1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU hỏi có đáp án LUẬT HÀNH CHÍNH

33 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 77,41 KB
File đính kèm CÂU HỎI CÓ ĐÁP ÁN LUẬT HÀNH CHÍNH.rar (74 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

IV. PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM VÀ DẤU HIỆU CỦA VPHC1.Định nghĩa vi phạm hành chínhLuật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Điều 2) đã đưa ra định nghĩa:Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.Mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, tập thể lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng2.Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính.Vi phạm hành chính được cấu thành bởi bốn yếu tố bao gồm mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ thể và khách thể.2.1. Mặt khách quanLà những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm hành chính như: hành vi, hậu quả của hành vi, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính. Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các qui tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật qui định về xử phạt hành chính, theo đó pháp luật qui định rằng những hành vi này sẽ bị xử lý bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính. Như vậy, khi xem xét hay đánh giá hành vi của tổ chức, cá nhân có phải là vi phạm hành chính hay không bao giờ cũng có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó được pháp luật qui định là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính. Cần tránh tình trạng nguyên tắc suy đoán hoặc áp dụng tương tự pháp luật trong việc xác định vi phạm hành chính đối với các tổ chức cá nhân.Không có hành vi thì không có vi phạm hành chính. Những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng xấu chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa phải là vi phạm pháp luật. Hành vi có thể biểu hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động. Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác, Thông thường những yếu tố này có thể là:Thời gian thực hiện hành vi vi phạm;Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm;Công cụ, phương tiện vi phạm. Hậu quả tác hại là những thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra cho trật tự quản lý nhà nước (vật chất hay phi vật chất). Mối liên hệ nhân quả là hành vi vi phạm hành chính là nguyên nhân gây ra hậu quả, hậu quả xảy ra bởi chính hành vi đó. Hậu quả và mối liên hệ nhân quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, mà có ý nghĩa xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của vi phạm hành chính để áp dụng hình thức, mức phạt tương ứng2.2. Mặt chủ quanLà biểu hiện bên trong của vi phạm hành chính, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích của vi phạm hành chính. Dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm là dấu hiệu bắt buộc. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi thể hiện ở hình thức cố ý hoặc vô ý. Nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý). Khi có đủ căn cứ để cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạm hành chính xảy ra.Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính, ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính. Chính vì thể khi xử phạt cá nhân, tổ chức về loại vi phạm hành chính này cần xác định rõ ràng hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác.Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính còn có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề lỗi của tổ chức. Có ý kiến cho rằng lỗi chỉ là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành chính. Khi xử lý tổ chức vi phạm hành chính chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi vi phạm hành và hành vi đó theo qui định của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ. Quan điểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Về phương diện pháp luật, pháp luật xử lý vi phạm hành chính qui định chung rằng tổ chức phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Đồng thời, nó phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành nhiệm vụ công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật về để bồi thường thiệt hại theo qui định của pháp luật.2.3. Chủ thể vi phạm hành chínhChủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo qui định của pháp luật hành chính.Theo qui định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ tuổi do pháp luật qui định cụ thể: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý.Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp.Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo qui định pháp luật;Tổ chức: Phải có quyết định thành lập (cơ quan nhà nước) hoặc được cho phép thành lập và hoạt động (tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế). Cá nhân, tổ chức nước ngoài là chủ thể vi phạm hành chính theo qui định pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác. 2.4. Khách thể của vi phạm hành chính Là những quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại, được luật Hành chính quy định và bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ. nói cách khác, vi phạm hành chính là vi phạm trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật tự, an toàn xã hội... Điều đó đã được quy định trong các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Bao gồm: khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp. Là yếu tố bắt buộc trong cấu thành vi phạm hành chính, phản ánh tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm.

Trang 1

1 Khái niệm:

Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện chủ yếu là hoạt động chấp hành, điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

2 Đặc điểm

Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận của bộ máy nhà nước nên cũng có

các đặc điểm chung của cơ quan nhà nước như sau:

- Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh Nhà nước khi tham giavào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mụcđích hướng tới lợi ích công;

- Hê thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật qui định

- Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trênnhững qui định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và cónhững mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao

- Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ,công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo qui định củapháp luật cán bộ, công chức

Đặc điểm riêng của cơ quan hành chính nhà nước:

- Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chínhnhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng chấp hành - điềuhành (đó là hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) nhằm thựchiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Như vậy, hoạt động chấp hành - điềuhành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạtđộng chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước Các cơ quan nhà nước cũng thựchiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng đó không phải làphương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hướng tới hoàn thànhchức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốchội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của Viện kiểm sátnhân dân Chỉ các cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện hoạt động quản lýhành chính nhà nước cũng chính là để hoàn thành chức năng quản lý hành chínhnhà nước

- Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ

sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chính thể thống nhất, được tổ chức theo

hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạtđộng nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước

- Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được qui định trên cơ sởlãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn, mang tính tổng hợp Đó là nhữngquyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành - điềuhành

- Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ

Trang 2

quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơquan quyền lực nhà nước.

- Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc Cácđơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cho xã hội Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chínhđều có các đơn vị trực thuộc Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục vàĐào tạo, các tổng công ty, các công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công nghiệp, BộNông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, các đơn vị công an,quân đội trực thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng…

II PHÂN BIỆT CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC:

là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộcCông an nhân dân mà không phải

là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an

Theo đó, từ 1/7/2020 Luật mới sẽ thu hẹp đối tượng là công chức: đốitượng là người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệpcông lập từ thời điểm 1/7/2020 không còn được xác định là công chức

Làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồnglàm việc

Tính chất

công việc

Mang tính quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý, thực hiện công vụ thường xuyên

Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình

độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị

sự nghiệp công lập

Biên chế và Trong biên chế và hưởng lương từ Hưởng lương từ quỹ lương

Trang 3

chế độ

lương ngân sách nhà nước.

của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Thời gian

tập sự

Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ

Thời gian tập sự từ 03 tháng đến 12 tháng và phải được quy định trong hợp đồng làm việc

chức vụ lãnh đạo, quản lý; hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

+ Công chức bị Tòa án kết án phạt

tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôiviệc kể từ ngày bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật; công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức

bị hạn chế thực hiện hoạt độngnghề nghiệp theo quy định củapháp luật có liên quan

Căn cứ pháp lý:

Luật cán bộ, công chức và luật viên chức sửa đổi năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2020)

Luật cán bộ, công chức năm 2008

Luật viên chức năm 2010

III TRÌNH BÀY HẬU QUẢ CỦA QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH KHÔNG TUÂN THỦ TÍNH HỢP PHÁP VÀ TÍNH HỢP LÝ

Hợp pháp tức là đúng với pháp luật hay không trái pháp luật Mọi vấn đề

thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật được coi là có tính hợp pháp và chỉ khi nó được thực hiện theo đúng những yêu cầu mà pháp luật đã đặt ra

Trang 4

Một quyết định hành chính chỉ có hiệu lực thi hành khi nó hợp pháp, tức làthoả mãn tất cả các yêu cầu sau:

– Một là, quyết định hành chính được ban hành phải phù hợp với mục đích vànội dung của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơquan nhà nước cấp trên Ngược lại chính là vi hiến, vi pháp Bất kì văn bản luậtnào vi hiến, vi pháp đều sẽ bị xử lí, điều chỉnh

– Hai là, quyết định hành chính được ban hành trong phạm vi thẩm quyền củachủ thể

– Ba là, quyết định hành chính phải bảo đảm trình tự, thủ tục, hình thức theoluật định

Hợp lý, theo nghĩa chung, là đúng lẽ phải, đúng với sự cần thiết, sự phù hợp

với logic của sự vật Một quyết định hành chính được coi là có tính hợp lý khi nóđáp ứng được yêu cầu:

– Quyết định hành chính phải đảm bảo được lợi ích của nhà nước và nguyệnvọng của nhân dân, không được tách rời giữa lợi ích của nhà nước và nguyện vọngcủa nhân dân

– Quyết định hành chính phải được xuất phát từ yêu cầu khách quan của việcthực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, tuyệt đối không được xuất phát

từ ý muốn chủ quan của chủ thể ra quyết định

– Quyết định hành chính phải có tính dự báo, tính khả thi Phải xem xét hiệuquả không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị – xã hội, cả mục tiêu trước mắt và lâudài, giữa hậu quả trực tiếp và gián tiếp, kết quả trước mắt và kết quả cuối cùng.Các biện pháp được đề ra trong quyết định phải phù hợp đồng bộ với biện pháptrong quyết định có liên quan

– Quyết định hành chính phải bảo đảm kỹ thuật lập quy Tức là ngôn ngữ, vănphong, cách trình bày phải rõ ràng, ngắn ngọn,dể hiểu, thuật ngữ pháp lí chínhxác, không đa nghĩa

Một quyết định hành chính không thể tồn tại nếu thiếu một trong hai tínhhợp pháp hoặc tính hợp lý

Trước hết, các quyết định hành chính ra đời trên cơ sở luật và để thi hànhluật, chính thế cho nên không thể tồn tại quyết định hành chính bất hợp pháp Nếumột quyết định hành chính không đảm bảo những yêu cầu về tính hợp pháp thìđương nhiên là nó sẽ bị mất hiệu lực

Thứ hai, mọi quyết định hành chính đều nhằm thực hiện chức năng quản lýhành chính Nhà nước, thực thi pháp luật thực tế Quyết định hành chính không chỉđảm bảo lợi ích Nhà nước mà còn phải phù hợp thực tế khách quan cùng nguyệnvọng nhân dân; phải rõ ràng chính xác để tránh hiểu sai, áp dụng sai, phải có tínhkhả thi mới có thể tiến hành áp dụng quyết định hành chính theo từng giai đoạnnhằm ổn định đời sống pháp luật của nhân dân

Trang 5

Tính hợp pháp và hợp lý luôn gắn bó với nhau, cả về nội dung lẫn hình thứcnhư một chỉnh thể thống nhất mà nếu thiếu một trong những yêu cầu đó thì việcban hành chính sẽ không đạt hiệu quả, đạt được mục đích.

Trong việc ban hành qui phạm nếu chủ thể có thẩm quyền không tuân thủ yêucầu về tính hợp pháp (cả về hình thức lẫn nội dung) thì có thể bị cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ tùy theo mức độ khôngtuân thủ Việc xử lý quyết định qui phạm trái pháp luật được qui định như sau:Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật của Chính phủ, Thủ tướngchính phủ dưới hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản nếu văn bản đótrái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

Uỷ ban thường vụ quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật của Chínhphủ, Thủ tướng chính phủ dưới hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặctoàn bộ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với hiến pháp, luật, nghịquyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ một phần hoặc toàn

bộ văn bản đó

Chính phủ kiểm tra văn bản của bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân cấptỉnh Thủ tướng chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hànhmột phần hoặc toàn bộ văn bản của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, ủyban nhân dân cấp tính trái với hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nướccấp trên

Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản của các bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh về những nội dungliên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyềnkiến nghị với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã ban hành văn bản trái vớivăn bản về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hànhmột phần hoặc toàn bộ văn bản đó, nếu kiến nghị không được chấp nhận thì trìnhthủ tướng chính phủ quyết định, đình chỉ việc thi hành và đề nghị thủ tướng chínhphủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản vềngành, lĩnh vực do mình phụ trách hoặc kiến nghị với thủ tướng chính phủ

Đối với những quyết định cá biệt thì về nguyên tắc cơ quan nhà nước cấp trên

có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định của cơ quan cấp dưới nếu trái pháp luậttrên cơ sở khiếu nại của nhân dân hoặc kết quả kiểm tra giám sát của cơ quan cóthẩm quyền

Mặt khác, một số loại quyết định cá biệt còn có thể bị hủy toàn bộ hay mộtphần thông qua hoạt động xét xử vụ án hành chính của tòa án nhân dân

IV PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM VÀ DẤU HIỆU CỦA VPHC

1 Định nghĩa vi phạm hành chính

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Điều 2) đã đưa ra định nghĩa:

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Trang 6

Mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng viphạm là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước,tập thể lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng

2 Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính.

Vi phạm hành chính được cấu thành bởi bốn yếu tố bao gồm mặt khách quan,chủ thể, mặt chủ thể và khách thể

2.1 Mặt khách quan

Là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm hành chính như: hành

vi, hậu quả của hành vi, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả

Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi viphạm hành chính Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vixâm phạm các qui tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm.Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật qui định về xửphạt hành chính, theo đó pháp luật qui định rằng những hành vi này sẽ bị xử lýbằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính Như vậy, khi xem xét hay đánhgiá hành vi của tổ chức, cá nhân có phải là vi phạm hành chính hay không bao giờcũng có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó được pháp luật qui định

là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính Cần tránh tình trạngnguyên tắc suy đoán hoặc áp dụng tương tự pháp luật trong việc xác định vi phạmhành chính đối với các tổ chức cá nhân

Không có hành vi thì không có vi phạm hành chính Những suy nghĩ, quanđiểm, tư tưởng xấu chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa phải là viphạm pháp luật Hành vi có thể biểu hiện dưới hình thức hành động hoặc khônghành động

Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt kháchquan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung tráipháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác, Thôngthường những yếu tố này có thể là:

- Thời gian thực hiện hành vi vi phạm;

- Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm;

- Công cụ, phương tiện vi phạm

- Hậu quả tác hại là những thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra cho trật

tự quản lý nhà nước (vật chất hay phi vật chất)

- Mối liên hệ nhân quả là hành vi vi phạm hành chính là nguyên nhân gây ra hậuquả, hậu quả xảy ra bởi chính hành vi đó Hậu quả và mối liên hệ nhân quả khôngphải là dấu hiệu bắt buộc, mà có ý nghĩa xác định tính chất và mức độ nguy hiểmcủa vi phạm hành chính để áp dụng hình thức, mức phạt tương ứng

2.2 Mặt chủ quan

Là biểu hiện bên trong của vi phạm hành chính, bao gồm: lỗi, động cơ, mục

đích của vi phạm hành chính Dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm là dấu hiệu bắt

buộc Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi thể hiện ở hình thức cố ý hoặc vô

ý Nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khảnăng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng

mà không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc

Trang 7

nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý) Khi có đủ căn cứ đểcho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có viphạm hành chính xảy ra.

Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hànhchính, ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu bắt buộc củamột số loại vi phạm hành chính Chính vì thể khi xử phạt cá nhân, tổ chức về loại

vi phạm hành chính này cần xác định rõ ràng hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủdấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác

Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính còn cónhiều ý kiến khác nhau về vấn đề lỗi của tổ chức Có ý kiến cho rằng lỗi chỉ làtrạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt ravấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành chính Khi xử lý tổ chức vi phạm hànhchính chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi vi phạm hành và hành vi đó theo quiđịnh của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là

đủ Quan điểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức vi phạm hànhchính thì mới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức viphạm Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi của cácthành viên trong tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổchức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao Về phương diện pháp luật,pháp luật xử lý vi phạm hành chính qui định chung rằng tổ chức phải chịu tráchnhiệm về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấphành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Đồng thời, nó phải có trách nhiệmxác định lỗi của người thuộc tổ chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chínhtrong khi thi hành nhiệm vụ công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật về

để bồi thường thiệt hại theo qui định của pháp luật

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể vi phạm hành chính trongtrường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý

Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọitrường hợp

Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: Các cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vàcác tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo qui định pháp luật;

Tổ chức: Phải có quyết định thành lập (cơ quan nhà nước) hoặc được chophép thành lập và hoạt động (tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế)

Cá nhân, tổ chức nước ngoài là chủ thể vi phạm hành chính theo qui địnhpháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà việt Nam kí kết hoặc tham

Trang 8

an toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật tự, an toàn xã hội Điều đó đã đượcquy định trong các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Bao gồm: khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp Là yếu tố bắtbuộc trong cấu thành vi phạm hành chính, phản ánh tính chất nguy hiểm của hành

1 Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính

Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam là những quan hệ xã hộichủ yếu và cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, hay nóikhác hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội hầu hếtphát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước

Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính bao gồm những vấn đề sau:

+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn chỉnhcác quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước

+ Các hoạt động quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, trật

tự xã hội trên từng địa phương và từng ngành

+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân Ðây phảiđược xác định là mục tiêu hàng đầu của quản lý hành chính

+ Khen thưởng, trao danh hiệu cho các cá nhân tổ chức có đóng góp và đạtđược những thành quả nhất định trong lĩnh vực hành chính nhà nước hoặc trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật định; xử lý các cá nhân, tổ chức có hành

vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước

Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính ViệtNam ta có thể chia các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hànhchính thành hai nhóm lớn

* Nhóm 1: Những quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong

Trang 9

phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước (ngoại trừ hoạt động trong quan hệ công tác nội bộ), với mục đích chính là đảm bảo trật tự quản lý, hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính nhà nước.

Nhóm này thường được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính công Nói một cáchngắn gọn, quan hệ pháp luật hành chính công được hình thành giữa các bên chủ thểđều mang tư cách có thẩm quyền hành chính nhà nước khi tham gia vào quan hệpháp luật hành chính đó

Ðây là nhóm những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh cơ bản của luật hànhchính Thông qua việc thiết lập những quan hệ loại này, các cơ quan hành chínhnhà nước thực hiện các chức năng cơ bản của mình

* Nhóm 2: Các quan hệ quản lý hình thành khi các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong các trường hợp

cụ thể liên quan trực tiếp tới các đối tượng không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc tham gia vào quan hệ đó không với tư cách của cơ quan hành chính nhà nước, với mục đích chính là phục vụ trực tiếp nhân dân, đáp ứng các quyền và lợi hợp pháp của công dân, tổ chức.

Nói ngắn gọn, đây là quan hệ pháp luật hành chính tư, hình thành giữa mộtbên chủ thể tham gia với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước vàmột bên chủ thể tham gia không với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhànước Nhóm này được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính tư" Ðây là mục đích caonhất của quản lý hành chính nhà nước khi cơ quan hành chính- cơ quan được xem

là công bộc của nhân dân, quản lý hành chính vì quyền lợi nhân dân, vì trật tựchung cho toàn xã hội

* Mối liên hệ giữa hành chính tư và hành chính công

Thật ra mọi sự phân chia chỉ mang tính chất tương đối để tạo điều kiện thuậnlợi cho quá trính nghiên cứu Hai lĩnh vực hành chính tư và hành chính công liênquan trực tiếp và tương hỗ cho mục đích của quản lý hành chính nhà nước Quản lýhành chính công là cơ sở để bảo đảm hoạt đông bình thường của cơ quan hànhchính nhà nước Trong khi đó, quản lý hành chính tư thể hiện rõ trực tiếp mục đíchcủa quản lý hành chính, giữ gìn trật tự quản lý xã hội theo nguyên vọng của nhândân Trong quá trình quản lý, có những công việc liên quan đền cả hai lĩnh vựchoặc rất khó phân biệt giữa hai phạm vi: hành chính tư và hành chính công Chẳnghạn như khi nhận được đơn khiếu nại về việc cấp giấy phép xây dựng cho một cánhân công dân đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, cơ quan cấp trêntrực tiếp ra chỉ thị buộc cơ quan hành chính cấp dưới phải xem xét lại quyết địnhcủa cơ quan ấy Trường hợp này phát sinh này có 3 quan hệ pháp luật hành chính.(hai quan hệ pháp luật hành chính tư, một quan hệ pháp luật hành chính công)

Như vậy, chỉ có thể nói đến điều chỉnh bằng pháp luật hành chính khi trong quan hệ quản lý phải có ít nhất một bên có thẩm quyền với tư cách là chủ thể thực hiện chức năng chấp hành và điều hành của nhà nước Nếu cơ quan hành chính nhà nước hoạt động không phải trong phạm vi, lĩnh vực thẩm quyền của mình,

Trang 10

không sử dụng quyền lực nhà nước, thì hoạt động đó được thực hiện không phảithuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật hành chính.

2 Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam

Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức tác động đến cácquan hệ xã hội bằng pháp luật Phương pháp điều chỉnh là yếu tố quan trọng để xácđịnh ngành luật đó có phải là ngành luật độc lập hay không Ngoài ra, phương phápđiều chỉnh còn góp phần xác định phạm vi điều chỉnh của các ngành luật trongtrường hợp những quan hệ xã hội có chỗ gần kề hoặc đan xen với nhau

Ðặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là tính mệnh lệnhđơn phương, xuất phát từ quan hệ quyền uy - phục tùng giữa một bên có quyềnnhân danh nhà nước và ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên có nghĩa vụ phụctùng Sự áp đặt ý chí được thể hiện trong các trường hợp sau:

- Cả hai bên đều có những quyền hạn nhất định do pháp luật quy định nhưngbên này quyết định vấn đề gì thì phải được bên kia cho phép, phê chuẩn Ðây làquan hệ đặc trưng của hành chính công

- Một bên có quyền đưa ra những yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có thẩmquyền xem xét, giải quyết, có thể thỏa mãn những yêu cầu, kiến nghị này hoặc cóthể bác bỏ

- Một bên có quyền ra các mệnh lệnh yêu cầu còn bên kia phải phục tùng cácyêu cầu, mệnh lệnh đó

- Một bên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính buộc đốitượng quản lý phải thực hiện mệnh lệnh của mình Sự bất bình đẳng còn thể hiện

rõ nét trong tính chất đơn phương và bắt buộc của các quyết định hành chính

Các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể quản lý hành chính nhànước, dựa vào thẩm quyền của mình trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình cóquyền ra những mệnh lệnh hoặc đề ra các biện pháp quản lý thích hợp đối với từngđối tượng quản lý cụ thể Những quyết định ấy có tính chất đơn phương vì chúngthể hiện ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở quyền lực đãđược pháp luật quy định

Ngoài ra, có những trường hợp phương pháp thoả thuận được áp dụng trongquan hệ pháp luật hành chính, còn gọi là "quan hệ pháp luật hành chính theo chiềungang" Cụ thể như khi ban hành các văn bản liên bộ, liên ngành, liên tịch (ví dụ:Thông tư Liên Bộ của Bộ Tư pháp và Bộ Xây dựng; Thông tư liên tịch giữa Mặttrận Tổ Quốc Việt nam và Bộ giáo dục ) Tuy nhiên, các "quan hệ pháp luật hànhchính theo chiều ngang" cũng là tiền đề cho sự xuất hiện "quan hệ pháp luật hànhchính theo chiều dọc" Suy cho cùng, các quan hệ pháp luật hành chính cũngkhông hoàn toàn bình đẳng tuyệt đối Trên những đặc quyền hành chính và thể chếhành chính, các bên chấp nhận những đề nghị của nhau, cùng phục vụ cho mụcđích quản lý hành chính nhà nước

Trang 11

Tóm lại: Phương pháp điều chỉnh chủ yếu của luật hành chính Việt Nam

là phương pháp mệnh lệnh đơn phương Nó được xây dựng trên các nguyên tắc

Câu 2: (3 điểm) Vào khoảng 14 giờ ngày 14 tháng 8 năm 2018, Thanh tra sở

Y tế thành phố C đã phát hiện và lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Y tế TKM do có các hành vi: hành nghề vượt quá phạm vi chuyên môn cho phép và bán lẻ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng

Anh (chị) hãy xác định và nêu căn cứ pháp lý:

2.1 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả nào

có thể được áp dụng đối với Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Y tế TKM

- Đối với hành vi hành nghề vượt quá phạm vi chuyên môn cho phép, hìnhphạt chính: Căn cứ điểm c khoản 5 điều 28 NĐ 176/2013/NĐ-CP 14 tháng 11 năm

2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Phạttiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; Hình phạt bổ sung Căn cứ điểm akhoản 7 điều 28 NĐ 176/2013/NĐ-CP: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghềtrong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng

- Đối với hành vi Bán lẻ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng: Hình phạt chính căn cứ điểm a khoản 5 điều 40 NĐ 176/2013/NĐ-CP Phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000 đồng Hình phạt bổ sung căn cứ điểm b khoản 7 điều 40 NĐ 176/2013/NĐ-CP: tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng

2.1 Xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

căn cứ điểm b,c khoản 2 điều 89 NĐ 176/2013/NĐ-CP Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp huyện có quyền Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm hành chính

về khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đìnhchỉ hoạt động có thời hạn;

2.2 Thời hạn, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợpnày?

Điểm a Khoản 1 điều 6 luật XLVPHC 2012 thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này là 01 năm kể từ ngày 14 tháng 8 năm 2018

thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành

Trang 12

Câu 2: (3 điểm) Ngày 16 tháng 11 năm 2020, Thanh tra Bộ Thông tin và

Truyền thông lập biên bản vi phạm hành chính đối với Báo TP do có hành vi đăng thông tin sai sự thật trong bài viết “Đầu tư xây dựng bờ kè qua nhà nguyên Phó ban chỉ đạo TNB”, trong đó có một số thông tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng

Anh (chị) hãy xác định và nêu căn cứ pháp lý:

2.1 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

nào có thể được áp dụng đối với Báo TP

Hình phạt chính: Căn cứ điểm a khoản 3 điều 8 Nghị định 159/2013 ngày 12tháng 11 năm 2013 của Chính Phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000

Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ khoản 8 điều 8 Nghị định

159/2013/NĐ-CP Buộc cải chính, xin lỗi đối với hành vi trên

2.2 Xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ khoản 3 điều 31 Nghị định 159/2013/NĐ-CP Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi trên

2.3 Thời hạn, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp

này?

Điểm a Khoản 1 điều 6 luật XLVPHC 2012 thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này là 02 năm kể từ ngày 16 tháng 11 năm 2020

Câu 2: (3 điểm) Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý, ngày 14 tháng

01 năm 2020, Ủy ban nhân dân phường N thành phố Đ tỉnh Q phát hiện ông NH cóhành vi chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp tại khu vục đô thị, diện tích đất chuyển mục đích trái phép 259,75m2 thuộc thửa số 133, 134 tờ bản đồ

64, phường N thành phố Đ tỉnh Q

Anh (chị) hãy xác định và nêu căn cứ pháp lý:

2.1 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

nào có thể được áp dụng đối với ông NH

Hình thức xử phạt hành chính Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 điều 11 nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: phạt tiền từ 10 đến 16 triệu đồng đối với hành vi chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp tại khu vục đô thị diện tích từ 0,02 đến dưới 0,05hec ta

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (điểm a khoản 4 điều 11 nghị định 91/2019/NĐ-CP); buộc

Trang 13

nộp lại số lợi bất hợp pháp (điểm b khoản 4 điều 11 nghị định CP)

Câu 2: (3 điểm) Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý, ngày 04 tháng

12 năm 2020, Ủy ban nhân dân thành phố C tỉnh B phát hiện ông Đ có hành vi chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất ở đô thị, diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,02 héc ta thuộc thửa số 66 tờ bản đồ 75, phường S, thành phố

C tinh B

Anh (chị) hãy xác định và nêu căn cứ pháp lý:

2.1 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

nào có thể được áp dụng đối với ông Đ

Hình thức xử phạt hành chính Căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 điều 11 nghịđịnh 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực đất đai: phạt tiền từ 6 đến 10 triệu đồng đối với hành vichuyển đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp tại khu vục đô thị diện tích

dưới 0,02 héc ta

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (điểm a khoản 4 điều 11 nghị định 91/2019/NĐ-CP); buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp (điểm b khoản 4 điều 11 nghị định 91/2019/NĐ-CP)

Trang 14

Câu 2: (3 điểm) Ngày 09 tháng 10 năm 2019, Đội Quản lý Trật tự Đô thị

huyện BB đã kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính trật tự xây dựng số 74/BB-VPHC đối với dự án Khu nhà ở TQ (Golden Future City) tại đường giao thông nông thôn khu phố BB thị trấn L huyện BB tỉnh B do Công ty TNHH MTV Bất động sản TQ làm chủ đầu tư vì đã có hành vi phạm hành chính khi tổ chức thi công công trình không phép mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng

Anh (chị) hãy xác định và nêu căn cứ pháp lý:

2.1 Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

nào có thể được áp dụng đối với Công ty TNHH MTV Bất động sảnTQ

Hình thức xử phạt hành chính: điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định số

139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác chế biến kinh doanh khoáng sảnlàm vật liệu xây dựng, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình

hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản; phát triển nhà ở quản lý sử dụng nhà ở

và công sở có mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá

nhân Căn cứ điểm e khoản 1 điều 3 luật xử lý VPHC 2012, mức phạt tiền đối vớiCông ty TNHH MTV Bất động sản TQ từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả: căn cứ khoản 12 Điều 15 Nghị định số139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 Đối với hành vi trên mà đang thi công xâydựng thì xử lý như sau:

a) Lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu Công ty TNHH MTV Bấtđộng sản TQ dừng thi công xây dựng công trình;

b) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Công

ty TNHH MTV Bất động sản TQ phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyềnđiều chỉnh hoặc cấp giấy phép xây dựng;

c) Hết thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Công tyTNHH MTV Bất động sản TQ không xuất trình với người có thẩm quyền xử phạtgiấy phép xây dựng hoặc giấy phép xây dựng được điều chỉnh thì bị áp dụng biệnpháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm

Trang 15

dựng; phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở là 02 năm kể từ Ngày 09tháng 10 năm 2019.

Câu 3: (3 điểm) Giải thích các nhận định đúng, sai sau đây:

3.1 Cán bộ, công chức có thể bị tạm định chỉ công tác trong thời gian chờ

xử lý kỷ luật

Nhận định đúng

Khoản 1 điều 41 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức: Cán bộ, công chức bị tạm định chỉ công tác mà chưa xử lý kỷ luật thì được hưởng 50% mức lương hiện hưởng

3.2 Viên chức chỉ hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Nhận định đúng

Căn cứ theo Điều 2, Luật viên chức năm 2010 quy định về viên chức như sau:

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật."

3.3 Thành viên của Chính phủ gồm Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ

Nhận định sai vì

Khoản 1 Điều 95 hiến pháp 2013: “Thành viên của Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”

3.4 Tổ chức xã hội luôn là tổ chức hoạt động không nhằm mục đích lợinhuận

Nhận định đúng vì

Điều 2 NĐ 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của chính phủ Quy định về tổ

chức, hoạt động và quản lý hội: tổ chức xã hội là tổ chức tự nguyện của công dân,

tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động cóhiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức

và hoạt động theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của chính phủ và cácvăn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

3.5 Động cơ và mục đích luôn phải có trong mọi vi phạm hành chính.Nhận định sai

Trang 16

Động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm pháp luật nhưng nó là căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm pháp luật.

3.6 Người lập biên bản vi phạm hành chính phải đồng thời là người xửphạt vi phạm hành chính

Nhận định sai

Điểm b khoản 4 Điều 52 luật xử lý VPHC 2012: hành vi vượt quá thẩm

quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt

Câu 3: (3 điểm) Giải thích các nhận định đúng, sai sau đây:

3.1 Hướng về cơ sở là một trong những biểu hiện về mặt nội dung của

nguyên tắc tập trung dân chủ

“Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”

Điều 94 hiến pháp 2013

3.3 Tất cả các phương thức hoạt động hành chính đều dược pháp luật quy định cụ thể

Nhận định sai

Ngày đăng: 07/12/2021, 20:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức - CÂU hỏi có đáp án LUẬT HÀNH CHÍNH
Hình th ức (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w