Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị, cơ sở trực thuộc trung ương đóng tại địaphương đó.Hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức hoặc cá nhân
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH (DÀNH CHO SINH VIÊN LUÂT 36 PR)
1 Chủ thể QLHCNN không phải chỉ là các cơ quan HCNN
2 Đối tượng điều chỉnh của LHC không phải chỉ là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động CH-ĐH của cơ quan HCNN
3 LHC không chỉ điều chỉnh các QHXH phát sinh trong quá trình hoạt động nội bộ của TCXH
4 Không phải chỉ có cơ quan HCNN thực hiện chức năng QLHCNN
5 Các bên tham gia quan hệ quản lý bao giờ cũng có sự phụ thuộc về mặt tổ chức
6 Quan hệ giữa các cơ quan HCNN với công dân A về việc cơ quan HCNN thuê nhà của công dân A làm trụ sở là đối tượng điều chỉnh của LHC
7 Tổ chức CTXH ở cấp TW không có quyền đơn phương ban hành VBPLHC
8 QPPLHC do cơ quan nhà nước ở TW ban hành bao giờ cũng có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc
Trang 29 Chủ thể của LHC bao giờ cũng là chủ thể quan hệ pháp luật hành chính.
13 Dân chủ trong QLHCNN chỉ là sự phát huy quyền chủ động sáng tạo của CQĐP
14 UBND Tỉnh chấp hành NQ của HĐND Tỉnh là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ
15 Hình thức BTV chỉ áp dụng đối với công chức phạm tội bị Tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo
16 Chỉ có cơ quan HCNN có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc
17 Khi xử lý CB, CC bằng hình thức khiển trách thì không cần thành lập HĐKL
18 Việc tuyển dụng công chức vào làm việc trong các cơ quan HCNN, đơn vị SNCL đều phải thông qua thi tuyển
19 Tất cả cơ quan quản lý nhà nước đều có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
20 Tất cả các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vphc đều có quyền áp dụng hình thức phạt
Trang 325 A 17 thực hiện hành vi tuổi ném đá vào người đang đi xe gắn máy trên đường theo quy định của pháp luật hành vi trên bị xử phạt 100.000 đến 300.000 đ Người có thẩm quyền đã ra quyết định phạt A 200.000đ.
bị đội quy tắc quận và UBND phường phạt 1000.000đ và buộc đình chỉ việc xây dựng
Ông H không chấp hành quy định trên mà còn tiếp tục hoàn thiện công trình vào ban đêm Vì vậy, UBND quận đã ra quyết định cưỡng chế tháo dỡ công trình trái phép
Ông H đã làm đơn khiếu nại gửi tới UBND thành phố Z, Thanh tra TP và VKSND thành phố Qua vụ việc trên, Anh chị hãy:
1 Phân tích các quan hệ pháp luật hành chính đã phát sinh
2 Việc xử phạt hành chính của đội quy tắc đô thị và UBND phường đúng hay sai?
3 Nhận xét cách xử lý của UBND Quận
I Lý thuyết:
Câu 1: Anh(chị) hãy làm rõ tại sao nói LHC là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
1 Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính
- Ðối tượng điều chỉnh của một ngành luật nói chung là những quan hệ xã hội xác định các đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh Cùng với phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là tiêu chuẩn để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác Ðối tượng luật hành chính Việt Nam là những quan
hệ xã hội chủ yếu và cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
- Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính bao gồm những vấn đề sau:
Trang 4+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quannhà nước.
+ Các hoạt động quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự xã hội trên từng địa phương và từng ngành
+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân Ðây phải được xác định là mục tiêu hàng đầu của quảnlý hành chính
+ Khen thưởng, trao danh hiệu cho các cá nhân tổ chức có đóng góp
Nhóm 1: Những quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước (ngoại trừ hoạt động trong quanhệ công tác nội bộ), với mục đích chính là đảm bảo trật tự quản lý, hoạt động bình thường của các cơ quan hànhchính nhà nước.
- Quan hệ dọc:
1 Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệthống dọc Ðó là những cơ quan nhà nước có cấp trên, cấp dưới phụ thuộc nhau về chuyên môn kỷ thuật, cơ cấu, tổ chức
2 Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chínhnhà nước có thẩm quyền chung cấp dưới trực tiếp nhằm thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị, cơ sở trực thuộc
- Quan hệ ngang:
1 Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ
quan hành chính nhà nước cóthẩm quyền chuyên môn cùng cấp
2 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp với nhau Các cơ quan này không có sự phụ thuộc nhau về mặt tổ chức nhưng theo quy định của pháp luật thì có thể thực hiện 1 trong 2 trường hợp sau:
- Một khi quyết định vấn đề gì thì cơ quan này phải được sự đồng ý, cho phép hay phê chuẩn của cơ quan kia trong lĩnh vực mình quản lý
Trang 5- Phải phối hợp với nhau trong một số lĩnh vực cụ thể
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị, cơ sở trực
thuộc trung ương đóng tại địaphương đó.Hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức hoặc cá nhân được trao quyền có tất cả các hậu quả pháp lý như hoạt động của các
cơ quan hành chính nhà nước nhưng hoạt động này chỉ giới hạn trong việc thực hiện hoạt động chấp hành điều hành
Nhóm 2: Các quan hệ quản lý hình thành khi các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong các trường hợp cụ thể liên quan trực tiếp tới các đối tượng không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc tham gia vào quan hệ đó không với tư cách của cơ quan hành chính nhà nước, với mục đích chính là phục vụ trực tiếp nhân dân, đáp ứng các quyền và lợi hợp pháp của công dân, tổ chức.
1 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.Các đơn vị kinh tế này được đặt dưới sự quản lý thường xuyên của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
2 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch đang làm ăn cư trú tại Việt Nam
- Mối liên hệ giữa hành chính tư và hành chính công:
Quản lý hành chính công là cơ sở để bảo đảm hoạt đông bình thường của cơ quan hành chính nhà nước quản lý hành chính tư thể hiện rõ trực tiếp mục đích của quản lý hành chính, giữ gìn trật tự quản lý xã hội theo nguyênvọng của nhân dân.đối tượng điều chỉnh của luật hành chính, có thể đưa ra định nghĩa luật hành chính như sau: Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước
2 Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam:
Trang 6Là cách thức tác động đến các quan hệ xã hội bằng pháp luật, phương pháp điều chỉnh còn góp phần xác định phạm vi điều chỉnh của các ngành luật trong trường hợp những quan hệ xã hội có chỗ gần kề hoặc đan xen với nhau.
Ðặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là tính mệnh lệnh đơn phương:
- Cả hai bên đều có những quyền hạn nhất định do pháp luật quy định nhưng bên này quyết định vấn đề gì thì phảiđược bên kia cho phép, phê chuẩn Ðây là quan hệ đặc trưng của hành chính công
.- Một bên có quyền đưa ra những yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có thẩm quyền xem xét, giải quyết, có thể thỏa mãnnhững yêu cầu, kiến nghị này hoặc có thể bác bỏ
- Một bên có quyền ra các mệnh lệnh yêu cầu còn bên kia phải phục tùng các yêu cầu, mệnh lệnh đó
- Một bên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính buộc đối tượng quản lý phải thực hiện mệnh lệnh của mình, Sự bất bình đẳng
Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: Luật hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật XHCN Việt Nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội xuất hiện trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước, nói cách khác là các quan hệ xã hội nảy sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Do đó, Luật hành chính là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước
Câu 2: Phân tích tính mệnh lệnh đơn phương trong phương pháp điều chỉnh của LHC? Liên hệ thực tiễn?
1 khái niệm phương pháp điều chỉnh:
Phương pháp điều chỉnh của bất cứ ngành luật nào cũng là tổng thể biện pháp, cách thức, phương thức mà ngành luật đó sử dụng tác động đến ý chí và thông qua ý chí tác động đến hành vi của các bên tham gia các quan hệ xã hội do ngành luật điều chỉnh Phương pháp điều chỉnh là cách thức mà nhà nước áp dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật để tác động đến các quan hệ xã hội
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ “ quyền lực- phục tùng” giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc với bên kia là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ phục tùng
Trang 7Để làm rõ hơn ta có thể so sánh phương pháp điều chỉnh của luật dân sự mà đặc trưng là sự bình đẳng ý chí của các bên tham gia quan hệ dân sự Trong quan hệ dân sự hình thức hợp đồng được áp dụng rộng rãi Còn trong luật hành chính có sự đặc trưng là
sự không bình đẳng ý chí của các bên trong quan hệ hành chính bên này phải phục tùng bên kia
2 Những biểu hiện của phương pháp điều chỉnh
Mối quan hệ “ quyền lực phục tùng thể hiện sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quản lý hành chính nhà nước sự không bình đẳng đó là sự không bình đẳng về ý chí thể hiện rõ nét sau:
- Sự không bình đẳng trong quản lý hành chính thể hiện ở chổ chủ thể quản lý có thể nhân danh nhà nước thể hiện ý chí của minh lên đối tượng quản lý cũng được thể hiện trong nhiều trường hợp khác nhau:
+ Hoặc một bên có quyền ra lệnh cụ thể hay đặt ra quy định bắt buộc đối với bên kia và kiểm tra bắt buộc chúng Phía bên kia có nghĩa vụ thực hiện các quy định, mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền Ví dụ: Quan hệ cấp trên cấp dưới trong một cơ quan
+ Hoặc một bên đưa ra yêu cầu, kiến nghị còn một bên có quyền xem xét, giải quyết hay có quyền đáp ứng bác bỏ kiến nghị đó Ví dụ: Công an có quyền yêu cầu (cùng với những tờ giấy nhất định) công an quận, huyện giải quyết cho hộ dân chuyển khẩu, công an xem xét có thể giải quyết yêu cầu (hồ sơ hợp lệ) hoặc không chấp nhận (nếu hồ
sơ không hợp lệ)
+ Hoặc cả hai bên có quyền hạn nhất định nhưng bên này quyết định điều gì phải được bên kia cho phép hay phê chuẩn, cùng phối hợp quyết định Ví dụ: Bộ giáo dục và đào tạo và các cán bộ khác về việc quyết định quy mô, hình thức đào tạo Việc các cán bộ khác quyết định hình thức, quy mô phải được Bộ giáo dụcvà đào tạo cho phép và phê chuẩn
- Sự không bình đẳng thể hiện ở chổ một bên có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc đối tượng phải thực hiện mệnh lệnh của mình Sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quản lý nhà nước luôn thể hiện rõ nét, xuất phát từ quy định pháp luật, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia quan hệ đó Và các cơ quan trong bộ máy nhà nước bắt nguồn từ cấp trên và cấp dưới tronớctor chức bộ máy nhà nước Sự không bình đẳng giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội đơn vị kinh tế, các tổ chức khác bắt nguồn từ quyền lực nhà nước Trong quan hệ đó nhân danh nhà nước thể hiện chức năng chấp hành - điều hành trong lĩnh vực phân công và phụ trách
Trang 8- Sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quản lý hành chính nhà nước được thể hiện rõ nét trong tính chất đơn phương và bắt buộc các quyết định hành chính Các cơ quan hành chính và các chủ thể quản lý hành chính khác, dựa vào thẩm quyền của mình trên cơ sở đánh giá tình hình có quyền ra những mệnh lệnh và đề ra những phương pháp thích hợp với từng đối tượng cụ thể Những quyết định ấy có tinh đơn phương vì nó theể hiện ý chí của chủ thể quan lý hành chính nhà nưới trên cơ sở pháp luật quy định Nhưng quyết định hành chính đơn phương đều mang tinh chất bắt buộc với đối tượng quản lý Tính chất bắt buộc thi hành của các quyết định hành chính được đảm bảo bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước Nhưng các quyết định hành chính đơn phương không bao giờ thực hiện trên cơ sở cưỡng chế, mà thực nhiện trên phương pháp thuyết phục Nhưng đôi khi chúng ta có thể bắt gặp trong quan hệ hành chính nhà nước có phương pháp thoả thuận.Ví dụ: trong ban hành các quyết định liên tịch (các bên thoả thuận ra quyết định chung như Thông tư liên bộ, Nghi quyết liên tịch giữa ban chấp hành Tổng liên đoàn Việt Nam với các ban quản lý hành chính nhà nước trung ương)
3 Kết luận:
Như vậy phương pháp điều chỉnh luật hành chính nhà nước là phương pháp mệnh lệnh đơn phương, thương một bên trong tuyệt đại đa số trong các trường hợp mang tính quyền lực nhà nước: ra quyết định quản lý nhà nước, quản lý hoạt động bên kia áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo pháp luật
Câu 3: Phân tích nguyên tắc Đảng lãnh Đạo trong quản lý hành chính Nhà nước? liên hệ thực tiễn?
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của nhà nước nói chung, hoạt động quản
lý hành chính nhà nước nói riêng được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản và được đặt lên hành đầu trong quản lý hành chính nhà nước Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng xã hội tiên tiến với đội ngũ đảng viên có trình độ, có năng lực, được vũ trang bằng những quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin Với tri thức này, Đảng có thể vạch ra các đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đồng thời có thể biến những đường lối, chủ trương, chính sách đó thành hiện thực
Bằng thực tiễn đấu tranh của mình, bằng hy sinh, cống hiến lớn lao cho dân tộc từ quá khứ đến hiện tại (mà minh chứng rõ nhất là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
ta mới giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc đến công cuộc đổi mới hiện nay), Đảng đã chiếm được lòng tin của đại đa số quần chúng nhân dân Chính vì thế, sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý hành
Trang 9chính nhà nước được thừa nhận là một tất yếu khách quan, mang tính lịch sử Tuy nhiên
sự lãnh đạo đó không đồng nghĩa với việc Đảng can thiệp vào các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan hành chính nhà nước Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của nhà nước nói chung và đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng chỉ mang tính chất định hướng, được thực hiện dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau Vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận trong Điều 4, Hiến pháp 1992 như sau:
“Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Trên cơ
sở đó, sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện
ở những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra
những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Các vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng đều cần phải có đường lối, chủ trương của các tổ chức Đảng có trách nhiệm Căn cứ vào chủ trương, chính sách của Đảng được ghi nhận trong Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành các văn bản pháp luật thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Bên cạnh đó, khi quyết định những vấn đề cụ thể khác nhau của hoạt động quản lý hành chính nhà nước như ban hành quyết định quản lý, xây dựng các biện pháp thuộc về tổ chức, các biện pháp kinh tế…,đường lối, chủ trương chính sách của Đảng về những vấn đề có liên quan bao giờ cũng được coi là cơ sở rất quan trọng để các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quyết định quản lý của mình
Ví dụ, sau khi Đảng đề ra chủ trương thiết lập lại trật tự giao thông, Chính phủ ban hành ngay Nghị định 36/2001/NĐ-CP về việc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị Tóm lại, có thể khẳng định đây là hình thức thể hiện rõ nhất vai trò lãnh đạo của Đảng, uy tín của Đảng phụ thuộc rất nhiều và hình thức này
Thứ hai, vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước còn thể
hiện ở việc Đảng luôn lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để giới thiệu vào làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước Đây là công việc quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Do đó, Điều 4 Pháp lệnh cán bộ, công chức đã quy định: “Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam…” Tuy nhiên, việc giới thiệu cán bộ của Đảng vào vị trí như vậy còn phải dựa vào sự tín nhiệm của cơ quan nhà nước, của quần chúng Tổ
Trang 10chức Đảng đưa ra ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước Những ý kiến này là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng Bên cạnh đó, bản thân Đảng cũng luôn chăm lo về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ Đảng viên để nâng cao chất lượng đội ngũ của mình, giúp họ hiểu sâu sắc và thể hiện trong suốt quá trình hoạt động những phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Chỉ có như vậy thì khi giới thiệu những Đảng viên ưu tú vào nắm giữ các vị trí trong bộ máy hành chính nhà nước, Đảng mới có được sự đồng tình, nhất trí của nhân dân, từ đó càng củng cố thêm vai trò lãnh đạo của mình
Thứ ba, Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước không chỉ bằng đường
lối, chủ trương, chính sách, bằng công tác tổ chức cán bộ mà còn bằng hình thức kiểm tra Kiểm tra của các tổ chức Đảng là kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Đảng kiểm tra thông qua các cơ quan của Đảng được tổ chức và hoạt động song song với các cơ quan hành chính nhà nước Đảng kiểm tra và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của mình thông qua các hệ thống và phương tiện khác nhau Công tác kiểm tra của Đảng cũng được ghi nhận trong văn kiện Đại hội Đảng khóa X: “Công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân Đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng Coi trọng kiểm tra, phát hiện nhân tố tích cực” Tóm lại, việc kiểm tra của tổ chức Đảng nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của các chính sách mà Đảng đề ra, trên cơ sở đó khắc phục những khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo Điều này đảm bảo cho các tổ chức Đảng có tính thông tin hai chiều Cũng chính thông qua công tác kiểm tra Đảng, các tổ chức Đảng biết được tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách
do mình đề ra, trên cơ sở đó có các biện pháp uốn nắn kịp thời làm cho hoạt động quản lý nhà nước đi theo đúng định hướng phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích chung của cả cộng đồng Công tác kiểm tra của Đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc của tổ chức Đảng Điều 30 Điều lệ ĐCS Việt Nam có viết:
- Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng Đảng phải tiến hành công tác kiểm tra Tổ chức Đảng và Đảng viên phải chịu sự kiểm tra của Đảng
- Các cấp Ủy Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các tổ chức Đảng và Đang viên chấp hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và nghị quyết, chỉ thị của Đảng
Trang 11Thứ tư, Đảng lãnh đạo thông qua vai trò tiên phong gương mẫu của các Đảng
viên làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước Phương pháp lãnh đạo của Đảng không phải là phương pháp hành chính mà là giáo dục, thuyết phục, nêu gương Việc quy định
về đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ được quy định trong Điều 1 của Điều lệ ĐCS Việt Nam: “Đảng viên ĐCS Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của
Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấo hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng” Từ đó, Đảng cho thấy đội ngũ Đảng viên tiên phong, gương mẫu, nghiên chỉnh chấp hành pháp luật, tạo cơ sở quan trọng để nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân, với cơ quan nhà nước, làm cho các tổ chức Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước
Trong những năm vừa qua, mặc dù tình hình kinh tế, chính trị có nhiều biến động nhưng Đảng vẫn kịp thời đối phó đối với những khó khăn, thử thách đó, phương thức lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước đã có nhiều đổi mới, từ nguyên tắc lãnh đạo đến quan điểm, chính sách, tạo điều liện cho việc kiện toàn, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, nếu xét một cách tổng thể, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Tình trạng Đảng bao biện, làm thay, lấn sân sang công việc của các cơ quan hành chính nhà nước còn tồn tại, chính vì vậy, các cơ quan này hoạt động rất thụ động, ỷ lai vào cấp ủy, né tránh không dám chịu trách nhiệm Thực tế này đòi hỏi phải có sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước cũng như đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo tinh thần của Nghị quyết trung ương 9 (khóa IX): “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng
sự lãnh đạo của Đảng, hoặc bao biện, làm thay” Tóm lại, việc ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng được đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời đại ngày nay, trong những năm vừa qua, Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của mình từ nguyên tắc lãnh đạo đến quan điểm, chính sách tạo tiền đề cho việc kiện toàn, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của nhà nước để xứng đáng với vai trò tiền phong ưu tú, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Câu 4: Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước? liên hệ thực tiễn?
I Đặt vấn đề:
Trang 12V.L.Lênin đã nói về tập trung dân chủ: “…chế độ tập trung được hiểu theo nghĩa thực sự dân chủ, đã bao hàm khả năng…phát huy một cách đầy đủ và tự do không những đặc điểm của địa phương mà cả những sáng kiến của địa phương, tính chủ động của địa phương, tính muôn hình muôn vẻ của đường lối, của phương pháp và phương tiện để đạt đến mục đích chung.” Nguyên tắc tập trung dân chủ là một nguyên tắc quan trọng được vận dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng của toàn bộ cơ quan nhà nước nói chung Phạm vi bài viết sẽ phân tích nguyên tắc tập trung – dân chủ và chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc này trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
II Giải quyết vấn đề:
1 Nguyên tắc tập trung dân chủ và cơ sở pháp lý:
Tập trung dân chủ là nguyên tắc chính trị xã hội và là một trong những nguyên tắc
cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước Nó được quy định trong điều 6 Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001): “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Nguyên tắc này là sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ, coi đây là hai mặt của vấn đề và không thể thiếu một trong hai yếu tố để thực hiện quản lý hành chính nhà nước Tập trung ở đây được hiểu là việc đảm bảo mọi quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về chủ thể quản lý có thẩm quyền để thực hiện công việc quản lý nhà nước một cách thống nhất thông qua chỉ đạo điều hành Dân chủ lại là việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy được mặt tích cực, khả năng của tập thể và cụ thể là đối tượng quản lý trong việc thực hiện chính sách pháp luật Như đã nói, tập trung và dân chủ luôn phải gắn liền với nhau Nếu chỉ có sự tập trung không nó sẽ dẫn đến lạm quyền, quan liêu tham nhũng, những “căn bệnh” nguy hiểm của quản lý nhà nước Còn nếu chỉ có dân chủ mà không có sự thống nhất sự tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn, dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, vô chính phủ đến lúc đó công việc quản lý khó mà có thể thực hiện một cách chính xác và đúng đắn
2 Biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam:
Nguyên tắc tập trung dân chủ được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam, cụ thể hơn nó là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước và được thể hiện qua nhiều mặt của công việc quản lý, góp phần quan trọng vào hoạt động quản lý
2.1 Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực cùng cấp:
Trang 13Cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân, được nhân dân bầu ra và coi là công cụ
để họ thực hiện quyền lực nhà nước Còn các cơ quan hành chính lại là do các cơ quan quyền lực thành lập ra nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và các cơ quan này được hình thành thành một hệ thống từ trung ương đến địa phương Chính vì vậy mà cơ quan hành chính luôn có sự phụ thuộc vào cơ quan quyền lực cùng cấp sự phụ thuộc được thể hiện dưới nhiều góc độ Trước nhất có thê nói đến đó là việc thành lập, xác nhập hay giải thể của các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các vị trí trong cơ quan hành chính nhà nước có thể do cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện hay những người có quyền hạn trong cơ quan quyền lực thực hiện theo quy định của pháp luật
Ví dụ, như khi quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại điều 84 cũng đã nói
đến việc Quốc hội có quyền thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ hay trong luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân tại điều 17 cũng đã công nhận quyền hạn của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo hướng dẫn của Chính phủ… Về hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn phải chịu sự giám sát, chỉ đạo và phải chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Chính phủ cũng như Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Thêm vào đó, việc tập trung mọi quyền lực vào cơ quan quyền lực ngay trong đó đã thể hiện được yếu
tố dân chủ Trong hệ thống cơ quan quyền lực, Quốc hội và Hội đồng nhân dân lại do nhân dân cả nước bầu theo con đường bầu cử, hoạt động theo ý chí và nguyện vọng của chính nhân dân, do nhân dân làm chủ
2.2 Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương:
Sự phục tùng cũng được thể hiện thông qua cả hai phương diện là tổ chức và hoạt động và hoàn toàn hợp pháp dựa trên quy định của pháp luật
Về tổ chức, sự phục tùng được thể hiện qua việc chấp hành các yêu cầu liên quan
đến tổ chức mà cấp trên đưa ra Kết quả bầu cử các thành viên thuộc Uỷ ban nhân dân cấp dưới phải được sự phê chuẩn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp thông qua Mọi quyết định của cấp trên liên quan đến nhân sự, tổ chức phải được cấp dưới chấp hành nghiêm chỉnh và đúng đắn tạo điều kiện cho hoạt động quản lý được tiến hành có hiệu quả
Trang 14Về hoạt động, sự phục tùng lại càng được thể hiện rõ nét Hiến pháp có quy định
về quyền hạn của Chính phủ trong việc “lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở…” Thêm vào đó, Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban nhân dân cấp trên
và tất cả chịu sự lãnh đạo của Chính phủ Do đó, văn bản của uỷ ban nhân dân ban hành (quyết định, chỉ thị) không được trái với nội dung của cơ quan hành chính cấp trên và Chính phủ Chính sự phục tùng này đảm bảo cho cấp trên và trung ương tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và điạ phương thể hiện rõ yếu tố tập trung Nếu không có sự phục tùng này sẽ dẫn đến việc buông lỏng sự lãnh đạo quản lý tập trung của trung ương và cấp trên, làm nảy sinh tình trạng tùy tiện, vô chính phủ Nhưng việc phục tùng, tập trung này phải dựa trên cơ sở quy định pháp luật, không phải
là phục tùng vô điều kiện và phải gắn liền với dân chủ, không thể là có tập trung mà không có dân chủ
2.3 Việc phân cấp quản lý:
“Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước” Đây là một biện pháp quan trọng trong việc cải cách hành chính nhà nước và còn
là xu hướng phổ biến trên thế giới Để đảm bảo tính tập trung dân chủ, việc phân cấp quản lý cần phải đảm bảo: trung ương có quyền quyết định trong lĩnh vực then chốt, chiến lược, đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất; mạnh dạn giao quyền cho các địa phương phát huy tính chủ động sáng tạo; việc phân cấp quản lí phải thật cụ thể, hợp lí trên cơ sở những quy định của pháp luật, tránh trường hợp chồng chéo gây mất hiệu quả
Do ý nghĩa của phân cấp quản lý là rất lớn và việc phân cấp này còn phụ thuộc vào các vấn đề: cơ sở kinh tế xã hội, kết cấu hạ tầng…việc ban hành các quyết định về phân cấp quản lý cần có sự cân nhắc kĩ càng và bao giờ cũng được thể hiện trong văn bản của cơ quan có thẩm quyền như nghị quyết của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản
lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương số 08/2004/NQ-CP
2.4 Sự hướng về cơ sở:
“Hướng về cơ sở là việc cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ
sở quản lí tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hoá-
xã hội trực thuộc.” Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của người lao động do đó cơ quan nhà nước phải tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế, văn hoá xã hội hoàn thành tốt
Trang 15công việc của mình thông qua việc cung cấp các trang thiết bị để hoạt động, giúp đỡ về vật chất tinh thần, giúp các đơn vị này hoạt động có hiệu quả Nhưng đồng thời nhà nước nhà nước cũng có các chính sách và biện pháp quản lý một cách thống nhất và chặt chẽ tổ chức và hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở Dân chủ là cần thiết nhưng không thể thiếu sự quản lý thống nhất tập trung của cơ quan nhà nước để thúc đẩy mọi hoạt động của các đơn vị này phát triên một cách mạnh mẽ
2.5 Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương:
Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn được gọi là song trùng trực thuộc Đó là việc các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu sự quản lý đồng thời của hai cơ quan cấp trên trực tiếp; một theo sự quản lý của ngành dọc, và một theo sự quản lý của lãnh thổ theo chiều ngang Biểu hiện này được thể hiện ở cả tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính địa phương Về tổ chức, đối với các uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân mỗi cấp xác định số lượng và bầu ra các thành viên của uỷ ban nhân dân cấp mình( theo chiều ngang) Kết quả bầu cử các thành viên uỷ ban nhân dân mỗi cấp phải được chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn (theo chiều dọc) Riêng với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì do chính thủ tướng chính phủ phê chuẩn Về hoạt động, Uỷ ban nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng qủan lý hành chính nhà nước, chấp hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp cũng như văn bản của cơ quan hành chính cấp trên; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp
3 Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam:
Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở Cả hai yếu
tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước