ cũngkhông tồn tại quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Kể từ ngày quyết định của Tòa

án về việc hủy kết hôn trái pháp luật có hiệu lực pháp luật, hai bên kết hôn phảichấm dứt việc quan hệ như vợ chồng

- Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên kết hôn trái pháp luật: Vì việc kết hôn trái pháp luật bị xử hủy nên hai người không được thừa nhận

là vợ chồng, giữa họ không phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Dovậy, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và họpđồng giữa hai người kết hôn trái pháp luật được giải quyết như trường hợp các bênnam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng

Theo quy định tại Điều 16 Luật HN&GĐ thì quan hệ tài sản, nghĩa vụ vàhọp đồng được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp các bênkhông có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định kháccủa pháp luật có liên quan Như vậy, đối với vấn đề tài sản, nghĩa vụ và hợp đồnggiữa hai bên kết hôn trái pháp luật trước tiên, Tòa án đề cao sự thỏa thuận của hai

Trang 7

bên kết hôn trái pháp luật Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi hai bên không thỏathuận được và có yêu cầu Căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự và các quyđịnh pháp luật có liên quan, Tòa án giải quyết theo nguyên tắc: Tài sản riêng củamỗi bên sẽ thuộc về người đó nhưng người có tài sản riêng phải chứng minh được

đó là tài sản riêng của mình Nếu người có tài sản riêng không chứng minh được,

đó là tài sản riêng của họ thì tài sản này được xác định là tài sản chung của haingười Tài sản chung của hai người được chia căn cứ vào công sức đóng góp củamỗi bên Khi chia phải đảm bảo quyền, lợi ích họp pháp của phụ nữ và con; côngviệc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì cuộc sống chung được coinhư lao động có thu nhập

Như vậy, việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng đối vớitrường họp kết hôn trái pháp luât theo Luật HN&GĐ thể hiện rõ tính chất chế tàitrong việc xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Hai người kết hôn trái pháp luật phảichấp nhận những hậu quả bất lợi nhất định về việc giải quyết vấn đề tài sản bởi vì

họ không được thừa nhận là vợ chồng

- Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ, con: Việc Tòa án hủy việc kết hôn trái

pháp luật không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.Bởi vì, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được pháp luật quy định không phụthuộc vào tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa cha mẹ Dù quan hệ hôn nhâncủa cha mẹ không được Nhà nước thừa nhận thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ vàcon vẫn được pháp luật bảo vệ như trường hợp cha mẹ có quan hệ hôn nhân hợppháp Vì vậy, khi hủy việc kết hôn trái pháp luật, các vấn đề liên quan đến conchung của hai người kết hôn trái pháp luật được giải quyết giống như khi vợ chồng

ly hôn Do đó, Tòa án phải căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật HN&GĐ đểxem xét và quyết định về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục connhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con

Trang 8

5 Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, không đăng ký kết hôn

5.1 Xử lý việc đăng kỷ kết hôn không đúng thầm quyền.

Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là việc đăng ký kết hôn khôngđược thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn Ví dụ, ủy ban nhândân xã A thực hiện việc đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ nhưng cả hai bênnam, nữ đều không cư trú tại xã A

Theo Luật HN&GĐ, đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền xử lý: Khi cóyêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kếthôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việcđăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, quan

hệ hôn nhân được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn trước (Điều 13)

Như vậy khác với hủy việc kết hôn trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền xử

lý việc kết hôn không đúng thẩm quyền không phải là Tòa án nhân dân Theo LuậtBan hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứngnhận kết hôn sẽ thu hồi lại Giấy chứng nhận kết hôn cấp không đúng thẩm quyền

Để xử lý linh hoạt đối với việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, việc quyđịnh yêu cầu hai bên kết hôn thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhànước có thẩm quyền là cần thiết Quy định này bảo vệ được quyền, lợi ích chongười kết hôn Tuy nhiên, nếu đăng ký kết hôn lại mà quan hệ hôn nhân lại đượcxác lập kể từ lần kết hôn trước theo như quy định tại Điều 13 sẽ nảy sinh điểm bấtcập Giả sử, người kết hôn không chỉ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền màcòn vi phạm điều kiện kết hôn thì khi đăng ký kết hôn lại, quan hệ hôn nhân đượcthừa nhận kể từ lần đăng ký kết hôn trước là không phù hợp Bởi vì như vậy cũngđồng nghĩa với việc thừa nhận quan hệ hôn nhân ngay cả khi họ vi phạm điều kiệnkết hôn Khắc phục điểm mâu thuẫn này, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-

Trang 9

TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 6/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy địnhcủa Luật HN&GĐ chỉ rõ: Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kếthôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạmđiều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luậthoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 tuyên bố không công nhận quan hệhôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơquan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 Nếu có yêucầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợpđồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 cùa LuậtHN&GĐ (Điểm 3 Điều 3).

Như vậy, hướng dẫn trên đã khắc phục được điểm mâu thuẫn trong quy địnhcủa Luật HN&GĐ năm 2014 về việc xử lý đối với trường hợp đăng ký kết hônkhông đúng thẩm quyền Tuy nhiên, hướng dẫn này lại bộc lộ điểm không phù hợp

về hình thức bởi vì nếu áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC-BTP để giải quyết việc kết hôn không đúng thẩm quyền thìThông tư này đã có hiệu lực cao hơn cả Luật HN&GĐ

01/2016/TTLT-5.2 Xử lý trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn.

Theo Điều 9 Luật HN&GĐ, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quannhà nước có thẩm quyền thực hiện Việc kết hôn không được đãng ký theo quyđịnh của pháp luật thì không có giá trị pháp lý Vì vậy, đối với các trường hợpnam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn sẽ được giải quyết nhưsau:

- Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng màkhông đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ vàchồng

Trang 10

- Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưngsau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hônnhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Như vậy, trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kýkết hôn, nếu có yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản và con chungthì áp dụng các Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 để giảiquyết Theo quy định này, việc giải quyết vấn đề con chung và tài sản của hai bênnam nữ chung sống với nhau như vợ chồng cũng giống như trường hợp hủy việckết hôn trái pháp luật Bởi vì, xét về bản chất hai bên nam nữ trong hai trường hợpnày đều không được thừa nhận là vợ chồng

- Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn trướcngày 01/01/2015 thì áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng Luật này để giải quyết

6 Xử lý theo Luật hình sự.

Xử lý theo Luật hình sự không chỉ được đặt ra đối với các trường hợp kếthôn trái pháp luật mà còn đặt ra đối với cả những trường hợp nam, nữ chung sốngvới nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn vi phạm các điều cấm Tuy nhiên,việc xử lý hình sự chỉ được đặt ra khi hành vi vi phạm cấu thành tội phạm đượcquy định trong Bộ luật Hình sự Theo quy định tại Chương XV Bộ luật Hình sựnăm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, các tội phạm xâm phạm chế độ hônnhân và gia đình bao gồm:

- Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cảntrở ly hôn tự nguyện (Điều 181);

- Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182);

- Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183);

- Tội loạn luân (Điều 184)

Trang 11

Nhìn chung, các tội trên đều thuộc nhóm tội ít nghiêm trọng Hình phạt được

áp dụng đối với các tội này không cao Hình phạt tù áp dụng cho các tội này daođộng trong khoảng 2 đến 5 năm (Mức cao nhất của khung hỉnh phạt áp dụng đốivới tội loạn luân là 5 năm tù Đây cũng là mức hình phạt cao nhất đối với nhómcác tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình) Tuy nhiên, việc quy định các tộiphạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thể hiện thái độ kiên quyết của Nhànước ta trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân vàgia đình tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng

Như vậy, nếu hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn cấu thành tộiphạm được nêu trên thì việc kết hôn trái pháp luật không chỉ bị xử hủy mà ngườikết hôn có thể còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật

III Thực trạng kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật

1 Thực trạng các trường hợp kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam

Kết hôn trái pháp luật không phải là một hiện tượng xa lạ trong đời sống xãhội Ngay từ khi quan niệm về kết hôn xuất hiện thì cũng bắt đầu xuất hiện nhữngquan niệm về kết hôn trái pháp luật Trong các giai đoạn trước, do ảnh hưởng củatình hình kinh tế - xã hội cũng như các yếu tố chính trị, văn hóa mà kết hôn tráipháp luật chủ yếu ở một số dạng vi phạm như: vi phạm về độ tuổi, vi phạm về sự

tự nguyện Ngày nay, các yếu tố như hội nhập quốc tế, sự phát triển về kinh tế

-xã hội, sự phát triển về khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng trực tiếp tới các dạng viphạm về kết hôn, những nguyên nhân như vi phạm sự tự nguyện của các bên, viphạm về độ tuổi không còn là những vi phạm phổ biến, thay vào đó là các trườnghợp kết hôn trái pháp luật do chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn,kết hôn đồng giới, kết hôn với người đã có vợ, có chồng Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 đã phần nào đáp ứng được yêu cầu thay đổi của xã hội, nhấn mạnhhơn các nguyên tắc kết hôn Mặc dù vậy, trong thực tế với rất nhiều những thay đổi

Trang 12

của xã hội, Luật HN&GĐ cũng đã bắt đầu bộc lộ những thiếu sót, gây ra những bấtcập trong thực tiễn áp dụng Mục II sẽ có một cái nhìn toàn diện về pháp luật thựcđịnh, thực tiễn áp dụng cũng như những bất cập gặp phải trên thực tế của cáctrường hợp kết hôn trái pháp luật khi vi phạm những điều kiện kết hôn quy định tạicác Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

1.1 Thực trạng kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn.

Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 LuậtHN&GĐ với nội dung: "Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên" Theo

đó, vi phạm về độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bênnam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi cònđược gọi là tảo hôn Ngày nay, xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìnnhận của con người về hôn nhân gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều, hiện tượng viphạm điều kiện kết hôn về độ tuổi chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, thiểu

số Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo, căn cứ vào tình trạng thực tế của cuộchôn nhân mà có trường hợp xử hủy kết hôn trái pháp luật, có trường hợp khônghủy kết hôn

1.2 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện

Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủthể nam nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điềukiện riêng Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữkhi kết hôn "Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được

ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở" Mặt trái của sự tựnguyện đó chính là những hành vi ép buộc, lừa dối hoặc "cưỡng ép, cản trở" cácbên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là những hành vi vi phạm pháp luật về Hônnhân và gia đình Kết hôn vi phạm sự tự nguyện là một hiện tượng diễn ra khá phổbiến trong xã hội phong kiến, nhất là đối với những gia đình có địa vị thấp kém

Ngày đăng: 29/11/2021, 23:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w