Kể từ khi ra đời và có hiệu lực thi hành ở Việt Nam từ ngày 1/1/1999 cho đến nay, thuế giá trị gia tăng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi giới, nhất là các nhà kinh doanh lớn và nhỏ, chứng tỏ đó là một sắc thuế quan trọng và chiếm tỷ trọng cao góp phần đáng kể trong việc giải quyết nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ. Thuế giá trị gia tăng hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu do điều kiện ưu đãi về thuế suất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu được hoàn thuế đầu vào giúp cho nhà xuất khẩu giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, khuyến khích xuất khẩu, điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế nước ta hiện nay. Do đặc thù của cơ chế khấu trừ của thuế giá trị gia tăng buộc các cơ sở kinh doanh phải sử dụng chứng từ hoá đơn khi bán và mua hàng hoá, từ đó giúp việc quản lý thuế được chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, cơ chế khấu trừ cũng là kẽ hở để các doanh nghiệp thực hiện việc hành vi gian lận bằng việc kê khai hoá đơn GTGT và chiếm đoạt tiền thuế Nhà nước. Chính vì vậy mà một trong những biện pháp để hạn chế gian lận thuế của các DN và thất thoát tiền của ngân sách nhà nước là thắt chặt các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào trong phương pháp khấu trừ. Do vậy em xin chọn đề tài nghiên cứu bài tập học kỳ: Phân tích các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào . Kể từ năm 1997 cho đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới Luật thuế giá trị gia tăng, các điều kiện khấu trừ thuế đã có sự thay đổi như thế nào và tại sao lại có những sự thay đổi ấy?
Trang 1MỞ ĐẦU
Kể từ khi ra đời và có hiệu lực thi hành ở Việt Nam từ ngày 1/1/1999 cho đến nay, thuế giá trị gia tăng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi giới, nhất là các nhà kinh doanh lớn và nhỏ, chứng tỏ đó là một sắc thuế quan trọng và chiếm tỷ trọng cao góp phần đáng kể trong việc giải quyết nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ Thuế giá trị gia tăng hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu do điều kiện ưu đãi về thuế suất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu được hoàn thuế đầu vào giúp cho nhà xuất khẩu giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, khuyến khích xuất khẩu, điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế nước ta hiện nay Do đặc thù của cơ chế khấu trừ của thuế giá trị gia tăng buộc các cơ sở kinh doanh phải sử dụng chứng từ hoá đơn khi bán và mua hàng hoá, từ đó giúp việc quản lý thuế được chặt chẽ hơn Tuy nhiên, cơ chế khấu trừ cũng là kẽ hở để các doanh nghiệp thực hiện việc hành vi gian lận bằng việc kê khai hoá đơn GTGT và chiếm đoạt tiền thuế Nhà nước Chính vì vậy mà một trong những biện pháp để hạn chế gian lận thuế của các DN và thất thoát tiền của ngân sách nhà nước là thắt chặt các điều kiện
để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào trong phương pháp khấu trừ Do vậy em xin chọn
đề tài nghiên cứu bài tập học kỳ: Phân tích các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào Kể từ năm 1997 cho đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới Luật thuế giá trị gia tăng, các điều kiện khấu trừ thuế đã có sự thay đổi như thế nào và tại sao lại
có những sự thay đổi ấy?
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1, Định nghĩa: “Thuế giá trị gia tăng” Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng 2008 sửa đổi và bổ sung
2013 quy định “Điều 2 Thuế giá trị gia tăngThuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trongquá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Như vậy Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hoá, nhận dịch vụ.Thuế giá trị gia tăng trong tiếng anh là Value added tax, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, được các nhà kinh tế nghiên cứu
từ những năm 1920 nhưng đến tận năm 1954 thì phương thức thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của hàng hoá mới được áp dụng đầu tiên ở Pháp Từ năm 1968, Pháp mở rộng diện áp dụng đối với dịch vụ Do có những ưu thế về việc thu không gây ra tình trạng đánh thuế trùng lặp nên thuế này được nhiều nước áp dụng Năm 1977, Liên minh Châu Âu ra nghị quyết số 06 về hoàn thiện cơ chế thu thuế giá trị gia tăng và xem việc áp dụng nó là điều kiện gia nhập cộng đồng Hiện nay có khoảng 120 quốc gia, vùng lãnh thổ đã áp dụng loại thuế này Xét về bản chất, thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu Các nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dàng lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hoá dịch
vụ Do tính gián thu này mà thuế giá trị gia tăng có khả năng điều tiết tiêu dùng xãhội Đây cũng
là một loại thuế đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, Nhà nước rất quan tâm đến vấn đềnày để quyết định những chính sách thuế hợp lý trong những giai đoạn nhất định đảm bảo khi thực hiệnthuế giá trị gia tăng không gây ra những xáo trộn lớn ảnh hưởng đến người dân
Trang 22.Khái quát về phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và đối tượng áp dụng
Căn cứ vào điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng 2008 sửa đổi và bổ sung 2013 nhận thấy phươngpháp khấu trừ thuế là một trong hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng Cụ thể phương pháp khấutrừ thuế được quy định tại điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng 2008 sửa đổi và bổ sung
2013 như sau:
“Điều 10 Phương pháp khấu trừ thuế
1 Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
a) Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị giatăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ;
b) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng.Thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giátính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa,dịch vụ đó.Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán
là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì thuếgiá trị gia tăng đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ giá tính thuế giá trị gia tăng xác địnhtheo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 của Luật này;
c) Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhậpkhẩu và đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 12 của Luật này.”
Đối tượng áp dụng của phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng bao gồm hai nhóm đối tượng:
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp
Đối tượng đăng ký tự nguyện:
Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa,cung ứng dịch
vụ dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định
Doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đang hoạt động nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ;
Doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định,máy móc, thiết bị, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợpđồng nhà
Trang 3thầu, hợp đồng nhà thầu phụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính;Tổ chức kinh tế khác hạch toán được thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra
3.Thuế giá trị gia tăng đầu vào và nguyên tắc xác định
Thuế giá trị gia tăng đầu vào (VAT đầu vào) là tổng số thuế GTGT ghi trên:
Hóa đơn mua HH DV;
Chứng từ nộp thuế GTGT hàng Nhập khẩu;
Chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài;
Thuế GTGT từ các chứng từ đặc thù
Không phải mọi thuế giá trị gia tăng đầu vào đều được khấu trừ mà phải dựa theo nguyên tắc xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định tại khoản 1 điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng như sau:
“Điều 12 Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
1 Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:
a) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế giá trị gia tăng đầu vàokhông được bồi thường của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất;
b) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầuvào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị giatăng Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và khôngđược khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ% giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa,dịch vụ bán ra;
c) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ toàn bộ;
d) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm,thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí được khấu trừ toàn bộ;
đ) Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xácđịnh số thuế phải nộp của tháng đó Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăngđầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế côngbố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.”
Trang 4II.ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC KHẤU TRỪ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐẦU VÀO
1 Điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
Khoản 2 điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng quy định:
“2 Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
a) Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị giatăng ở khâu nhập khẩu;
b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hànghóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;
c) Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quanđối với hàng hóa xuất khẩu.Việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả
nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán không dùng tiền mặt.” Ngoài ra điều kiện khấu trừ
thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định tất rõ tại điều 15 thông tư số 219/2013/TT-BTC, thông tư 119/2014/TT-BTC của Bộ tài chính Như vậy dựa vào các văn bản luật và thông tư hướng dẫn có thể thấy các điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trongphương pháp khấu trừ được hiểu như sau:
Thứ nhất, hoá đơn phải hợp lý, hợp lệ và hợp pháp Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của
hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuếGTGT thay cho phía nước ngoài Hóa đơn chứng từ hợp pháp được hiểu là : Hoá đơn do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành và được cơ quan thuế cung cấp cho các cơ sở kinh doanh Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in theo mẫu quy định và đã được cơ quan thuế chấp nhận cho sử dụng Hóa đơn đã được DN làm thủ tục thông báo phát hành hóa đơn nếu chưa thông báo phát hành hóa đơn mà đã sử dụng hóa đơn thì hóa đơn đó là bất hợp phát Tuy nhiên cần chú ý các vấn đề sau: DN có giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ có thật, hóa đơn tài chính đầy đủ, thanh toán minh bạch (thanh toán qua ngân hàng) nhưng vẫn có thể gặp phải một trong các tình huống rủi ro về hóa đơn như sau: Trường hợp DN cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhưng hàng hóa dịch vụ này không nằm trong phạm vi hoạt động đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đó
Ví dụ: DN A ký hợp đồng với DN B về việc cung cấp dịch vụ kế toán Nhưng trong giấy phép DKKD của DN A lại không đăng ký kinh doanh mảng hoạt động này Do vậy hóa đơn mà bên A xuất cho bên B là bất hợp pháp Trường hợp DN có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của các DN đang nằm trong danh sách DN tạm dừng kinh doanh hoặc đang bỏ trốn của cơ quan thuế
Hóa đơn hợp lệ là: Hóa đơn hợp lệ được hiểu là sự phù hợp với các thông lệ Hoá đơn phải đảm bảo đầy đủ nội dung các chỉ tiêu và yêu cầu ghi trên hóa đơn như:
Trang 5Ghi rõ ngày tháng năm lập hóa đơn, họ tên người mua, bán, địa chỉ công ty mua, bán, mã sốthuế, hình thức thanh toán (tiền mặt hoặc chuyển khoản), số tài khoản (nếu có), Ghi rõ số thứ tự, tên hàng hóa dịch vụ, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền, thuế suất,tiền thuế GTGT (nếu có), tổng số tiền thanh toán; số tiền bằng chữ Phải có chữ ký người mua, người bán, chữ ký của Giám đốc, nếu không có chữ ký của GĐ thì phải có giấy ủy quyền và đóng dấu treo vào bên trên góc trái hóa đơn, người được ủy quyền ký vào đây.Hoá đơn được lập theo đúng các Nguyên tắc lập hóa đơn GTGT theo Thông tư số39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 (có hiệu lự từ ngày 1/6/2014) Một vài trường hợp cần lưu ý về hoá đơn hợp lệ:
Hóa đơn hợp lệ sẽ là căn cứ để xác định chi phí được trừ hay không được trừ khi tính thuế TNDN Ngoài việc phải đáp ứng tính hợp lệ như trên trong một số trường hợp phải đáp ứng các yêu cầu khác như: Không vượt định mức (tiêu hao nguyên vật liệu, ), không vượt mức khống chế (chi phíquảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng )
Tiền ăn trưa của mỗi người lao động: 680.000đ/ng/tháng
Chi trang phục: 5.000.000đ/ng/năm
Chi phí mua xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi
Đối với những hóa đơn có Giá trị trên 20triệu phải chuyển khoản qua Ngân hàng thì mớiđược khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ khi tính thuế TNDN
Hóa đơn hợp lý là: Khi nói đến hoá đơn hợp lý là nói đến chi phí hợp lý Chi phí có hoá đơnhợp pháp, hợp lệ vẫn chưa đủ, nó còn phải hợp lý Nghĩa là nội dung trên hóa đơn phải đúng - phù hợpvới nội dung kinh doanh và có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi được cấpphép trên GPKD của DN
Thứ hai, phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Những hoá đơn có giá trị trên 20 triệu đồng
thì phải thanh toán qua ngân hàng và có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Tức là phải chuyển khoản từ tài khoản bên mua sang tài khoản bên bán Chú ý tài khoản ngân hàng của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế Trường hợp bạn đimua hàng có giá trị trên 20 triệu nhưng lại nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán thì không được khấu trừ và cho vào chi phí hợp lý Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như sẽ, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại ( ví điện tử ) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế) Theo quy định từ ngày 15/12/2016 thì Tài khoản ngân hàng không đăng ký với Cơ quan thuế thì vẫn sẽ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Trang 6Thứ ba, những hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị trên 20 triệu Theo thông tư
119/2014/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/09/2014 thì doanh nghiệp căn cứ vào hợp đồng mua hànghoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng để
kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc trước ngày 31/12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31/12, DN vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc đến ngày 31/12 mà không có chứng từ thanh toán qua ngân hàngthì DN phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào
đã khấu trừ Khi nào có chứng từ thanhtoán thì kê khai điều chỉnh tăng
Thứ tư, các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầuvào
gồm:
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền;
Hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng Hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ) thì cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Thứ năm, các trường hợp khác cần chú ý Đối với trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ của một
nhà cung cấp mỗi lần có giá trị nhỏ hơn 20 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày
và tổng giá trị hơn 20 triệu đồng thì chỉ được khấu trừ thuế đối với những hoá đơn có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Nhà cung cấp là người nộp thuế có mã số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế GTGT Nếu mua xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi cho những doanh nghiệp không phải kinh doanh vận tải, hành khách du lịch mà có gía trị trên 1,6 tỷ đồng chỉ được khấu trừ thuế GTGT phần 1,6
tỷ đồng trở xuống còn phần vượt trội không được khấu trừ Đối với những hoá đơn có thu phí, lệ phí chỉ kê khai phần chịu thuế, còn phần phí, lệ phí không chịu thuế phải loại phần tiền đó ra
III.SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN KHẤU TRỪ THUẾ TRONG QUÁ TRÌNH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BAN HÀNH MỚI LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG KỂ TỪ NĂM
1997 VÀ MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THAY ĐỔI.
Kể từ khi đưa vào áp dụng ngày 01/01/1999 đến nay, quy định pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), cũng như công tác tổ chức thực hiện quản lý khấu trừ thuế và đã có nhiều thay đổi theo hướng quy định pháp luật ngày càng rõ ràng, minh bạch và chặt chẽ hơn; công tác quản lý vừa hướng đến quản lý chặt chẽ ngăn ngừa gian lận thuế, vừa tạo điều kiện
Trang 7thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế Quá trình này có thể chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1999-2008: Đây là giai đoạn đầu tiên Việt Nam áp dụng Luật Thuế GTGT trong lộ
trình cải cách hệ thống thuế giai đoạn II Cùng với việc ban hành Luật Thuế GTGT năm 1997, có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 thay thế Luật Thuế doanh thu, cùng với đó, quy định khấu trừ thuế và hoàn thuế GTGT cũng bắt đầu được tổ chức thực hiện
Những nguyên tắc cơ bản về khấu trừ thuế GTGT đầu vào được quy định tại thời điểm đó vẫn còn nguyên giá trị và được áp dụng cho đến hiện nay, đó là:
A,Thuế GTGT đầu vào sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ; Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT;
B, Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó
Chứng từ để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, nguyên tắc chung, là hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ và chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu Trong giai đoạn đầu tiên thi hành Luật Thuế GTGT năm 1997, một số trường hợp đặc biệt được khấu trừ theo tỷ
lệ % trên giá mua vào
Tỷ lệ này được điều chỉnh khá nhiều lần trong giai đoạn 1999-2002, dao động từ 1%-5% áp dụng đối với các sản phẩm trồng trọt thuộc các loại cây lấy nhựa, lấy mủ, lấy dầu, mía cây, chè búp tươi, lúa, ngô, khoai, sắn; sản phẩm chăn nuôi là gia súc, gia cầm; cá, tôm và các loại thủy sản khác; hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán; tiền bồi thường của hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đối với hóa đơn bán hàng mà người nộp thuế mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
Xu hướng chung của các lần điều chỉnh này là giảm tỷ lệ khấu trừ theo tỷ lệ % trên giá mua Thêm vào đó, cũng bỏ trường hợp cho khấu trừ theo tỷ lệ % trên giá mua đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu nông sản Lý do chính của việc điều chỉnh như trên là để chống gian lận khấu trừ và hoàn thuế GTGT, bởi các lý do chính sau:
Do xuất phát điểm công tác quản lý hóa đơn tại thời điểm bắt đầu áp dụng thuế GTGT còn chưa tốt, nên hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp đã bán hóa đơn khống để cơ sở kinh doanh mua hàng khấu trừ khống để giảm thuế GTGT phải nộp;
Trang 8Một số cơ sở kinh doanh gian lận khấu trừ thuế GTGT bằng cách lập khống bảng kê mua nông sản để khấu trừ thuế;
Trong giai đoạn đầu áp dụng đã có những trường hợp lợi dụng khấu trừ theo tỷ lệ % trên giá mua đối với nông sản xuất khẩu để chiếm đoạt ngân sách nhà nước (NSNN) từ hoàn thuế GTGT
Giai đoạn 2003-2009: Trước tình hình diễn biến phức tạp của các hành vi gian lận về khấu trừ
thuế liên quan đến các trường hợp khấu trừ theo tỷ lệ % trên giá mua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2002/NĐ-CP ngày 25/12/2002, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2003, bãi bỏ toàn
bộ quy định khấu trừ theo tỷ lệ % trên giá mua đối với:
Hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng;
Hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của cơ sở sản xuất không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất sử dụng hoá đơn GTGT;
Hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến; đất, đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của người bán không có hoá đơn, có bảng kê;
Tiền bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thường bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thường của cơ sở kinh doanh bảo hiểm
Sau giai đoạn đầu triển khai với rất nhiều vướng mắc và khó khăn trong tổ chức thực hiện Luật
do lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam, nên chưa lường trước hết những vấn đề phát sinh với khoảng 200 văn bản hướng dẫn về thuế GTGT chỉ trong vòng hơn 3 năm tổ chức thực hiện Luật Thuế GTGT, đến năm 2003, Quốc hội thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, trong đó, có những nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng về khấu trừ thuế
Trên cơ sở đó, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành được ban hành và tổ chức thực hiện việc khấu trừ thuế theo hướng quản lý chặt chẽ hơn; đồng thời, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của người nộp thuế Cụ thể như:
- Bổ sung quy định giới hạn tối đa thời gian kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào là 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh, để tạo thuận lợi cho cơ sở kinh doanh được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong trường hợp bỏ sót chưa kê khai
Bổ sung các trường hợp hoàn thuế sau: (1) Cơ sở kinh doanh đầu tư mới, đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm trở lên được xét hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm; trường hợp cơ sở có số thuế GTGT của hàng hóa,
Trang 9dịch vụ sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo quý; (2) Hoàn thuế GTGT đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; (3) Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá tại Việt Nam
có thuế GTGT để viện trợ nhân đạo được hoàn lại số thuế GTGT đã trả trong giá mua hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho dự án; (4) Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam theo giá có thuế GTGT để sử dụng được hoàn lại số thuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT
Giai đoạn 2009-2013: Sau gần 10 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết kết quả đạt được và những
hạn chế, những nội dung không còn phù hợp điều kiện thực tiễn, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế GTGT (sửa đổi) số 13/2008/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009), với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng cả về phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế… trong đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng về khấu trừ thuế GTGT Cụ thể
bổ sung các quy định:
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ mà không phải phân bổ như thuế GTGT đầu vào sử dụng chung của các hàng hóa, dịch vụ khác;
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ toàn bộ
Thời hạn được kê khai khấu trừ khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với trường hợp thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót được kéo dài từ “3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh” thành “6 tháng kể từ thời điểm phát sinh sai sót”, để tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế trong điều chỉnh những sai sót về kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào
- Bổ sung điều kiện khấu trừ thuế GTGT là “Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng”, để góp phần ngăn chặn trường hợp tình trạng mua hóa đơn khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào nhằm gian lận thuế
Giai đoạn 2013-2016: Trong giai đoạn này, có một số thay đổi quan trọng về khấu trừ thuế
GTGT trên tinh thần tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của người nộp thuế, quản lý chặt chẽ hơn việc khấu trừ thuế và khắc phục những bất hợp lý phát sinh trong quản lý thuế GTGT, cụ thể:
Bãi bỏ quy định thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ Theo đó, trường hợp này cũng tổng hợp chung để phân bổ theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu
Trang 10Bãi bỏ quy định khống chế thời hạn kê khai, khấu trừ bổ sung tối đa 6 tháng kể từ thời điểm phát sinh sai sót Theo đó, cơ sở kinh doanh được kê khai bổ sung thuế GTGT đầu vào bị sai sót trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Cùng với quy định chuyển toàn bộ hộ, cá nhân kinh doanh sang áp dụng phương pháp trực tiếp trên GTGT, đối tượng được khấu trừ thuế GTGT không còn hộ, cá nhân kinh doanh Quy định này nhằm quản lý ngăn ngừa gian lận thuế GTGT từ nhóm đối tượng có rủi ro cao về gian lận khấu trừ thuế, đặc biệt là hành vi bán hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
- Thời gian xác định hoàn thuế GTGT đối với trường hợp cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có lũy kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ hết được tăng từ 3 tháng lên 12 tháng đối với cơ sở kinh doanh khai thuế GTGT theo tháng (hoặc 4 quý đối với cơ sở kinh doanh khai thuế GTGT theo quý), để giảm bớt thủ tục giải quyết hoàn thuế GTGT, giảm khả năng thuế GTGT đầu vào chỉ tạm thời chưa khấu trừ hết trong một thời gian nhất định, sau đó lại phát sinh
số thuế phải nộp
Giai đoạn 2016-2020: Việc khấu trừ thuế GTGT trong giai đoạn này đánh dấu những sửa đổi, bổ
sung quan trọng trong Luật số 106/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật Thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 Theo đó, đối tượng hoàn thuế GTGT được thu hẹp lại và bổ sung thêm các điều kiện và ràng buộc về hoàn thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và dự án đầu tư nhằm ngăn ngừa gian lận hoàn thuế GTGT Cụ thể:
Bãi bỏ quy định hoàn thuế GTGT đối với cơ sở nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có lũy kế số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên Những trường hợp có thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết thì chuyển sang khấu trừ vào kỳ tiếp theo
Bổ sung 2 trường hợp sau đây không được hoàn thuế khi xuất khẩu:
Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu;
Hàng hóa xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo Luật Hải quan
Bổ sung quy định số thuế GTGT được hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu chỉ tối đa bằng 10% doanh thu xuất khẩu hàng hóa
Sửa đổi quy định về hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư Theo đó, trong những trường hợp sau đây, cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà chuyển khấu trừ sang kỳ tiếp theo: