Cụ thể là việc giảng dạy tập trung vào bốn chế định: 1 Chế độ tạo lập và sử dụng vốn, tài sản doanh nghiệp; 2 Chế độ quản lí chi phí và giá thành; 3 Chế độ phân phối lợi nhuận doanh nghi
Trang 1TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n *
1 Đặt vấn đề
Pháp luật tài chính doanh nghiệp là một
bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật
doanh nghiệp Thông thường, trong chương
trình giảng dạy ở bậc đào tạo cử nhân luật,
các khoa luật của các trường đại học ở nhiều
nước trên thế giới thường không thiết kế vấn
đề này thành môn học luật riêng mà đưa vào
giảng dạy trong môn “luật công ti”.(1)
Môn luật công ti ở các nước phát triển
giảng dạy cho các cử nhân luật tương lai
thường đi sâu trang bị cho người học những
kiến thức pháp lí xoay quanh hai vấn đề
chính: một là quản trị công ti (corporate
governance) và hai là tài chính công ti
(corporate finance), mặc dù vậy các vấn đề
này không nhất thiết phải được bóc tách
thành những chương riêng trong nội dung
giảng dạy mà có thể được thiết kế đan xen
với nhau.(2) Chỉ ở bậc đào tạo sau đại học,
các môn học mới được thiết kế ở dạng
chuyên sâu, để đi vào những khía cạnh khác
nhau của ngành khoa học luật công ti Nói
cách khác, nội dung pháp luật tài chính công
ti, một bộ phận của môn luật công ti chỉ được
giảng dạy như môn học độc lập ở bậc đào tạo
sau đại học vì ở bậc đào tạo này, các môn học
luật được đưa vào giảng dạy thường đi sâu
nghiên cứu từng chuyên ngành hẹp trong
khoa học luật để cung cấp cho người học những kiến thức pháp lí chuyên sâu
Ở Việt Nam, cho mãi tới thời gian gần đây, pháp luật về tài chính doanh nghiệp vẫn thường được giảng dạy như một nội dung, một chương của môn học luật tài chính(3) trong chương trình đào tạo cử nhân luật; đồng thời nội dung giảng dạy về pháp luật tài chính doanh nghiệp cho chương trình đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam cũng rất khác so với nội dung tương ứng được giảng dạy tại nhiều nước trên thế giới Sau một vài cải cách chương trình giảng dạy luật ở bậc đại học ở nước ta, tới nay, pháp luật tài chính doanh nghiệp dường như không còn chỗ đứng trong chương trình giảng dạy
Bài viết này bàn về vị trí của pháp luật tài chính doanh nghiệp trong chương trình giảng dạy ở bậc đào tạo cử nhân luật; đồng thời xác định những nội dung chủ yếu của pháp luật tài chính doanh nghiệp cần đưa vào giảng dạy ở bậc đào tạo này trong thời gian tới
2 Nội dung giảng dạy về pháp luật tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam
Nội dung giảng dạy về pháp luật tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam trong nhiều
* Trung tâm luật so sánh Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2năm trước đây được thiết kế bám sát với nội
dung luật thực định Vì vậy, trừ một số kiến
thức nhằm trang bị cho người học lí thuyết
về tài chính doanh nghiệp và pháp luật tài
chính doanh nghiệp, đại bộ phận những kiến
thức còn lại được đưa vào giảng dạy gắn liền
với từng chế định của pháp luật tài chính
doanh nghiệp Cụ thể là việc giảng dạy tập
trung vào bốn chế định: 1) Chế độ tạo lập và
sử dụng vốn, tài sản doanh nghiệp; 2) Chế
độ quản lí chi phí và giá thành; 3) Chế độ
phân phối lợi nhuận doanh nghiệp; 4) Nghĩa
vụ tài chính của doanh nghiệp đối với nhà
nước.(4) Mặc dù mục đích giảng dạy pháp
luật tài chính doanh nghiệp là nhằm trang bị
kiến thức cho người học về các chế độ nói
trên nhưng nội dung giảng dạy cụ thể lại
được thiết kế theo hướng đi khá sâu vào việc
giảng giải những kiến thức về tài chính học
có liên quan tới “vốn”, “vốn cố định”, “vốn
lưu động”, cũng như vấn đề “tuần hoàn
vốn”… ở các doanh nghiệp Khía cạnh pháp
lí của những vấn đề này hầu như chỉ được đề
cập thoáng qua Có thể đơn cử một ví dụ về
nội dung giảng dạy “Chế độ tạo lập và sử
dụng vốn doanh nghiệp” với hai phần chính:
“Chế độ tạo lập vốn doanh nghiệp”; và “Chế
độ sử dụng và bảo toàn vốn doanh nghiệp”
để minh chứng cho nhận định trên.(5)
Nội dung giảng dạy “Chế độ tạo lập vốn
doanh nghiệp” trang bị cho người học những
kiến thức có liên quan tới các loại vốn của
doanh nghiệp và pháp luật điều chỉnh việc
hình thành từng loại vốn của doanh nghiệp
Hai loại vốn của doanh nghiệp được đưa vào
giảng dạy là vốn thuộc sở hữu chủ của doanh
nghiệp và vốn tín dụng Đối với vốn thuộc
sở hữu chủ nội dung giảng dạy chỉ dừng lại
ở việc chỉ ra nguồn vốn này do ai cấp (đối với doanh nghiệp nhà nước) hay ai đóng góp (đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh) Đối với vốn của doanh nghiệp hình thành bằng con đường tín dụng, nội dung giảng dạy cũng mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra các loại hình tín dụng như tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và tín dụng thông qua phát hành trái phiếu huy động vốn trên thị trường chứng khoán; có chăng kiến thức pháp lí được đưa vào nội dung giảng dạy ở đây cũng chỉ động chạm tới một vài điều kiện pháp lí cơ bản để doanh nghiệp thực hiện các loại hình tín dụng nói trên, nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn của doanh nghiệp trong kinh doanh
Nội dung giảng dạy “Chế độ sử dụng và bảo toàn vốn, tài sản doanh nghiệp” được kết cấu thành ba vấn đề nhỏ: 1) Chế độ sử dụng
và bảo toàn vốn cố định của doanh nghiệp; 2) Chế độ sử dụng và bảo toàn vốn lưu động của doanh nghiệp; 3) Vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp Trong mỗi vấn đề, dường như bài giảng đi sâu lí giải những kiến thức
về tài chính học đúng hơn là kiến thức khoa học pháp lí về sử dụng các loại vốn nói trên tại doanh nghiệp Ví dụ phần “Chế độ sử dụng và bảo toàn vốn cố định của doanh nghiệp” quá chú trọng vào việc phân biệt giữa “vốn cố đinh” và “tài sản cố định” và chỉ ra các loại tài sản cố định khác nhau như: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình… thay vì nhằm trang bị cho người học những kiến thức pháp lí có liên quan tới việc
Trang 3sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Có
lẽ, khía cạnh pháp lí của hoạt động sử dụng
vốn cố định trong doanh nghiệp chỉ được
lướt qua thông qua việc đề cập tới các biện
pháp bảo toàn và phát triển vốn cố định của
doanh nghiệp Cách thiết kế nội dung giảng
dạy đó rất có thể làm người học nhận thức
rằng các biện pháp bảo toàn và phát triển
vốn chỉ là phần bổ khuyết cho những nội
dung chính của chế độ sử dụng và bảo toàn
vốn cố định của doanh nghiệp mà nội dung
chính của chế độ này lại nằm trong những
vấn đề có liên quan tới khái niệm “vốn cố
định”, “tài sản cố định”… của doanh nghiệp
dưới góc độ tài chính học
Với nội dung giảng dạy như trên, người
học khó có thể hiểu được vấn đề cốt lõi của
pháp luật tài chính doanh nghiệp cũng như
những nguyên tắc mấu chốt của pháp luật tài
chính doanh nghiệp và tại sao lại phải điều
chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động tài
chính của doanh nghiệp
3 Kinh nghiệm giảng dạy pháp luật
tài chính doanh nghiệp ở một số nước
phát triển trên thế giới
Như đã đề cập, ở nhiều nước phát triển,
pháp luật về tài chính doanh nghiệp được
giảng dạy như một nội dung của môn học
luật công ti trong chương trình đào tạo cử
nhân luật Những vấn đề thuộc pháp luật tài
chính doanh nghiệp được giảng dạy không
dàn trải trên mọi lĩnh vực hoạt động tài chính
của các doanh nghiệp mà cũng không dàn
trải đối với mọi loại hình doanh nghiệp Nội
dung giảng dạy về pháp luật tài chính doanh
nghiệp chỉ tập trung vào những quy định của
pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính của công ti cổ phần đại chúng (gọi tắt là công ti đại chúng) bất kể công ti đó có niêm yết hay không Tại sao lại là công ti đại chúng? Vì đây là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở các nước phát triển, có một số ưu thế, xét về phương diện lợi ích của nhà đầu tư và của nhà nước, vì vậy đáng được khuyến khích thành lập và hoạt động
những công ti có nhiều sở hữu chủ (cổ đông) Chính đặc điểm này đã buộc các công ti đại chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh hoạt động công bố thông tin để các chủ sở hữu công ti nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ti Thực vậy, mặc dù có nhiều cổ đông nhưng chỉ một số cổ đông lớn của công ti có quyền trực tiếp tham gia vào quản lí công ti với tư cách là thành viên hội đồng quản trị; đại bộ phận các cổ đông của công ti là cổ đông vừa
và nhỏ chỉ có thể đưa ra tiếng nói của mình thông qua việc biểu quyết trong các phiên họp đại hội đồng cổ đông tổ chức định kì hàng năm (phiên họp bất thường chỉ được triệu tập trong những tình huống đặc biệt) Thực tế này đã làm cho các nhà đầu tư chỉ chấp nhận bỏ vốn góp cổ phần vào một công ti đại chúng nào đó khi công ti đảm bảo rằng các cổ đông tương lai của công ti nắm bắt được tình trạng sản xuất, kinh doanh và tình hình tài chính của công ti, từ
đó biết được liệu những quyền lợi mà mình được hưởng từ số cổ phần trong công ti mà mình sở hữu có thoả đáng hay không Như vậy, bản thân mô hình công ti đa chủ này đã
Trang 4đòi hỏi công ti phải công khai thông tin
Mặt khác, nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ
đông công ti nói riêng và công chúng đầu tư
nói chung, luật công ti và luật chứng khoán
của các nước đều quy định chế độ công bố
thông tin bắt buộc đối với công ti cổ phần,
đặc biệt là đối với công ti đại chúng để buộc
công ti này phải công khai minh bạch về
các hoạt động của công ti mà nhà đầu tư (kể
cả nhà đầu tư tiềm năng) có quyền biết
bố thông tin nghiêm ngặt, tự thân công ti
đại chúng đã phải minh bạch tình hình tài
chính của mình, từ đó, số lỗ và lãi của công
ti không còn là bí mật Vì lẽ đó, các công ti
đại chúng khó có thể trốn, tránh nghĩa vụ
nộp thuế thu nhập công ti, điều mà các
doanh nghiệp thành lập dưới những hình
thức khác như công ti trách nhiệm hữu hạn,
công ti hợp danh, doanh nghiệp tư nhân (là
những doanh nghiệp không phải tuân thủ
chế độ công bố thông tin nghiêm ngặt) rất
hay phạm phải
Vậy, có thể thấy công ti đại chúng là
loại hình doanh nghiệp có lợi cho bản thân
chủ sở hữu công ti, chủ nợ của công ti, cho
cộng đồng những nhà đầu tư tiềm năng và
cho cả nhà nước vì những quy định pháp
luật về minh bạch thông tin mà công ti
phải tuân thủ Để bảo vệ lợi ích của cộng
đồng các nhà đầu tư trên thị trường chứng
khoán cũng như lợi ích của nhà nước, pháp
luật các nước đều thắt chặt điều chỉnh hoạt
động tài chính của loại hình công ti này
Nói cách khác, nói đến pháp luật tài chính
doanh nghiệp là nói đến pháp luật điều
chỉnh hoạt động tài chính của các công ti đại chúng và vì vậy, giảng dạy pháp luật tài chính doanh nghiệp là giảng dạy về pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính của loại hình công ti này
Mục đích của việc giảng dạy pháp luật tài chính doanh nghiệp là nhằm giúp người học hiểu được về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, trang bị cho người học những kiến thức cần thiết để có thể lí giải được tại sao phải điều chỉnh bằng pháp luật và cần điều chỉnh bằng pháp luật như thế nào đối với những hoạt động này
Với mục đích đó, nội dung giảng dạy pháp luật tài chính doanh nghiệp ở nhiều nước được thiết kế tập trung vào một số điểm cốt yếu Một là trang bị kiến thức cho người học về các vấn đề: phân phối cổ phiếu của công ti; duy trì vốn và tăng, giảm vốn điều lệ trong công ti; cổ tức; quyền của các tầng lớp cổ đông khác nhau trong công ti gắn liền với số cổ phần của công ti mà họ đang
sở hữu Hai là trang bị kiến thức cho người học về tài trợ vốn cho doanh nghiệp qua con đường vay vốn; các loại vốn vay; hợp đồng vay vốn và thời hạn vay vốn; nợ có đảm bảo
và các biện pháp bảo đảm tiền vay Ba là trang bị kiến thức về những giao dịch nào có
sử dụng nguồn vốn lớn của công ti là giao dịch chính đáng và giao dịch nào là giao dịch tư lợi
Những kiến thức nói trên được phân bổ vào ba chủ đề chính giảng dạy trên lớp Chủ
đề thứ nhất là “Vốn cổ phần” được thiết kế xoay quanh một số nội dung như: 1) Cổ phiếu và vốn cổ phần; 2) Quyền của cổ đông
Trang 5gắn liền với số cổ phần mà cổ đông sở hữu;
3) Duy trì và tăng, giảm vốn điều lệ công ti;
4) Cổ tức
Chủ đề thứ hai là “Vốn vay” được thiết
kế xoay quanh một số nội dung như: 1) Các
hình thức vay vốn (các chứng từ nhận nợ;
chứng từ nhận nợ ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn; lãi suất); 2) Trách nhiệm của chủ thể
vay vốn
Chủ đề thứ ba là “Các giao dịch tư lợi”
được thiết kế xoay quanh những vấn đề như:
1) Công ti không được phép tham gia vào
những giao dịch nào; 2) giao dịch nào được
xem là giao dịch tư lợi (những giao dịch tiêu
tốn lượng vốn lớn của công ti nhưng chỉ đem
lại lợi ích cho giám đốc hoặc cổ đông lớn
của công ti đồng thời làm tổn hại lợi ích của
công ti) hay các tiêu chí để xác định giao
dịch tư lợi
Tuy nhiên, việc phân bổ các nội dung
như trên không phải là cách duy nhất để
truyền tải kiến thức cho người học mà có thể
có những cách bố cục khác Ví dụ chủ đề thứ
nhất và thứ hai có thể được đưa vào cùng
một chương nghiên cứu về “Cấu trúc vốn
của công ti” còn chủ đề thứ ba được giảng
lồng ghép vào Chương nghiên cứu về “Xung
đột lợi ích trong công ti”…(6)
Như vậy, rõ ràng nội dung giảng dạy
pháp luật tài chính doanh nghiệp hướng tới
việc trang bị cho người học những quy định
pháp luật về trách nhiệm của công ti trong
lĩnh vực hoạt động tài chính nhằm bảo vệ lợi
ích của bản thân công ti mà trực tiếp là lợi
ích của các cổ đông công ti và bảo vệ cả các
chủ nợ của công ti Đây là những đối tượng
cần được bảo vệ để xây dựng và củng cố lòng tin của họ trên thị trường chứng khoán
và thị trường tiền tệ Lí do là nếu làm mất lòng tin của các đối tượng này, hai thị trường nói trên sẽ phải đóng cửa và các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội không thể được khai thác để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nếu tình trạng này xảy ra, nền kinh tế sẽ trì trệ, kém phát triển do thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong khi đó, người có vốn nhàn rỗi cũng không thể đưa vốn vào đầu tư thu lời vì nguồn vốn đó không được pháp luật bảo vệ thoả đáng
4 Một vài bài học rút ra cho Việt Nam trong việc xác định vị trí và những nội dung chủ yếu của pháp luật tài chính doanh nghiệp trong chương trình đào tạo
cử nhân luật
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung mà
ở đó doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo và các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác chỉ đóng vai trò thứ yếu thì hai nguyên tắc xuyên suốt các quy định của pháp luật tài chính doanh nghiệp là: 1) bảo toàn và phát triển vốn; 2)
tự chủ tài chính Sở dĩ có điều đó vì doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp mà: (a) quyền sở hữu doanh nghiệp và quyền quản lí doanh nghiệp hoàn toàn tách bạch; (b) chủ sở hữu (Nhà nước) chỉ là chủ thể trừu tượng, còn người trực tiếp quản lí, điều hành hoạt động của doanh nghiệp (giám đốc) lại là những người làm công ăn lương; (c) doanh nghiệp kinh doanh có thua lỗ cũng không ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích vật
Trang 6chất của người quản lí doanh nghiệp Trong
điều kiện đó, yêu cầu bảo toàn và phát triển
vốn của doanh nghiệp cũng như yêu cầu
thực hiện quyền tự chủ tài chính doanh
nghiệp là những yêu cầu bức bách nhằm
đảm bảo vốn nhà nước đầu tư vào các doanh
nghiệp không những không bị thất thoát mà
còn phải được sử dụng hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường nói chung
và nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam nói riêng, vấn đề bảo
toàn và phát triển vốn doanh nghiệp cũng
như quyền tự chủ tài chính doanh nghiệp
không còn là vấn đề mà các nhà làm luật
phải quan tâm, lo lắng, thúc ép các doanh
nghiệp thực hiện Để khẳng định mình, để
có thể đứng vững trên thương trường mà
không bị phá sản, bản thân mỗi doanh
nghiệp đều phải tự ý thức được về tầm quan
trọng của việc bảo toàn và phát triển vốn
cũng như của quyền tự chủ tài chính trong
suốt quá trình kinh doanh Hơn nữa, tương
tự như ở nhiều nước có nền kinh tế thị
trường trên thế giới, trong thời gian sắp tới,
loại hình doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam sẽ bị thu hẹp dần và bị thay thế bằng
các loại hình công ti cổ phần và công ti
trách nhiệm hữu hạn trong đó công ti cổ
phần chiếm đa số.(7) Trong điều kiện đó, nội
dung của pháp luật tài chính doanh nghiệp
cũng phải có những thay đổi cơ bản do mục
đích điều chỉnh của pháp luật đã đổi thay
Các nhà làm luật thay vì chú trọng thiết kế
ra những quy định pháp luật buộc các doanh
nghiệp phải tự chủ trong suốt quá trình sử
dụng vốn vào hoạt động kinh doanh, để
buộc các doanh nghiệp phải hoạt động trên
cơ sở bảo toàn và phát triển vốn, nay cần nghiên cứu để đưa ra những quy định pháp luật có khả năng hướng các doanh nghiệp vào quỹ đạo hoạt động mới trong nền kinh
tế thị trường Một là cần xác định các điều kiện pháp lý áp dụng đối với các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ nhằm đảm bảo
an toàn cho các nhà đầu tư và các chủ nợ của doanh nghiệp Hai là cần định rõ các công cụ huy động vốn doanh nghiệp được
sử dụng (cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, chứng khoán chuyển đổi, các công cụ phái sinh…) sao cho có thể vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp vừa bảo đảm lợi ích của các nhà đầu tư Ba là cần qui định rõ cơ chế phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ thoả đáng lợi ích của các cổ đông, xét về phương diện hưởng lợi từ số tiền đã đầu tư vào các doanh nghiệp Bốn là cần có quy chế pháp
lí điều chỉnh việc tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của các cổ đông và các chủ nợ doanh nghiệp Năm là cần đề ra những giới hạn pháp lí trong lĩnh vực sử dụng vốn của doanh nghiệp để đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ không thể tham gia vào những giao dịch bất lợi cho bản thân doanh nghiệp và cho các cổ đông của doanh nghiệp
Sau khoảng một thập kỉ chuyển sang nền kinh tế thị trường, các nhà làm luật của Việt Nam cũng đã và đang từng bước đạt được những mục tiêu nói trên đặt ra đối với pháp luật tài chính doanh nghiệp trong hoạt
Trang 7động lập pháp; đã hướng pháp luật tài chính
doanh nghiệp vào đúng quỹ đạo, đáp ứng
nhu cầu điều chỉnh hoạt động tài chính của
các doanh nghiệp trong tình hình mới
Trước những mục tiêu mới đó của pháp luật
tài chính doanh nghiệp, hiển nhiên là nội
dung giảng dạy pháp luật về tài chính doanh
nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới
cũng phải được nghiên cứu cẩn trọng và
phải được xác định lại nhằm trang bị cho
người học nhận thức mới, cái nhìn mới về
vị trí và vai trò của pháp luật tài chính
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
nói chung và nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam nói riêng Kinh nghiệm của các nước
có nền kinh tế thị trường lâu đời trong việc
xây dựng chương trình và nội dung giảng
dạy pháp luật tài chính doanh nghiệp không
thể bỏ qua Với nhận thức đó, xin được đưa
ra một vài gợi mở về vị trí của “pháp luật
tài chính doanh nghiệp” trong chương trình
đào tạo cử nhân luật cũng như nội dung
giảng dạy mảng pháp luật này ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, về vị trí của pháp luật tài
chính doanh nghiệp trong chương trình đào
tạo cử nhân luật Mục đích đào tạo cử nhân
luật là nhằm trang bị những kiến thức khoa
học pháp lí cơ bản cho sinh viên chứ không
nhằm trang bị kiến thức pháp lí chuyên sâu
như ở bậc đào tạo sau đại học, “pháp luật
tài chính doanh nghiệp”, vì vậy, không nên
coi là môn học luật chuyên ngành mà chỉ
nên được giảng dạy như một nội dung trong
giảng dạy về luật doanh nghiệp Đề xuất
này không chỉ xuất phát từ kinh nghiệm
thiết kế chương trình giảng dạy luật và kinh nghiệm giảng dạy luật ở các nước tiên tiến
mà còn xuất phát từ thực tế đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam nói chung và ở Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng Trong vài năm gần đây, số lượng các môn học luật chuyên ngành mà sinh viên luật ở Việt Nam phải học đã và đang tăng lên nhanh chóng Thực
tế này làm cho sinh viên rơi vào tình trạng phải xoay vần trước những cơn lốc thi cử (thi hết môn) vào cuối mỗi học kì Đơn cử trước đây, bộ môn luật tài chính - ngân hàng chỉ tổ chức hai kì thi hết môn cho sinh viên (môn luật tài chính và môn luật ngân hàng) thì trong vài năm gần đây, mặc dù nội dung truyền tải cho sinh viên hầu như không thay đổi nhiều lắm về chất nhưng số lượng các cuộc thi hết môn mà sinh viên phải vượt qua đã tăng lên đến con số năm(8)
đó là chưa kể đến một số phân môn của luật ngân hàng giảng dạy cho khối sinh viên khoa pháp luật kinh tế Vấn đề đặt ra là liệu
có nên và có cần thiết phải trang bị cho các
cử nhân luật tương lai kiến thức về tất cả các loại luật thực định? Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy ở bậc đào tạo
cử nhân luật, chương trình giảng dạy chỉ nhằm trang bị cho người học những kiến thức về một số môn luật chuyên ngành cơ bản, có thể coi là môn gốc mà từ những kiến thức gốc đó, các tốt nghiệp sinh có thể
tự mình nghiên cứu để lĩnh hội, nắm bắt được những phân nhánh của các ngành khoa học pháp lí cội rễ này Ví dụ: các môn luật chuyên ngành thường được đưa vào giảng dạy ở bậc cử nhân luật ở nhiều nước
Trang 8phát triển gồm: Luật hiến pháp, luật hành
chính, luật hình sự và tố tụng hình sự, giải
quyết tranh chấp, luật dân sự (có quốc gia
chia nhỏ luật dân sự thành luật nghĩa vụ,
luật sở hữu, luật tín thác, luật về bồi
thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng)
và tố tụng dân sự, luật công ti, luật đất đai,
luật gia đình và luật quốc tế; các môn học
luật còn lại đều là môn tự chọn.(9) Nhìn vào
chương trình giảng dạy các môn luật
chuyên ngành ở các nước phát triển có thể
thấy mục đích đào tạo luật ở các nước là
trang bị những nguyên lí chung cho sinh
viên và rèn giũa khả năng tư duy sáng tạo,
tự học và tự nghiên cứu cho người học chứ
không nhất thiết là phải trang bị cho người
học kiến thức về hầu hết những ngành luật
hiện hữu của quốc gia Kết quả là các cử
nhân luật ở các nước này vẫn có khả năng
vận dụng tốt vào công việc hàng ngày các
kiến thức khoa học pháp lí đã được trang bị
khi còn ngồi trên ghế nhà trường và thậm
chí cả những kiến thức mà họ tự nghiên
cứu, lĩnh hội sau khi đã tốt nghiệp Như
vậy, thiết nghĩ đã đến lúc cần phải suy nghĩ
một cách nghiêm túc về việc xây dựng và
hoàn thiện chương trình đào tạo cử nhân
luật nói chung cũng như xác định vị trí của
“pháp luật tài chính doanh nghiệp” nói
riêng trong chương trình đào tạo cử nhân
luật ở Việt Nam hiện nay
Cái khó trong việc hiện thực hoá đề xuất
này là ở chỗ, hiện trong chương trình đào tạo
cử nhân luật ở Việt Nam không có môn “luật
doanh nghiệp” độc lập Bản thân “luật doanh
nghiệp” cũng chỉ được giảng dạy như một
nội dung của môn “luật thương mại” Vì vậy
để đưa được pháp luật tài chính doanh nghiệp vào giảng dạy trong môn “luật doanh nghiệp”, có lẽ cần có sự nghiên cứu, xem xét tổng thể, để thiết kế lại một cách toàn diện các môn học luật, cả môn bắt buộc và tự chọn Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực của các nhà khoa học luật, vì vậy giải pháp nói trên khó
có thể là giải pháp trước mắt mà có lẽ, sẽ là giải pháp cho tương lai
Thứ hai, nội dung giảng dạy “pháp luật tài chính doanh nghiệp” cũng cần phải có sự thay đổi đáng kể cho phù hợp với mục đích
và yêu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Một số nội dung chủ yếu cần đưa vào giảng dạy gồm:
Một là, “Chế độ huy động vốn bằng phát hành cổ phần của doanh nghiệp” Nội dung này phải nhằm trang bị cho người học một
số kiến thức về: 1) Cổ phần, cổ phiếu và các loại cổ phần theo quy định pháp luật; ý nghĩa
và vai trò của từng loại cổ phần; 2) Huy động vốn bằng phát hành cổ phần gồm: điều kiện huy động vốn, phương thức huy động vốn; ý nghĩa và vai trò của phát hành cổ phiếu lần đầu và phát hành thêm cổ phiếu; 3) Điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc nắm giữ cổ phiếu của cổ đông sáng lập
Hai là, “Chế độ tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp” Nội dung này phải giúp người học hiểu được một số vấn đề: 1) Mục đích của việc duy trì vốn điều lệ của doanh nghiệp; 2) Hệ quả của việc tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp; 3) Điều kiện tăng,
Trang 9giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp; 4) Cách
thức tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp
Ba là, “Chế độ huy động vốn bằng phát
hành trái phiếu doanh nghiệp và bằng các
hình thức vay vốn khác” Nội dung này cần
trang bị cho người học một số kiến thức về:
1) Các hình thức huy động vốn nợ của doanh
nghiệp; 2) Các loại trái phiếu doanh nghiệp
được phép phát hành và các loại hợp đồng
doanh nghiệp có thể giao kết để vay vốn; 3)
Thẩm quyền quyết định việc phát hành trái
phiếu; 4) Điều kiện và phương thức phát
hành trái phiếu
Bốn là, “Điều chỉnh bằng pháp luật đối
với các giao dịch của doanh nghiệp có giá trị
lớn” Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật
không cần điều chỉnh toàn bộ hoạt động sử
dụng vốn của doanh nghiệp để hướng các
doanh nghiệp vào quỹ đạo bảo toàn và phát
triển vốn vì lí do đã phân tích ở trên mà pháp
luật chỉ cần quy định sao cho có thể hạn chế
tới mức tối đa khả năng doanh nghiệp tham
gia vào những giao dịch tư lợi, làm tổn hại
lợi ích của doanh nghiệp nói chung và của
các cổ đông nhỏ nói riêng Vì vậy nội dung
bài giảng cần làm rõ những điều kiện pháp lí
nào doanh nghiệp cần thoả mãn để được
tham gia vào những giao dịch có giá trị lớn
(tiêu tốn một tỉ lệ phần trăm nhất định của
vốn điều lệ); ai là người có thẩm quyền
quyết định những giao dịch có giá trị lớn
doanh nghiệp được phép tham gia…
Năm là, “Điều chỉnh bằng pháp luật đối
với hoạt động chi trả cổ tức và trả lãi của
doanh nghiệp” Trong nền kinh tế thị
trường, lợi nhuận của doanh nghiệp cần
được phân phối ra sao và phải được phân bổ vào những quỹ nào để phục vụ cho mục đích tái sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh… không còn là vấn đề nhà nước phải quan tâm và phải điều chỉnh bằng pháp luật Tự bản thân các doanh nghiệp phải trăn trở về những vấn đề này nếu muốn đứng vững trên thương trường Trong lĩnh vực phân phối lợi nhuận, cái mà các nhà làm luật cần để tâm là đưa ra một nguyên tắc phân chia cổ tức và lãi như thế nào đó để bảo vệ thoả đáng lợi ích của các
cổ đông và các chủ nợ của doanh nghiệp Đây là những chủ thể có vốn đầu tư vào doanh nghiệp nhưng lại không có quyền trực tiếp tham gia vào quá trình quản lí, điều hành doanh nghiệp, không nắm bắt được một cách cụ thể các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tuy nhiên họ lại là những người có quyền được hưởng lợi thoả đáng từ đồng vốn mà họ đã
bỏ ra và đầu tư vào doanh nghiệp dưới hình thức vốn cổ phần hoặc vốn nợ
Tuy nhiên, không nhất thiết phải thiết
kế năm vấn đề trên thành năm chương độc lập trong môn học luật mà có thể chia thành hai chương: 1) “Pháp luật điều chỉnh cấu trúc vốn của doanh nghiệp”: nghiên cứu các vấn đề về “vốn cổ phần”, “vốn nợ” và
“tăng, giảm vốn điều lệ của doanh nghiệp”; 2) “Pháp luật điều chỉnh xung đột lợi ích trong doanh nghiệp”: nghiên cứu các vấn đề
về “chia cổ tức, chia lãi trong doanh nghiệp” và “giao dịch tư lợi” Hoặc trường hợp đưa “pháp luật tài chính doanh nghiệp” vào giảng dạy như những nội dung của môn
Trang 10“luật doanh nghiệp” thì có thể lồng ghép
vào các chương nghiên cứu về “thành lập
doanh nghiệp” (giải quyết cả vấn đề huy
động vốn) và về “cổ đông” (giải quyết cả
vấn đề cổ tức; tăng, giảm vốn điều lệ; và
giao dịch tư lợi) (10)
Trên đây là một vài ý kiến mà người viết
mạo muội đưa ra nhằm xác định lại vị trí của
pháp luật tài chính doanh nghiệp trong
chương trình giảng dạy luật ở bậc đào tạo cử
nhân luật cũng như nhằm góp phần hoàn
thiện nội dung giảng dạy mảng pháp luật này
cho các cử nhân luật tương lai ở Việt Nam
Trong điều kiện Việt Nam đã bước sang giai
đoạn mới, giai đoạn xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa và với nhận thức rằng mục
tiêu đào tạo luật cần phải phục vụ thiết thực
cho yêu cầu và nhiệm vụ đang đổi thay của
nền kinh tế và của toàn xã hội, thiết nghĩ cần
cân nhắc và nghiên cứu một cách nghiêm túc
để có hướng đi thích hợp trong quá trình
hoàn thiện chương trình giảng dạy, trước
mắt là ở bậc đào tạo cử nhân luật, tại các cơ
sở đào tạo luật ở nước ta./
(1).Xem: Robert Charles Clark, “Corporate Law”,
Aspen Law & Business, 1986; Robert W Hamilton,
“The Law of corporations in A Nutshell”, Westgroup,
2000; và Harry G Henn, John, R Alexander, “Laws
of Corporations”, West Publishing Company, 1983…
(2).Xem: Robert Charles Clark (Sđd), Robert W
Hamilton (Sđd), và Harry G Henn, John, R
Alexander (Sđd) Cùng một chương của giáo trình có
thể giải quyết cả vấn đề “quản trị công ti” và “tài
chính công ti ”… Ví dụ: Chương nghiên cứu về “cổ
đông”, ngoài việc giải quyết những vấn đề liên quan
tới quyền bỏ phiếu của cổ đông còn bao quát cả
quyền hưởng cổ tức và quyền mua thêm cổ phiếu của
cổ đông khi công ti tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu…
(3) Cái được gọi là môn học “Luật tài chính” ở Việt Nam, cho mãi tới thời gian gần đây, vẫn bao hàm một nội dung rất rộng, giải quyết cả pháp luật điều chỉnh tài chính công và pháp luật điều chỉnh tài chính tư Cụ thể, trong rất nhiều năm, môn học này đã được giảng dạy ở Trường Đại học Luật Hà Nội với chín chương, trừ Chương I là chương cung cấp những kiến thức khoa học pháp lí cơ bản về Luật tài chính Việt Nam,
từ Chương II đến Chương IX lần lượt cung cấp kiến thức khoa học pháp lí cho người học về các vấn đề: 1) Khái niệm pháp luật ngân sách nhà nước (NSNN), chế độ pháp lí về phân cấp, lập, chấp hành, quyết toán NSNN; 2) Khái niệm pháp luật thu NSNN, chế độ pháp lí các khoản thu NSNN; 3) Khái niệm pháp luật
về chi NSNN, chế độ pháp lí các khoản chi NSNN; 4) Chế độ quản lí quỹ NSNN; 5) Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp; 6) Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; 7) Pháp luật về thị trường tài chính; 8) Chế độ thanh tra tài chính
Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình luật tài
chính Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, H, năm 2004
(4).Xem: Chương VI, “Giáo trình luật tài chính Việt
Nam”, Sđd, tr.243 - 272
(5).Xem: “Giáo trình luật tài chính Việt Nam”, Sđd,
tr 246 - 261
(6).Xem: Robert W Hamilton, Sđd, at 163 - 227 và Harry G Henn, John, R Alexander (Sđd) at 154 - 463 (7).Xem: Luật doanh nghiệp năm 2005, Điều 166 (8) Chỉ riêng trong lĩnh vực pháp luật tài chính và ngân hàng, các môn sinh viên phải thi hiện nay gồm Luật ngân sách nhà nước, Luật thuế, Luật chứng khoán, Luật kinh doanh bảo hiểm, và Luật ngân hàng (9).Xem: “Compulsory Subjects - 2007” Melbourne University, Australia http://undergraduate.law.unimelb.edu.au/; LLB Curriculum at Faculty of Law, University of Alberta, Canada; http://www.law.ualberta.ca/; “Courses Summary for Law”, Oxford Law: http://www.ox.ac.uk/; “Course Outline”, Cambridge Law School: http://www.cam.ac.uk/ (10) Khi soạn thảo giáo trình luật doanh nghiệp sau này, cần tham khảo thêm kinh nghiệm thiết kế nội dung giáo trình luật công ti của các nước phát triển